Ngân hàng ngồi khóc tỉ ti - Tiền ơi tiền hỡi mày đi đường nào!?! - Diễn đàn X-cafe
Diễn đàn X-Cafe


Ngân hàng ngồi khóc tỉ ti - Tiền ơi tiền hỡi mày đi đường nào!?!


FLIPPERS – Tổng hợp từ các báo trong nước.
Trong bài “Khủng hoảng thanh khoản và những giải pháp ngắn hạn”, tác giả Nguyễn An Nguyên đã nêu: “Khủng hoảng thanh khoản của hệ thống ngân hàng xảy ra khi vì một lý do nào đó, các ngân hàng thương mại không còn tiền mặt để cho vay và trả nợ đến hạn, mà không vay được trên liên ngân hàng. Khủng hoảng thanh khoản thường là hệ quả đi kèm của một khủng hoảng nợ xảy ra trước đó, nhưng đôi khi là hậu quả của việc thắt chặt tiền tệ quá đột ngột”.

Ngân hàng thiếu tiền mặt! Chuyện tưởng chừng vô lý nhưng lại đang diễn ra, không chỉ trong những ngày qua mà trước đó đã hàng tháng. Ngược lại thời gian vào đầu năm 2008, Thị trường liên ngân hàng mở phiên đầu năm với lãi suất VNĐ qua đêm (over night) nhẹ nhàng ở mức 6,52%. Nhưng chỉ chưa đầy một tháng sau đó, lãi suất này đã tăng vọt gấp 4 lần, gây “sốc” đối với những ngân hàng cần vốn và có thể cả với các nhà điều hành chính sách tiền tệ. Khi mà nhu cầu vốn của các ngân hàng thương mại tăng dần khi Tết Âm lịch đang dần đến (nhu cầu rút tiền gởi của nhân dân để chi tiêu, doanh nghiệp cần vốn để tích trữ hàng hoá…), lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng cũng theo đó tăng cao. Ngày 30-1-2008 đánh dấu một sự đột biến về lãi suất liên ngân hàng, từ mức chỉ 10,86% (29-1) vọt lên 20% (phá kỷ lục trước đó 17% vào ngày 21-11-2007), và đỉnh điểm có lúc lên tới 27% - chưa từng có trong lịch sử tiền tệ Việt Nam.

Trước khó khăn về vốn VNĐ và tính thanh khoản bị ảnh hưởng, ngày 15-2 vài ngân hàng phải ngừng toàn bộ các khoản cho vay, “bịt” đầu ra, “không giải ngân dù chỉ một đồng”. Có trường hợp phải dùng kế hoãn binh, khất khách hàng rút tiền đến thứ Hai tuần tới, ngay cả trường hợp vay vốn có thế chấp bằng chính sổ tiết kiệm cũng không được chấp thuận ; lãi suất vay vốn qua thương lượng lên đến 1,7%/tháng, tương đương với 20,4%/năm.

Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng bị đẩy lên quá cao xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Ngân hàng Nhà nước chủ trương thắt chặt tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát bằng việc tăng dự trữ bắt buộc – Đồng loạt tăng các lãi suất chủ chốt - Cầu VNĐ tăng mạnh vào cuối năm - Vốn khả dụng của nhiều ngân hàng “buộc” phải giải ngân mạnh (cho vay) cuối năm 2007 để tăng tổng dư nợ cho khớp với Chỉ thị 03 của NHNN - Vốn VNĐ để mua ngoại tệ, mua tín phiếu bắt buộc tổng trị giá 20.300 tỷ đồng vào ngày 17/3 tới…

a- Tín dụng Việt Nam tăng trưởng quá cao:

Các định chế tài chính quốc tế không ít hơn một lần khuyến nghị chính phủ VN xem xét lại mức tăng trưởng tín dụng quá cao, xem đó như một nguy cơ tiềm ẩn trong điều hành chính sách vĩ mô. Tại hội nghị các nhà tư vấn cho VN diễn ra tại Hà Nội vào ngày 6 và 7-12-2007, ông Shogo Ishii trợ lý vụ trưởng Vụ châu Á TBD của IMF cho biết : “IMF khuyến nghị các nhà chức trách VN nên kiềm chế tăng trưởng tín dụng bằng cách thắt chặt các điều kiện tiền tệ và tăng cường giám sát các ngân hàng về an toàn, đặc biệt là các ngân hàng cổ phần có tốc độ tăng trưởng cho vay tín dụng đặc biệt cao”.

Năm 2007, tăng trưởng tín dụng trong toàn hệ thống ngân hàng lên 38,7% so với năm 2006. Thông tin từ WB cho ta thấy mức tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã được kiềm chế trong những năm 2000 và đột biến trong năm 2004, năm đó tăng trưởng tín dụng lên đến 41,5%, kéo theo lạm phát nóng bỏng tới 9,5%. Mức tăng trưởng tín dụng qua các năm như sau :

Năm 2000: tăng trưởng tín dụng 38,1%.
Năm 2001: tăng trưởng tín dụng 21,4%.
Năm 2002: tăng trưởng tín dụng 22,2%.
Năm 2003: tăng trưởng tín dụng 28,4%.
Năm 2004: tăng trưởng tín dụng 41,5% (năm có lạm phát đột biến).
Năm 2005: tăng trưởng tín dụng 19,2%.
Năm 2006: tăng trưởng tín dụng 21,4%.


So với những năm gần đây, mức tăng của năm 2007 càng đáng lo ngại vì có dấu hiệu bất thường dẫn đến nhiều hệ luỵ, tuy chưa được kiểm chứng trong thực tế nhưng có thể sẽ gây hậu quả lâu dài. Hệ luỵ đó là: một khi tăng trưởng tín dụng quá cao sẽ dẫn đến chất lượng cho vay có thể bị ảnh hưởng. Theo theo tiêu chuẩn phân loại nợ xấu mới của NHNN - tiếp cận dần với tiêu chuẩn quốc tế - tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2007 chỉ trên dưới 1%, một số thành viên gần 2%, với khối NH quốc doanh con số này xoay quanh mức 3%. Một hệ luỵ khác cũng cần được đề cập đến là vấn đề dự báo và tầm nhìn của các nhà điều hành chính sách tiền tệ. Theo dự kiến ban đầu, năm 2007 tăng trưởng tín dụng vào khoảng 20%, nhưng cuối năm con số này là gấp đôi, điều này khiến chúng ta hoài nghi về khả năng dự báo và sự chủ động trong điều hành của các cơ quan nhà nước. Ngoài ra, việc tăng trưởng tín dụng quá cao cũng kéo theo tăng cung tiền trong lưu thông, đẩy tỉ lệ lạm phát lên cao, đó là điều mọi người dân đều quan tâm và lo ngại, không riêng gì của các nhà điều hành chính sách tiền tệ.

Điều đáng chú ý là: một nguyên nhân khiến tăng trưởng tín dụng của các NH thương mại tăng cao là tác động của Chỉ thị 03 của Ngân hàng Nhà nước (cuối tháng 5-2007) về hạn chế cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán. Chính áp lực của Chỉ thị 03 đã buộc những ngân hàng thương mại cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán quá nhiều trước đó, phải tăng cường cho vay các đối tượng khác để nâng mẫu số tổng dư nợ chung, làm sao cho dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán ở hạn mức 3% tổng dư nợ cho vay. Lãnh đạo một ngân hàng cổ phần đã không ngần ngại khi tuyên bố buộc phải nâng cao tổng dư nợ như một giải pháp đối phó với Chỉ thị 03. Với cách đối phó trên, chúng ta ví dụ : một ngân hàng đầu năm đưa ra tổng dư nợ dự kiến năm nay là 10.000 tỷ đồng. Dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán 600 tỷ đồng và không thể giảm xuống. Tổng dư nợ buộc phải nâng lên ít nhất là 20.000 tỷ đồng, vượt xa cả dự kiến đầu năm và có thể ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.

Ngoài ra, trong cả năm 2007 mức tăng trưởng tiền gửi cao (hơn 50%) ở cả khối ngân hàng quốc doanh lẫn cổ phần, cũng là 1 áp lực khiến tăng trưởng tín dụng tăng cao. Tại thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất và sôi động nhất cả nước, tính đến hết tháng 10-2007, tổng nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 437.000 tỷ đồng, tăng 53% so với cuối năm 2006 và tăng tới 73% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng lớn nhất từ trước tới nay.

Tất nhiên cũng phải kể đến 1 nguyên nhân và lý do khả dĩ “bào chữa” cho việc tăng trưởng tín dụng là : chính sách tiền tệ còn phải phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng Kinh tế mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

b- Tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, thắt chặt tiền tệ:

Ngân hàng thế giới (WB) cũng nhận định về tăng trưởng tín dụng quá cao tại VN như sau : “Mức tăng trưởng tín dụng nhanh như vậy khiến người ta không khỏi lo ngại về chất lượng các khoản vay”. Để cắt giảm mức tăng trưởng “nóng” này, WB đã đưa ra khuyến nghị: “công cụ chính để cắt giảm mức tăng trưởng tín dụng được sử dụng đến là tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc”.

Trước độ nở của tiền tệ (tăng trưởng tín dụng), sức ép của lạm pháp và lo ngại những rủi ro về chất lượng các khoản vay… Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 1141/QĐ-NHNN ngày 30-5-2007, điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng. Theo quyết định này, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng bằng VNĐ đối với ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính… từ 5% lên 10% (tăng gấp đôi). Riêng đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank), tỷ lệ trên là 8% tính trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc. Trong lần tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho rằng “việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng giống như việc Ngân hàng Nhà nước thay cái má phanh cũ bằng một má phanh mới để có thể nhạy hơn trong việc kiểm soát độ nở của tiền tệ (tăng trưởng tín dụng)”. Động thái mạnh mẽ này của NHNN nhằm rút tiền mặt ra khỏi lưu thông, vì trước đó một lượng tiền lớn đã được bơm ra để mua vào 7 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm.

+ Với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%, ngân hàng cho vay sẽ phải giữ lại 100 đồng cho mỗi 1.000 đồng khách hàng gửi vào. Với 900 đồng còn lại ngân hàng sẽ cho vay, nơi vay này có thể gởi tiền vào ngân hàng khác, ngân hàng này lại phải giữ 90 đồng làm dự trữ bắt buộc và cho vay 810 đồng còn lại. Cứ thế, 1.000 đồng ban đầu sẽ “nở” ra thành gần 10.000 đồng lưu thông trong nền kinh tế (gọi là số nhân tiền tệ, ở VN hiện nay khoảng 4.1). Chính vì thế, nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 5% lên 10% chẳng hạn, cũng có nghĩa ngân hàng phải đưa thêm tiền vào dự trữ mà nó còn làm giảm lượng tiền lưu thông được khuếch đại như trình bày ở trên.

Trong lần điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc này, các lãi suất chủ đạo như lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu vẫn được Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên. Lẽ ra các lãi suất chủ đạo cần phải được điều chỉnh kịp thời vào thời điểm đó, nhằm hạn chế hiện tượng “giá vốn quá rẻ”. Chính hiện trạng “vốn quá rẻ” này kích thích các nhà đầu tư phóng tay vay tiền, đầu tư vào địa ốc và chứng khoán (những lĩnh vực đang sinh lợi cao), tạo điều kiện cho tăng trưởng tín dụng không giảm và tiếp tục tăng, làm độ “nở” tiền tệ càng lớn. Để hạn chế tín dụng và rủi ro của các khoản vay chứng khoán, NHNN ban hành chỉ thị số 3 buộc các ngân hàng phải giảm dư nợ, hạn chế cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán xuống dưới mức 3%. Nhưng mặt trái của Chỉ thị này đã tác động tiêu cực đến tăng trưởng tín dụng như đã trình bày bên trên. Điều đáng ghi nhận là từ cuối tháng 7-2007, lãi suất qua đêm tại thị trường liên ngân hàng rơi tự do, xuống chỉ còn 3,5 đến 4% năm.

Tuy nhiên, tín hiệu lạc quan của thị trường liên NH không được duy trì lâu. Từ ngày 15 đến 19-11-2007 đã xảy ra sự cố ngoài dự báo của các ngân hàng thương mại và Ngân hàng Nhà nước. Trong vòng một tuần, các tập đoàn kinh tế lớn của NN đã di chuyển vốn khoảng 7.200 tỷ đồng, làm cho các ngân hàng thương mại bị thiếu vốn khả dụng, đẩy lãi suất tiền đồng trên thị trường liên ngân hàng tăng cao (phát biểu của Thống đốc NHNN). Nhu cầu tiền đồng của các NH thương mại tăng vọt lên khiến NHNN nhảy vào cuộc, bơm thêm hơn 10.000 tỉ đồng vào lưu thông, lãi suất liên ngân hàng từ 17% năm hạ xuống còn 8% năm. Trước đó, các NH thương mại đồng loạt mở một cuộc chạy đua lãi suất tiền gởi (tạm gọi là cuộc đua lãi suất lần thứ nhất, lần thứ nhì là trong tháng 2-2008 mới đây), và NHNN lúc này (ngày 30-1-2008) mới thông báo điều chỉnh lãi suất chủ đạo: lãi suất cơ bản từ 8,25% năm tăng lên 8,75% năm (tăng 0,5% năm); lãi suất tái cấp vốn từ 6,5% năm tăng lên 7,5% năm (tăng 1% năm) ; lãi suất chiết khấu từ 4,5% năm tăng lên 6% năm (tăng 1,5% năm). Cùng ngày, NHNN bơm thêm 12.000 tỉ đồng vào lưu thông nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Chỉ một ngày sau, NHNN lại tiếp tục bơm thêm 15.000 tỉ đồng vào lưu thông với thời hạn thu về là 14 ngày. Thời điểm này, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục nhập cuộc, vừa hỗ trợ vốn cho các NH thương mại, đồng thời cũng thực hiện các biện pháp hút tiền về đảm bảo tổng phương tiện thanh toán ổn định. Điểm đáng chú ý là thông tin từ lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cho biết tổng phương tiện thanh toán vẫn chưa đến “trần” cho phép (chỉ có trời mới biết tổng số Mo của VN là bao nhiêu), vẫn còn khả năng cung VNĐ ra thị trường.

Trước Tết Âm Lịch, các ngân hàng thương mại đã tăng cường cho vay đáng kể. Sau Tết Âm Lịch, trong khi các dòng tiền tín dụng chưa kịp quay về, nhu cầu về tiền đồng trong ngân hàng thương mại chưa có dấu hiệu bớt căng thẳng, NHNN - làm nhiệm vụ “trái tim” bơm và hút tiền của cơ thể nền kinh tế - lại ra thông báo (ngày 13-2) sẽ phát hành tín phiếu bắt buộc tổng trị giá 20.300 tỷ đồng vào ngày 17/3. Cũng trong thời gian này, NHNN ra thông báo nâng tỉ lệ dự trữ bắt buộc lên thêm 1% cho tất cả các loại tiền gởi. Cùng một lúc các biện pháp kiềm chế lạm pháp bằng biện pháp thắt chặt tiền tệ do NHNN đưa ra dồn dập, sự “mạnh tay” của NHNN đã đẩy tính thanh khoản của một số ngân hàng thương mại lâm vào tình thế khó khăn. Những NH đó không còn giải pháp nào khác hơn giải pháp hút tiền đồng từ trong nhân dân, từ đây nảy sinh cuộc chạy đua lãi suất tiền gởi lần thứ hai giữa các NH thương mại. Trong cuộc chạy đua lãi suất này, một số NH đã đẩy lãi suất tiền gởi lên đến 14,4% năm (SeABank), 14,2% năm (Techcombank)… các NH liên tục điều chỉnh lãi suất tiền gởi, thậm chí có ngân hàng thay đổi lãi suất đến ba lần trong một tuần. Đứng trước sự nguy hiểm của mặt bằng lãi suất tiền gởi bị “lồi lõm” trong nền kinh tế, ngày 26/2/2008, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có công điện khẩn gửi chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc các ngân hàng thương mại về việc điều chỉnh lãi suất huy động vốn. Theo đó lãi suất tiết kiệm của các ngân hàng phải đảm bảo dương so với lạm phát nhưng không được quá trần 12%/năm. Việc ấn định trần lãi suất huy động là nhằm chấm dứt tình trạng tiền chạy lòng vòng từ ngân hàng này qua ngân hàng khác, nơi có lãi suất tiền gửi cao hơn.

Chính sức hấp dẫn của lãi suất tiền gởi mới tạo ra được lực hút tiền đồng trong nhân dân vào ngân hàng, giải quyết được tình trạng khủng hoảng thanh khoản của các NH thương mại, rút bớt tiền mặt trong lưu thông. Từ đầu tháng 8-2007, ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tăng cường chào bán tín phiếu qua thị trường mở nhằm hút tiền từ lưu thông về. Lãi suất tín phiếu cụ thể (%/năm) ở các kỳ hạn như sau: 28 ngày : 3,5; 56 ngày : 4,75 ; 84 ngày : 6,5 ; 182 ngày : 7,5 ; 364 ngày : 7,75. Nếu so sánh với lãi suất tiền gởi, thì tín phiếu có lãi suất quá thấp. Điều đó có nghĩa, nếu ngân hàng bỏ tiền mua tín phiếu, đồng nghĩa với việc “mua cao, bán thấp” và lỗ vốn. Vì thế, nhiều NH thương mại chỉ mua trái phiếu NHNN để giảm thiểu rủi ro, chứ chưa “mặn mà” với tín phiếu vì lãi suất không hấp dẫn. Tuy NHNN không công bố số lượng tiền cụ thể được hút về từ việc bán tín phiếu là bao nhiêu, nhưng với việc lạm phát “bùng nổ” cuối năm 2007, ta có thể đi đến nhận định : việc hút tiền về qua kênh thị trường mở, qua phát hành trái phiếu, tín phiếu của NHNN đã không mang đến hiệu quả. Có lẽ trong những ngày sắp tới, NHNN sẽ điều chỉnh mức mức lãi suất trái phiếu và tín phiếu trong thị trường mở để tăng lực hút tiền ra khỏi lưu thông.

Suy ngẫm
Đừng tự hào vì nước Việt Nam nghèo nhưng có lắm người giỏi. Hãy tự hỏi vì sao lắm người giỏi mà Việt Nam vẫn nghèo?
Từ Song of Hope's blog
Danh sách Top 10


Ủng hộ X-cafe
Nhập vào số tiền bạn muốn ủng hộ và nhấn nút Paypal Donate:
$