Hiện tượng Đô La Hóa trong nền kinh tế Việt Nam
Fillipers
Từ ngày 7-11-2007, Việt Nam chính thức là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO, cánh cửa mở ra thế giới của VN đã được mở toan, đưa nền kinh tế VN hội nhập với kinh tế quốc tế với tốc độ nhanh hơn, mức độ lớn hơn. Song cũng trong 1 năm qua, một vấn đề lớn mà chính phủ Việt Nam đang phải “đối mặt”, đó là cách xử lý các nguồn vốn ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào Việt Nam với khối lượng rất lớn và ồ ạt. Hàng loạt vấn đề trong cách xử lý vấn đề trên phải được giải quyết : Làm sao để giảm hiện tượng Đô La hoá trong hệ thống tiền tệ trong nước ? Cơ chế điều hành tỷ giá sẽ như thế nào, để tác động vào cung cầu USD sao cho có lợi nhất đối với nền kinh tế ? Khả năng hấp thụ vốn đầu tư nước ngoài của nền kinh tế Việt Nam…
Bài viết này sẽ lần lượt trình bày 3 vấn đề có tính cấp bách trên, trong cách xử lý các nguồn vốn nước ngoài đang ồ ạt chảy vào trong nước. Dòng nước lũ của vốn ngoại đó sẽ là phù sa hay bùn đất (theo cách nói của báo TT), tuỳ thuộc vào cách xử lý của những nhà điều hành chính sách kinh tế - tiền tệ tại VN.
Nếu bạn là người trong nước hay là khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam, bạn đi từ TP. HCM ra thăm thắng cảnh vịnh Hạ Long, bạn cần chi tiêu khoảng 30 triệu đồng thì bạn cần phải mang 60 tờ 500.000 hoặc 150 tờ 200.000, nếu muốn “dày túi hơn” bạn phải mang 300 tờ 100.000. Nhưng nếu mang USD bạn chỉ cần khoảng 20 tờ 100USD, với đồng Euro bạn còn “xẹp túi” hơn vì chỉ cần 3 tờ 500 EUR. Còn nếu bạn muốn “lót tay” cho một quan chức nhà nước nào đó, để dự án làm ăn của bạn được thuận lợi, thì với vài trăm triệu VNĐ phong bì nào đựng cho vừa? Sử dụng ngoại tệ quả là tiện lợi!
Bạn cần kết nối Internet để vào X-cà “tán dóc”, hay là cần 1 Webcam để người yêu của bạn nhìn thấy bạn mà bớt “xa mặt cách lòng”… Bạn phải đến các cửa hàng bán thiết bị vi tính, bạn cũng sẽ “chạm trán” với giá cả được niên yết bằng USD. Rồi một ngày nào đó, bạn nhận thấy vốn liếng “tiếng anh tiếng em” của mình kém cỏi quá, bạn đến một trung tâm đào tạo ngoại ngữ (do nước ngoài mở tại VN), một lần nữa bạn cũng phải “đối đầu” với học phí được tính bằng USD.
Không đâu như ở Việt Nam, người ta có thể sử dụng bất cứ ngoại tệ nào và ở bất cứ nơi đâu. Trong khi đó ở nước ngoài, nếu phát hiện ra việc thu nhận ngoại tệ, chính quyền phạt rất nặng. Các khách sạn dù có nhận ngoại tệ nhưng họ sẽ không chấp nhận mà đề nghị đổi ra nội tệ. Hoặc quy đổi để thanh toán và khi quy đổi, họ sẽ lấy phí dịch vụ ngoại hối cao hơn rất nhiều so với ở VN. Trong một cuộc trả lời báo chí về việc tại sao hàng triệu đô la được Bùi Tiến Dũng (nguyên TGĐ PMU18) chuyển ra nước ngoài đánh bạc, ông Nguyễn Đồng Tiến, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết hiện có nhiều kênh chuyển ngoại tệ ra nước ngoài mà không phải qua ngân hàng. Điều đó phản ánh tình trạng thanh toán sử dụng ngoại tệ có tỷ lệ cao trong nền kinh tế VN, mà nhà nước khó kiểm soát được, hay còn gọi là “đô la hoá”. Bạn muốn mua 1 triệu USD ư ? Ở TP. HCM bạn vào bất cứ tiệm vàng nào, họ sẽ đáp ứng yêu cầu đó của bạn. Còn nếu bạn ở Hà Nội, nghe nói phố Hà Trung (một chợ ngoại tệ không chính thức sôi động nhất Hà Nội) bạn cũng sẽ được phục vụ tận tình.
Pháp lệnh Ngoại hối (được UBTV Quốc hội thông qua ngày 13-12-2005, và có hiệu lực từ ngày 1-6-2006), tuy đã cởi mở hơn trong việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, cho phép tự do chuyển ngoại tệ ra nước ngoài với mục đích khám chữa bệnh, du học, thừa kế… Song trong thực tế đã diễn ra việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài có thể được thực hiện với số lượng lớn mà không cần phải xin giấy phép. Phương thức chuyển tiền thật đơn giản. Chẳng hạn, bạn ở trong nước muốn chuyển tiền ra nước ngoài cho người thân hoặc đối tác, bạn chỉ cần đưa tiền cho một tổ chức tư nhân, hoặc cá nhân ở trong nước. Đối tượng này có “chân rết’ ở nước ngoài và chân rết sẽ chịu trách nhiệm giao tiền cho người cần được nhận tiền theo yêu cầu của bạn. Phương thức chuyển tiền từ nước ngoài về trong nước cũng tương tự. Như vậy, ngoại tệ trên danh nghĩa không qua khỏi biên giới nhưng đã được chuyển ra vào dễ dàng và nhà nước không thể kiểm soát.
Trong mấy năm qua, nhiều vụ vận chuyển ngoại tệ trái phép đã được các cơ quan chức năng (trong nước và ngoài nước) phát hiện, nhưng xem ra đây cũng chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm” của thị trường ngoại hối bất hợp pháp :
- Trong vụ án ma tuý lớn nhất nước (2.354 bánh Heroin) được xét xử vào cuối tháng 1-2005, đường dây chuyển lậu ngoại tệ trái phép từ Việt Nam đi nước ngoài của nhóm Hải “luận”, Hạnh “cầm”… thừa nhận đã vận chuyển hơn 740.000 USD ra khỏi biên giới VN.
- Ngày 7-9-2007, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã bắt quả tang một phi công của Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) vận chuyển trái phép khoản ngoại tệ có giá trị lớn lên đến 300.000 euro (tương đương khoảng trên 6,6 tỉ đồng).
- Ngày 27-12-2007, Chi cục hải quan cửa khẩu Mộc Bài - Tây Ninh phát hiện ông Kalala Muttombo Doris có 213.600 USD, ông Dukhete Nzau có 40.000 USD và ông Kalonji James Fiston (cả ba cùng mang quốc tịch Congo) có 60.000 USD. Tổng số tiền 3 người mang theo khi làm thủ tục xuất cảnh là 313.600 USD không có giấy tờ hợp lệ.
- Ngày 4-6-2006, Hải quan Australia đã bắt giữ phi công Trần Văn Đăng - cơ phó tổ lái chiếc Boeing 777 của Vietnam Airlines - vì hành vi vận chuyển 500.000 USD. Sau đó, Trần Văn Đăng đã bị tòa án ở Sydney kết án 4 năm 6 tháng tù giam.
Cũng giống như nhiều nước đang phát triển khác, các giao dịch thanh toán ngoại tệ diễn ra nhiều ở thị trường “chợ đen”, không thông qua ngân hàng… đó cũng là môi trường thuận lợi cho những giao dịch bất hợp pháp như tham nhũng, buôn lậu, rửa tiền. Theo Ngân hàng Nhà nước, mức độ “đô la hóa” trong nền kinh tế Việt Nam hiện là 21%, khá cao so với 9% ở Trung Quốc và 1% ở Thái Lan. Các số liệu sau đây sẽ cho chúng ta thấy mức độ “đô la hoá” trong nền kinh tế Việt Nam : Ngày 31-12-2000, số dư tiền gửi bằng ngoại tệ tại các NH chỉ vào khoảng 4,5 tỷ USD (chiếm 23,7% tổng phương tiện thanh toán của toàn nền kinh tế). Đến ngày 31-12-2004, số dư tiền gửi bằng ngoại tệ đã hơn 7 tỷ USD (chiếm 23,9% tổng phương tiện thanh toán). Điều này có nghĩa là trong 4 năm, mức độ đô la hoá của nền kinh tế có xu hướng tăng lên. Đó là chưa kể xu hướng sử dụng tiền mặt bằng ngoại tệ cũng ngày một phổ biến hơn. Nếu tính được số tiền mặt bằng ngoại tệ (chủ yếu là USD) đang lưu hành trong nền kinh tế thì mức độ “đô la hoá” còn trầm trọng hơn nhiều.
Chẳng có một quốc gia nào trên thế giới lại muốn có đồng tiền thứ hai cũng được dùng như đồng nội tệ của mình. Chính phủ VN đã đề ra mục tiêu “Trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam”. Hơn nữa, chính phủ của mỗi nước không muốn có tình trạng “đô la hoá” trong nền tài chính tiền tệ, và tìm cách kiềm chế “đô la hoá” vì không muốn đánh mất ưu quyền tiền tệ. Về cơ bản, ưu quyền tiền tệ là lợi nhuận thu được từ việc phát hành tiền. Đây được xem là một hoạt động kinh doanh siêu lợi nhuận vì giá in tiền và phát hành tiền thấp hơn nhiều so với giá trị những mặt hàng mà “mảnh giấy lộn” này sẽ mua được.
Bên cạnh việc “đô la hoá” làm mất chủ quyền về tiền tệ, nó còn làm cho thị trường ngoại hối kém phát triển do các quan hệ vay - trả bằng ngoại tệ sẽ lấn át các quan hệ mua bán ngoại tệ. “Đô la hoá” làm giảm khả năng chuyển đổi của đồng nội tệ, tạo điều kiện cho buôn lậu phát triển, ảnh hưởng tiêu cực tới sản xuất trong nước. Nhà nước không những thất thu về thuế mà còn mất cả nguồn thu từ việc phát hành đồng nội tệ. Về dài hạn, “đô la hoá” có những tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế bền vững do nó làm giảm chất lượng hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ, giảm hiệu quả của chính sách tỷ giá, tạo ra nguy cơ mất an toàn hệ thống ngân hàng vì NHNN không thực hiện được vai trò “Người cho vay cuối cùng” của mình.
Vấn đề nào cũng có hai mặt, không thể phủ nhận mặt tích cực của “đô la hoá” trong nền kinh tế Việt Nam. Một trong những điểm tích cực của “đô la hoá” là giúp thu hút đầu tư nước ngoài, tăng cung ngoại tệ… do các nhà đầu tư biết rõ giá trị tài sản quy ra tiền của họ sẽ không thay đổi. “Đô la hoá” có thể là yếu tố thu hút khách du lịch, giúp việc mua bán, trao đổi bằng ngoại tệ của khách du lịch nước ngoài được dễ dàng. Nhưng một khi nền kinh tế bị “đô la hoá” cao càng dễ bị tổn thương và nhạy cảm hơn với những thay đổi liên quan đến đồng đô la trên thế giới, cũng như các cú sốc kinh tế như sự dao động của giá dầu, thép… ngành xuất khẩu sẽ chịu tác động trực tiếp trước tiên. Chẳng hạn, giá cà phê trên thị trường thế giới giảm mạnh, xuất khẩu cũng giảm, kéo theo nền kinh tế phát triển chậm lại. Nếu đồng nội tệ không hấp thụ bớt tác động của cú sốc bên ngoài đó, nó sẽ truyền thẳng vào các hoạt động kinh tế khác. Chính vì thế Ngân hàng Nhà nước đã đặt ra mục tiêu hạn chế “đô la hoá”, đặt mục tiêu đến năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ “đô la hoá” xuống dưới 15%.
Tại sao người dân Việt Nam thích sử dụng USD trong thanh toán và cất giữ? Muốn lý giải được vấn đề này phải đi ngược lại thời gian cách đây hơn 20 năm. Những cú sốc về tiền tệ xảy ra trong 20 năm qua, khiến cho người dân VN cảm thấy bị rủi ro rất lớn khi cất giữ tiền đồng. Hai lần phá giá tiền đồng vào các năm 1985 và 1997 – 1998 làm những người cất giữ tiền đồng bị thiệt hại không nhỏ so với việc cất giữ bằng USD. Cộng vào đó là lạm phát phi mã trong nền kinh tế VN trong những năm cuối thập niên 1980 và đầu 1990, làm cho đồng tiền VN càng thêm mất giá quá nhanh. Ngoài ra cũng cần phải nói đến những thay đổi về chính sách kinh tế và tiền tệ của chính phủ trong điều hành đất nước, cũng khiến cho niềm tin của người dân đối với đồng tiền VN cũng vơi đi rất nhiều. Vì thế, việc tạo lòng tin trong công chúng về một mức lạm phát thấp, ổn định và một tỷ giá ngoại hối linh hoạt là điều vô cùng quan trọng. Bên cạnh đó, việc sử dụng đồng tiền VN gặp rất nhiều bất tiện, do hệ thống tiền tệ VN trong những năm trước đây chưa có mệnh giá lớn như 500.000 – 200.000… Xã hội VN thích sử dụng USD cũng vì những tiện lợi của nó đã được trình bày ở phần đầu bài viết này.
Cũng xin được nói thêm, không chỉ có người dân Việt Nam “ưa chuộng” USD, ngay cả các NH thương mại cũng có hiện tượng này. Hiện các NH đang có cơ cấu dự trữ ngoại tệ bất hợp lý, trong khi thừa USD nhưng lại thiếu trầm trọng các ngoại tệ khác như Euro, Nhân dân tệ, Yên Nhật. Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản là những đối tác thương mại ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cán cân xuất nhập khẩu của Việt Nam, nhưng khi doanh nghiệp có nhu cầu các ngoại tệ ngoài USD thì Ngân hàng lại hầu như không đáp ứng được.
Ngoài những nguyên nhân vừa kể trên, một vấn đề không kém phần quan trọng có ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến hiện tượng “đô la hoá” là “tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam”. Một khi đồng tiền VN có tính chuyển đổi cao sẽ liên kết kinh tế trong nước với thế giới, thúc đẩy kinh tế phát triển, thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn nước ngoài, tạo vị thế quốc gia trên thị trường quốc tế. Có nâng cao và tiến đến thực hiện đầy đủ tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, thì mới có thể xoá bỏ một phần (hoặc hoàn toàn) hiện tượng “đô la hoá” trong nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững. Muốn vậy chính phủ Việt Nam cần phải thông qua thực hiện tự do hoá các giao dịch ngoại hối và vãng lai, từng bước tự do hoá các giao dịch vốn, tăng dự trữ ngoại hối nhà nước và điều quan trọng là phải đảm bảo lợi ích cho người nắm giữ đồng Việt Nam.
________________
THAM KHẢO THÊM:
“Đô la hoá được nhìn nhận là một hiện tượng trong đó ngoại tệ được sử dụng rộng rãi để thay thế một hay nhiều chức năng của đồng nội tệ. Nguyên nhân của hiện tượng đô la hoá chủ yếu là do sự yếu kém của nền kinh tế, đặc biệt là đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi (hệ thống pháp lý chưa hoàn thiện, kinh tế vĩ mô thiếu ổn định…). Sự bất tiện khi sử dụng đồng nội tệ (về mệnh giá, về hệ thống thanh toán, về khả năng chuyển đổi ra ngoại tệ…) cũng là 1 nguyên nhân làm suy giảm lòng tin của người dân vào đồng nội tệ, tạo tâm lý ưa thích ngoại tệ.
Đô la hoá được thể hiện dưới các hình thức:
- Đô la hoá thay thế tài sản: Thể hiện qua tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán (FCD/M2). Theo IMF, khi tỷ lệ này trên 30% thì nền kinh tế đó được cho là có tình trạng đô la hoá cao, tạo ra các lệch lạc trong điều hành tài chính tiền tệ vĩ mô. Nhìn chung đối với các nền kinh tế chuyển đổi, tỷ lệ đô la hoá hiện nay bình quân là 29% (tỷ lệ FCD/M2 ở Việt Nam năm 2005 là 22,3%).
- Đô la hoá phương tiện thanh toán: Là mức độ sử dụng ngoại tệ trong thanh toán. Các giao dịch thanh toán bất hợp pháp bằng ngoại tệ rất khó đánh giá, là hiện tượng khá phổ biến đối với những nền kinh tế tiền mặt như Việt Nam.
- Đô la hoá định giá, niêm yết giá: Là việc niêm yết, quảng cáo, định giá bằng ngoại tệ.
Tình hình đô la hoá ở Việt Nam biểu hiện qua số liệu về tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán từ năm 1998 đến 2005 như sau:
Năm | 1998 | 1999 | 2000 | 2001 | 2002 | 2003 | 2004 | 2005
FCD/M2 (%) | 21,9 | 24,6 | 29,6 | 30 | 26,1 | 21,3 | 23,1 | 22,3
Có thể thấy là từ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á 1997 đến nay, xu hướng đô la hoá trong nền kinh tế nước ta đang giảm. Theo quan điểm của IMF thì với tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán từ 22% đến 24% như thời gian qua thì hiện tượng đô la hoá ở Việt Nam là chấp nhận được. Vấn đề mà IMF quan tâm là Việt Nam cần có một khuôn khổ pháp lý về ngoại hối mới phù hợp với quá trình hội nhập và có một hệ thống chế tài nghiêm khắc đối với các vi phạm ngoại hối để nâng cao vị thế của đồng Việt Nam.
(Nguồn NHNN Việt Nam)