1917, 1937 và nước Nga ngày nay
Irina Scherbakowa
Nguồn Gió Mới chuyển ngữ
Lời dịch giả: Trong thời gian gần đây có vài topic đặt vấn đề và thảo luận về ảnh hưởng của cuộc cách mạng tháng mười ở Nga, cũng như thắc mắc về tương lai của lăng Lê Nin, tàn tích của chế độ cộng sản. Báo chí Đức ít có tin tức về những vấn đề này, thường thì chỉ bàn về chế độ của Putin, nên tôi không có kiến thức để mà tham gia thảo luận. Sau một hồi google thì kiếm được bài này của một sử gia Nga, tạm dịch để cho các bác cùng tham khảo.
Cuộc cách mạng tháng mười Nga mở đầu cho sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa Cộng Sản, cái vỏ mà những người cầm quyền ở Việt Nam vẫn còn khoác, mặc dù trên thực tế việc quan trọng nhất đối với họ ngày nay là làm sao giữ được quyền lực để mà bảo vệ cho tài sản họ đã dùng bạo quyền để tạo ra, cũng như là để vẫn còn cơ hội hái ra tiền.
Chúng ta thử xem người Nga ngày nay nghĩ gì về cuộc cách mạng đó, về cuộc đại khủng bố của Stalin, cũng như về một di tích mà chế độ Cộng Sản để lại, lăng Lê Nin.
Đoạn chót bài này giải thích những suy nghĩ của người dân Nga hiện tại, tương tự
bài bác tqvn2004 vừa đưa lên. Trong đó tác giả cho thấy vấn đề quan trọng của việc đánh giá lịch sử của chế độ cộng sản một cách đứng đắn.
Mở đà̀u
Những biến cố của cuộc cách mạng 1917 cho đến nay vẫn còn được tranh cãi, và luôn được phê bình một cách trái ngược. Người thì cho là một cuộc cách mạng chủ nghĩa xã hội vĩ đại , theo người khác đó là việc cướp quyền của một nhóm người quá khích, hay là một đống người xa lạ.
Việc xâm chiếm lâu đài muà đông của nhóm Bolschewiki ở Petrograd có thể gọi là cuộc đảo chánh. Sau đó bắt đầu một cuộc cách mạng, mà chỉ trong một thời gian ngắn đã làm thay đổi hoàn toàn hệ thống chính trị, cơ cấu xã hội, liên quan sở hữu, và môi trường trí tuệ ở Nga.
Những nhân chứng, cũng như những người tham dự vào những biến cố thời đó ngày nay không còn sống nữa. Nhưng mà một cuộc phê phán giá trị lịch sử về những động lực sai lầm của những người đã tham dự vào cuộc cách mạng từ năm 1917 cho tới thập niên 1930, rất là quan trọng. Sinh vào phần ba cuối cùng của thế kỷ thứ 19, lớn lên dưới ảnh hưởng của những khuynh hướng, hành động khuynh tả quá khích (ông anh của Lenin, một người chuyên dùng những biện pháp khủng bố, bị xử tử năm 1887 vì đang chuẩn bị cuộc ám sát vua Nga), những người quá khích Nga tự cho là Marxist, những người đặt ra mục đích là tạo nên một chế độ cách mạng độc tài. 1917 nhiều người đã trải qua nhiều năm tù đầy, cũng như những cuộc sống lưu vong. Khác với những người bị họ lật đổ từ chính phủ lâm thời, mà đã lên nắm quyền sau cuộc cách mạng tháng hai, họ không làm việc hay sinh hoạt trong xã hội trước thời cách mạng. Ngay cả Lenin cũng đã sống hơn mười năm ở nước ngoài.
Số người này cùng với lãnh tụ họ (mà từ trần vào năm 1924), hoặc là đã chết vào thập niên 1920, hay là đã nhường chỗ cho nhóm người chung quanh Stalin, những người trẻ hơn và về mặt xã hội cũng như văn hóa xuất xứ từ những vùng tỉnh luỵ. Họ còn ít học hơn, đã cùng tham dự cuộc nội chiến và tin tưởng rằng tất cả vấn đề đều có thể giải quyết bằng lòng quyết tâm. Họ dễ hoà đồng vào guồng máy của Stalin. Thế hệ của những người mà đã tổ chức cách mạng tháng mười đã bị lọc sạch theo năm tháng và biến mất hoàn toàn trên sân khấu chính trị sau thời kỳ khủng bố lớn 1937/38.
Đánh giá cuộc cách mạng
Những biến cố được những người nắm quyền sau khi chiến thắng trong cuộc nội chiến 1921, huyền thoại hoá. Cái ngày nắm quyền của nhóm Bolschewiki, ngày 7.11 (vì đổi lịch mới nên tất cả ngày giờ được dời hai tuần sớm hơn) được làm thành ngày lễ quan trọng nhất của nước Liên Xô. Kể từ năm 1996 ngày này đổi thành ngày hoà giải và hoà hợp, và đến năm 2005 thì bị huỷ bỏ không còn là ngày lễ nữa.
Những biến cố của tháng mười 1917 đã được dùng để biện luận một ý thức hệ, cái mà đòi hỏi tất cả đều đứng dưới quyền của Đảng, biểu hiện qua bản thân của nhà lãnh đạo vĩ đại Stalin. Trong phần nhì của thập niên 1930 đưa đến sự từ bỏ những ý tưởng chủ yếu mà những người tổ chức cách mạng tháng mười đã cổ võ, cách mạng toàn cầu, tinh thần quốc tế, sự kết bạn toàn thế giới của giới vô sản. Những hiền thoại đầy tính chất anh hùng cao cả của những cán bộ bolschewistisch mà đã thực hiện cuộc cách mạng, những người đã dẫn nhân dân trong công cuộc tranh đấu chống lại những giai cấp thù địch được thay thế bằng một ý thức hệ của một siêu cường về kỹ nghệ dưới sự lãnh đạo của một lãnh tụ quân phiệt. Trong những năm chiến tranh Stalin là nhà tổng tư lệnh. Biểu hiệu cho nước, từ lá cờ mới thay thế cho cờ quốc tế, cho tới quân phục mới với bảng vai tương tự như thời Nga hoàng, tượng trưng cho một siêu cường đế quốc. Cuộc chiến thắng chống ngoại xâm vào năm 1941/1945 được ghi sâu vào ký ức của nhân dân cũng như được bộ máy tuyền truyền của nhà nước cho là biến cố quan trọng nhất.
Trong lúc đó, từ cuối thập niên 1930 một nhóm sinh viên bắt đầu thần tượng hoá (phản ứng của những cuộc tiêu diệt dã man) cuộc cách mạng bolschewistisch và những nhân vật chính của nó, coi như là đối lập chống lại chế độ của Stalin. Những khuynh hướng này càng ngày càng gia tăng, sau cái chết của Stalin khi tình hình bớt căng thẳng (1953 - 1964). Thời kỳ cách mạng tháng mười và thập niên 1920 lại trở thành gương mẫu. Nhiều người lại tái xuất hiện từ chốn hư không ở một ngục đảo nào đó. Thế hệ mới muốn giải phóng những lý tưởng cách mạng mà đã bị bóp méo vào thời Stalin, và mang lại cho Đảng những tiêu chuẩn của Lenin. Mục đích của những nhóm xã hội cấp tiến nhất này tương tự nhóm muà xuân Prager, mơ ước được một XHCN với bộ mặt nhân tính.
Khi Nikita Chruschtschow mất chức tổng bí thư của Đảng CS Sô Viết, tiếp theo đó là những năm dậm chân tại chỗ của Breschnew (1964 - 1985), một thời kỳ thất vọng bi quan trước những hy vọng cải tổ cởi mở không thể thực hiện được. Trong những năm này những tư tưởng đối lập ở Nga dần dần đưa tới nhận định, là cuộc đảo chánh bolschewistisch và cái trật tự mới, đã lập nên một lãnh thổ cho một ý thức hệ quá khích đầy máu rơi. Từ cuối thập niên 1980, dưới ảnh hưởng của Perestroika và sự sụp đổ của Liên Xô, những cảm nhận về cuộc cách mạng tháng mười ngày càng xấu xa. Người ta sửa lại cái nhìn về cuộc nội chiến và bình phẩm nghiêm khắc những khủng bố xảy ra ngay sau ngày nắm quyền của nhóm Bolschewiki.
Trong những năm gần đây qua những cuộc đánh giá những biến cố đó, người ta để ý thấy những khuynh hướng trái ngược. Một mặt những ý thức gia gần gũi với những người nắm quyền cho thấy ác cảm của họ đối với mọi cuộc cách mạng, không kể là tháng hai hay tháng mười bolschewistisch, bởi vì đối với họ mọi sự kêu gọi thay đổi hệ thống chính trị và như vậy làm xáo động, đều đáng nghi ngại. Các đối lập chính trị theo con mắt họ làm hại một chính phủ mạnh, chính thống, độc quyền và gần gũi dân chúng được cho là những căn bản của một quyền lực mạnh. Các ý thức gia sử dụng những lời văn của một nhà văn nổi tiếng như Alexander Solschenizyn, người mà đã thường xuyên chỉ trích những biến cố cách mạng 1917, theo quan điểm của một người muốn duy trì trật tự xã hội trước cách mạng. Tuy nhiên người ta không nói nhiều về nguyên nhân gì đã đưa đất nước đến những hậu quả cách mạng thảm khốc như vậy, sự không đồng ý của nhóm độc quyền cho những thay đổi cần thiết về chính trị cũng như những cải tổ về kinh tế. Sự bất lực của chính quyền Nga hoàng để mà vượt qua nạn tham nhũng tràn lan, cũng như nỗ lực đổ lỗi cho những người khác đạo, khiêu khích cái gọi là tấm lòng yêu nước, vào lúc bắt đầu của cuộc cách mạng để mà tấn công một cách tàn bạo những người theo do thái giáo. Những cái nhìn phản lịch sử này được hổ trợ bởi một hoài vọng về một nước Nga quân chủ, cái mà thập niên 1990 đã phát triển thành việc sùng bái gia đình Nga hoàng và ông vua cuối cùng.
Mặc khác những nhóm khuynh tả quá khích lại càng tăng trưởng, những nhóm mà qua những cuộc bầu cử quốc hội ủng hộ đảng CS. Những quan điểm có khuynh hướng neobolschewistisch lại lan rộng ra cả trong một giới tuổi trẻ đối lập.
Lenin trong lăng
Dữ kiện quan trọng nhất trong kí ức văn hoá của người Nga không phải là việc duy trì những di tích lịch sử, đài tưởng niệm cho nhân vật chính của cách mạng tháng mười 1917, mà là vấn đề lăng của Lenin với thi thể ông vẫn chưa được chôn cất, vẫn còn nằm ở mảnh đất trung tâm của cả nước, mặc dù có rất nhiều đòi hỏi là hãy chôn ông đi. Ban đầu thì lăng ông ta chỉ là tạm thời, để cho những ai không thể có mặc lúc làm đám ma ông ở Moskau có cơ hội tiễn đưa nhà lãnh tụ muôn vàn yêu quý. Sang đến thập niên 1930 thì cái lăng tạm thời bằng gỗ được thay bằng đá với mục đích vĩnh cữu. Công trường đỏ cũng như hình ảnh của Lenin thay đổi một các đặc thù với thời gian.
Sự thành công của nhóm Bolschewiki không thể tách rời với con người của Lenin, với những chiến lược và lòng quyết tâm của ông ta, lợi dụng những yếu điểm của chính phủ lâm thời, lưng chừng, cái lối mà cứ hoãn cả những việc cần thiết nhất, cũng như là dư luận chống tư sản của đại đa số người dân, những người mà sẵn sàng ủng hộ những khẩu hiệu mị dân của nhóm Bolschewiki. Bắt đầu từ Lenin sinh ra vấn đề sùng bái lãnh tụ. Đám tang của ông vào năm 1924 biểu hiệu cho sự từ giã với toàn thể nhân dân. Những người cùng chiến đấu với ông, khi mà cuộc tranh dành quyền lực đã bắt đầu ngay từ lúc ông ta vẫn còn sống, dành nhau để mà được khiên quan tài của ông. Cuối cùng Stalin đã chiến thắng, người mà thời Lenin còn sống đã gom góp khá nhiều quyền lực và hơn ai hết, nhận ra rằng đây là một thời của những lãnh tụ và bộ máy quyền lực của họ. Để cho quyền lực mình được công nhận, Stalin cho là việc sùng bái người chết là một việc cần thiết. Thi hài của Lenin không được chôn, là kẻ bị giam cầm do chính cái hệ thống và huyền thoại mà ông tạo ra. Lăng ông được trở thành một chỗ sùng bái ngay trung tâm của đất nước. Chỗ này sẽ là chỗ Stalin và những người nối gót ông ta thập niên này sang thập niên khác đón chào dân chúng, cùng các cuộc diễn hành quân đội và thể thao, tượng trưng cho sự cổ động của hệ thống Liên xô.
Lenin đã để lại cho 50 năm tới một biểu tượng, để cho những tay đao phủ, và nạn nhân cũng như là những đao phủ (mà sau đó trở thành nạn nhân), tuyên thệ, các người đối lập cũng như là những người theo Stalin. Đối với những người đối lập không kể tả hay hữu trong Đảng, Lenin biểu hiệu, vào cuối thập niên 1920, sự trong sạch của lý tưởng cách mạng, cái mà bị Stalin bóp méo và chiếm đoạt. Cho đến khi Stalin chết nhiều người trích dẫn ông Lenin thánh thiện trái với một Stalin đầy ác độc. Với sự giúp đỡ của các nhà văn, nghệ sĩ, nhà đạo diễn người ta lập nên một bức tranh của một người nhân đạo nhất trong tất cả các con người. Cái hình ảnh này tượng trưng cho cái ý thức hệ của đống người cùng chiến đấu với ông rồi cũng biến đi một cách nhanh chóng cũng như hàng triệu người dân Liên Xô, những người được sử dụng để chèo chống chế độ mà đã hình thành vào thập niên 1930.
Cái hình ảnh của một Lenin thánh thiện và thông thái kéo dài và tồn tại cho tới bây giờ tuy chỉ còn trong một số ít người. Những thay đổi xảy ra sau cái chết của Stalin vào năm 1953, từ bỏ khủng bố, bỏ hệ thống trại tù kiểu Gulag, phục hồi danh dự cho hàng triệu nạn nhân, nhận được theo như ngôn ngữ chính thức một cái tên rất kêu „trở lại với những tiêu chuẩn của Lenin“. Cái công thức này rất thích hợp với việc mở rộng tự do cũng như là lột trần cái gọi là sùng bái cá nhân. Tuy nhiên việc đình trệ trong vấn đề dân chủ hoá xã hội và mưu toan dùng hình ảnh của Lenin để mà che dấu sự bất lực của Đảng trong nhiệm vụ vô vọng là xây dựng CNCS, đã tạo trong quần chúng rất nhiều chuyện cười, phản ứng lại những tuyên truyền không ngừng cho ngày kỷ niệm sinh nhật 100 năm vào năm 1970. Những câu chuyện diễu cợt đó đã hoàn tàn phá tan cái hình ảnh của một nhà lãnh tụ nhân đạo của cuộc cách mạng vô sản.
Với sự bắt đầu của Perestroika những tài liệu trong văn khố được phổ biến chính thức cho thấy sự tàn bạo không thể tưởng được cũng như cái cách thực dụng, cái mà Lenin đã dùng trong cuộc nội chiến, những cái này là những căn bản mà do đó chủ nghĩa Stalin được lập ra. Lăng của Lenin trong thập niên 1990 trở thành vật thể sùng bái lố bịch. Quân lính gác bị huỷ bỏ, những nhà cầm quyền không sử dụng lăng làm khán đài nữa. Món đồ chơi cổ truyền nga Matrjoschki có hình dạng mới, từ trong Lenin xuất hiện Stalin, sau đó Breschnew, Gorbatschow, Jelzin...
Trên công trường đỏ người ta thấy những người mà đeo mặt nạ những nhân vật chính trong lịch sử thập niên 1920. Ai muốn có thể chụp hình với Nga hoàng cuối cùng, hay với Lenin và Stalin. Vào muà đông người ta dựng một sân trượt băng lớn, và vào muà hè thì tổ chức ở đó những buổi nhạc Rock.
Cái bước kế tiếp để mà chôn thi hài của Lenin thì vẫn chưa xảy ra. Không phải chỉ vì sợ những cử tri của ĐCS phản đối. Cùng với sự thay đổi về chính trị và xã hội những truyền thống Leninist/Stalinist đã sống trở lại. Những nguyên nhân và hình dạng của sự tiếc nối này khác hẳn nhau. Không hài lòng với những cuộc cải tổ và những hậu quả về chính trị và xã hội, và cũng vì sự thành công về kinh tế và chính trị của một số người mà đã đứng đầu của nước Liên xô ngày xưa. Từng bước, những người nắm quyền đã bỏ dần cái mô hình dân chủ và tự kiếm cho mình „con đường riêng“, nhất là những ý tưởng quốc gia. Qua đó họ lại sử dụng liên tục trở lại những huyền thoại Liên Xô và những phương pháp tuyên truyền cũ.
Bài học của năm 1937
Ngay từ đầu khủng bố và trừng phạt là những vũ khí quyền lực của ĐCS. Ngay từ năm 1918 những người CS đã kêu gọi khủng bố đỏ. Thập niên 1920 họ bắt nhốt những người đại diện cho các giai cấp thù nghịch, hoặc cho họ đi đầy, những nhà tu sĩ, trí thức, những nhà chính trị đối lập, nhà dân chủ xã hội, cách mạng xã hội, cả những thành phần chống đối tả hữu trong Đảng. Họ bắt những nhà kỹ sư và chuyên môn, buộc tội họ là sâu bọ của nhân dân. Vào đầu thập niên 1930 cả hàng triệu người nông dân bị đưa lên những vùng xa vùng sâu.
Riêng từ năm 1934 cho tới 1944, 12 đến 14 triệu người chết khi phải làm việc tại những trại tù Gulag, những vùng di dân đặc biệt và những hình thức làm việc cưỡng bách khác. Tuy nhiên năm 1937 là năm đặc biệt ghi vào lịch sử của những thanh trừng nặng nề nhất. Mặc dù chỉ có số ít sử gia được phép xem những tài liệu bí mật mà dính líu tới những vụ truy nã, chúng ta có thể biết cơ cấu của cuộc đại khủng bố và về số nạn nhân, mà theo thước đo vào thời đó là quá khủng khiếp. Trong vòng 14 tháng vào những năm 1937/38 1,7 triệu người dân bị bắt nhốt và 700.000 bị tử hình. Trong số những nạn nhân là những người mà bọn cầm quyền tin là họ không, hay có thể không hài lòng với sự tàn sát những người nông dân có khả năng nhất tại các làng mạc vì nạn đói các năm 1930/32 và với những biện pháp tàn ác để công nghệ hóa làng mạc.
Cho tới ngày nay liên quan đến cuộc đại khủng bố, huyền thoại được loan truyền, và càng ngày người ta càng cho rằng trong những năm đó chỉ có những người trong Đảng là bị tiêu diệt (theo như bài đọc nổi tiếng của Chruschtschow 1956 vào đại hội Đảng CS Liên Xô lần thứ XX, lần đầu tiên được nói chính thức về những cuộc thanh trừng). Nhiều người dựa vào những lời tuyên bố của Solschenizyn, người so sánh cuộc thanh trừng của những năm 1929/32 với 1937/38. Cuộc thanh trừng đầu nạn nhân là nhân dân cả nước, thảm kịch của những người nông dân, lần thứ hai là những thành phần ưu tú của Đảng bị tiêu diệt , những người tổ chức và chịu trách nhiệm cho các cuộc thanh trừng. Ngày nay người ta có thể xem danh sách của những người bị bắn chết vì Stalin, 40 ngàn người nhân viên Liên Xô, cán bộ Đảng và các nhà chính trị văn hoá. Danh sách này được Stalin và các thành viên bộ chính trị ký. Trong những mệnh lệnh có cả những chiến dịch quốc gia (Ba lan và Đức), theo đó hàng chục ngàn người trở thành nạn nhân chỉ vì có gốc Ba lan hay Đức.
Cao điểm của những cuộc bắt người tập thể trong cuộc đại khủng bố năm 1937, rơi vào những ngày lễ kỷ niệm 20 năm ngày cách mạng tháng mười. Nhiều người trong số bị bắt vào những ngày đó ở Moskau hay các thành phố khác mang theo những kỷ niệm cuối cùng trong đời ngoài bức hàng rào kẽm gai, đường thắp đèn mừng lễ và những bóng đèn tạo thành số la mã XX ca ngợi ngày kỷ niệm 20 năm. Đất nước rơi vào một ác mộng đẫm máu, ngay cả những người mà ngày nay muốn chạy tội cho Stalin cũng khó mà phủ nhận được.
Cuộc khủng bố tập thể được phát ra cùng một lúc với những chiến dịch tuyên truyền chống lại kẻ thù của nhân dân, nó kích thích và làm phấn khởi những hành động bôi nhọ, đạo đức giả, suy nghĩ hai đường và chủ nghĩa cơ hội. Năm 1937 đánh giấu cho việc ứng dụng quy mô những cơ cấu ngoài phạm vi luật pháp. Những bản án xử không cần có mặt tội phạm một cách nhanh lẹ, không thể phản án, chỉ cần có ba người, đại diện bộ nội vụ, viện kiểm sát và Đảng. "1937" tượng trưng cho tính cách có tính toán trước những chiến dịch quy mô, đưa ra những giới hạn, tức là số người sẽ bị bắt. Số người bị bắt được chia ra làm hai loại : tử hình, ngục tù Gulag dài hạn. 1937 đưa đến việc sử dụng tra tấn một cách qui mô trong lúc đang điều tra. Những biến cố trong năm 1937 đưa những nhà trí thức khuynh tả phương Tây đến một sự lưạ chọn không chấp nhận được, và không đạo đức giữa Stalin và Hitler. Một thí dụ đặt trưng là quyển sách của Lion Feuchtwanger „Moskau 1937“ biện hộ cho những vụ kiện có tính cách tuyên truyền chống lại những cán bộ lớn trong Đảng và trong chính quyền.
Hết lượt những người đàn ông, đến vợ họ là thành phần trong gia đình của bọn phản quốc bị bắt, con họ bị đưa vào các nhà trẻ. Khoảng 20.000 đàn bà sau khi chồng họ bị tù, bị bắt và bị nhốt trong những trại giam dành riêng cho họ. Ở nhiều thành phố trong nhiều ngôi nhà lớn, nhiều từng không người ở, mọi người đều sợ ban đêm sẽ bị gọi cửa. Trong những căn nhà trống 1937 hơn 10 ngàn nhà trống, nhân viên bộ nội vụ dọn vào. Nhiều nhà chứa đồ sụp, vì đồ tịch thu nặng quá. Sách bị tiêu huỷ, tranh ảnh bị đốt. Những bà con và những người thân đứng đợi hàng giờ, để mà hi vọng nói chuyện với người bộ nội vụ về tông tích của người thân. Sau đó là những lời nói dối chuyên nghiệp của nhà nước, cho là những người bị bắt bị giam không được liên lạc để mà che dấu là họ đã bị bắn chết, và sau đó là làm giả giấy khai tử là đã chết một cách tự nhiên trong nhà tù.
Sự nhận thức hậu Sô viết
Sau cuộc đại khủng bố người dân vẫn sống một thời gian dài đầy lo sợ. Có lẽ chính cái sợ hãi đó đã làm người dân Moskau vào tháng tám 1991, sau cuộc đảo chánh thất bại, đến công trường Lubjanka trước trụ sở của KGB, để mà lật đổ bức tượng kỷ niệm của người thành lập Tscheka và cũng là đồng chí tranh đấu cùng với Lenin, Felix Dzierzyn'ski. Đối diện bức tượng này họ lập nên tảng đá tưởng niệm nạn nhân của những cuộc thanh trừng, tảng đá lấy từ đảo Solowezki, trại tù đầu tiên thời Sô Viết. Người ta cho rằng chẳng sớm thì muộn một đài nhắc nhở quan trọng hơn sẽ được lập ra, xứng đáng với kích thước của thảm kịch đó, nhất là khi trại tù Gulag và những hồi tưởng về sự thanh trừng man rợ là những điểm chính trong tiềm thức của một xã hội hậu Sô viết.
Trong vòng 17 năm qua trên nhiều thành phố những bảng kỷ niệm được dựng lên ở những nơi mà có chôn người tập thể. Chuyện này xảy ra do quyết định của nhà nước hay là do sáng kiến của người dân, nhiều khi sau những cuộc tranh cãi lâu dài với chính quyền địa phương. Danh sách nạn nhân được lập ra, trong số bốn triệu người, có ghi chi tiết hơn về lý lịch 2,5 triệu người. Hàng trăm chương trình nghiên cứu khoa học về việc thanh trừng chính trị cũng như về trại tù Gulag. Tuy nhiên những thất vọng về cải tổ dân chủ cũng như những luyến tiếc về thời Sô Viết ngày xưa, đã dập tắt sự chú tâm về vấn đề này. Cho tới ngày hôm nay vẫn chưa có đài kỷ niệm quốc gia cho những người bị truy nã về chính trị, cũng không có bảo tàng viện, để mà thanh toán với chuyện quá khứ. Cũng chả có một ngày tượng trưng, ngày mà cả nước mặc niệm. Cả nhà nước lẫn người dân không chú tâm, sự tưởng nhớ đến những thanh trừng trong quá khứ coi như là nền tảng để xây dựng những người công dân mới. Không phải ngẫu nhiên mà cho tới bây giờ vẫn chưa có danh từ nào để mà diễn tả cái mà nước Nga đã trải qua trong thế kỷ thứ 20. Từ độc tài toàn trị là từ mà người ta mượn từ các tài liệu phương Tây không diễn tả hết được.
Ngay cả Stalin cũng hiện lại trong tiềm thức lịch sử của người Nga. Một lần nữa cũng như trong thời đại Breschnew xảy ra ngầm một hiện tượng Stalin hóa. Stalin lại được xem là tiêu biểu cho đế quốc, một chính phủ mạnh, sau cùng niềm tự hào của dân tộc, một chủ nghĩa quốc gia. Không ngừng người ta lại muốn lập đài tưởng kỷ niệm Stalin, nó đã xảy ra ở một vài tỉnh, biện hộ rằng đây là kỷ niệm muôn đời cho cuộc chiến thắng chống ngoại xâm vĩ đại.
Nạn nhân của những huyền thoại về thời Sô Viết, nhất là dưới chế độ Stalin, là những giới trẻ. Số liệu của những trưng cầu dân ý độc lập cho thấy là người ta càng ưa chuộng Stalin trở lại, trong số những người cho những hành động của Stalin là tốt càng ngày càng có nhiều người trẻ. Quá trình để khắc phục cái thời của Stalin thật ra là khó khăn hơn, dày vò hơn là người ta tưởng vào cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, lúc mà giới trẻ từ 15 – 18 tuổi mới đẻ ra. Họ đã biết cái gì về cuộc đấu tranh dài và khó khăn để tìm ra sự thật lịch sử, đã xảy ra trước khi họ ra đời. Bậc cha mẹ còn bận rộn để hoà mình vào thời đại mới và truyền cho giới trẻ những tiếc nuối không phản ảnh được sự thật. Bởi vì những nhân chứng của những cuộc thanh trừng của Stalin không còn nữa, tiềm thức chung của xã hội cũng biến dần, tuổi trẻ ngày nay sống trong một phạm vi lịch sử, không có trí nhớ sống động. Trong thời gian lịch sử bị sửa đổi những tiệm sách chứa đầy những cuốn sách văn chương mị dân, lịch sử không thực, công khai hay ngấm ngầm phục hồi vai trò của chế độ và Stalin cũng như những người cùng tranh đấu với ông ta, đặc biệt là cơ quan công an. Trong cái biển mờ đục này tuổi trẻ không dễ gì tìm ra đâu là sự thực.
Trong học đường không có đủ thời giờ để mà nghiên cứu kỹ lưỡng về khủng bố cũng như sự thanh trừng về chính trị. Trong những năm gần đây những cấu trúc quyền lực thường xía vào việc giáo dục lịch sử. Trong cuộc đàm luận của các giáo viên sử học vào tháng sáu 2007, một cuốn sách được giới thiệu, được viết cho một tinh thần mới, cho tuổi trẻ một cảm nhận hạnh phúc với lịch sử của đất nước, không thôi người công dân Nga lớn lên sẽ không có tinh thần yêu nước. Theo như tư tưởng đó giới trẻ Nga sẽ được đọc một lịch sử quân bằng.
Câu hỏi chính ngày nay là có phải quá khứ để diễn giải tư tưởng cho những cuộc tranh chấp mới, cho một cuộc chiến tranh lạnh mới, hay để hợp thức hoá một chính quyền độc đoán? Hay con đường để mà thông hiểu, công nhận trách nhiệm của quá khứ là một yếu tố quan trọng để mà tạo ra những giá trị dân chủ? Một điều chắc chắn là trách nhiệm để truyền bá và duy trì sự thật về một quá khứ độc tài toàn trị là một việc làm quan trọng nhất trong xã hội dân sự Nga.