International Herald tribune - 09/07/2007
Lần này, Hoa Kỳ không thể bỏ rơi những ai từng giúp họ.
Tôi đã đồn trú trong căn cứ bộ binh ở Phú Lợi tại Việt nam khi việc rút quân Mỹ
đang tiến hành, và tôi thường hay tự hỏi rồi chuyện gì sẽ xẩy đến, sau khi chúng
tôi rời khỏi đó, cho những phụ nữ Việt nam đã giúp giặt giũ và làm vệ sinh trong
"lều", hay doanh trại của chúng tôi.
Chúng tôi có cảm giác rất bảo bọc đối với các "cô gái dọn lều". Họ mang đến chút
cảm giác thường nhật ở nhà với lời giễu cợt đùa vui suốt ngày, máy thu thanh của
họ om sòm nhạc Việt nam mà chúng tôi chẳng hiểu gì, và họ sẵn lòng lắng nghe mấy
đứa nhớ nhà đọc thư mà họ (cũng) chẳng rõ mô tê.
Chúng tôi chẳng biết tí gì về cuộc sống bên ngoài của họ -- Cũng chẳng biết gì
về đất nước của họ, là nơi chúng tôi xem như đang phòng vệ. Chúng tôi chả có
nhận thức gì về chuyện họ thực sự nghĩ gì về mình, nhưng họ là gạch nối gần gũi
nhất của chúng tôi đối với một nước Việt nam "thực sự".
Sau đấy, về lại New York, theo dõi hình ảnh sôi bỏng của những người Việt tuyệt
vọng bị xô đẩy khỏi Toà Đại sứ Hoa Kỳ, hay đu theo càng của trực thăng đang cất
cánh, tôi đau khổ cho số phận của các cô gái ấy và tất cả những người Việt khác
từng làm việc với chúng ta. Nhiều cựu chiến binh, nhiều người Mỹ, vẫn còn cảm
thấy nhục nhã, tội lỗi sâu xa đã bỏ rơi rất nhiều người dân đã tin tưởng và
nương tựa vào chúng ta.
Chuyện này len vào mọi cuộc thảo luận về việc rút quân khỏi Iraq. Điều ấy, dĩ
nhiên, là tính toán của Tổng Thống Bush lúc mới đây khi ông viện dẫn cái "di
chứng không thể nhầm" về thuyền nhân, trại học tập cải tạo, và các cánh đồng
chết dùng tranh biện chống lại việc rút khỏi Iraq.
Những phê phán của ông Bush đã phát sinh ra những tranh cãi đáng kể về giá trị
của những so sánh chuyện Việt nam và thẩm quyền nói đến chuyện ấy của vị Tổng
Thống vốn đã tránh né nghĩa vụ tại Việt nam. Hẳn có một sự mỉa mai to đùng trong
việc viện dẫn "di chứng Việt nam" của chính phủ khi từng vận động náo nhiệt để
chống một di chứng còn hiển nhiên hơn nữa -- Sự quay ngoắt về hướng tự cô lập
theo sau cuộc chiến (VN) -- vào lúc họ có chủ tâm vào một cuộc phiêu lưu quân sự
khác. Hiện nay khi áp lực đang leo thang để chấm dứt cuộc phiêu lưu này, cũng
là, điều quan trọng để tránh tái hồi một vòng cô lập khác, cũng như tránh một
cuộc chiến hỗn độn. Để thực hiện điều ấy, tôi nghĩ chúng ta nên công nhận một di
chứng Việt nam khác, cái nằm trong chính nhóm từ (VN) ấy.
Nhiều người Mỹ trở về từ Việt nam sửng sốt thấy ra "Việt nam" có nghĩa hoàn toàn
khác tại quê nhà. Nó chẳng còn (dùng để) chỉ đến đất nước mà chúng ta từng cố
gắng, dù tốt hay xấu, giúp đỡ, và biến thành quen tay với cơn khủng hoảng khổng
lồ về sự chính danh ở trong nước.
Tôi chẳng có ý cho rằng người Mỹ bị lôi cuốn vào cuộc đụng độ tròng tréo ấy là
nhẫn tâm hay cay độc, nhưng với hầu hết bọn họ, cuộc chiến Việt nam đã trở thành
thua trong cuộc xung đột theo sau đấy, ở trong nước, về mặt giá trị đạo đức của
chiến tranh, việc thực hành quyền lực, cuộc động viên quân sự. Ngần ấy, đối với
họ, trở thành "Việt nam".
Đến nay, có quá ít, đến độ thảm thương, văn chương từ phía bên kia viết về cuộc
chiến ấy; tác phẩm mãnh liệt "Novel Without A Name" (Tiểu Thuyết Vô Đề) của
Dương Thu Hương là một tác phẩm hiếm hoi nói về cuộc chiến ấy như thế nào đối
với người Việt ở miền Bắc. Sự diễn giải của chúng ta (về cuộc chiến ấy lại) là
đám trẻ mang lẳng hoa đối với dân đội mũ bảo hộ (1), là Robert McNamara đối với
Jane Fonda, là đám "ưu việt nhất", là đám "ục ịch" đóng vảy, và đám "cựu chiến
binh Việt nam" chống xã hội, cùng 58,256 tên tuổi được khắc lên bức tường đá đen
tại đài kỷ niệm chiến tranh Việt nam ở Washington. Những "di chứng" chúng ta
tổng hợp lại thì có ít những điều nói về việc chúng ta đi khuấy đảo một nước
ngoài hơn là những điều nói về các chấn thương mà chúng ta phải chịu đựng tại
quê nhà.
Ông Bush đã đúng qua các phê phán về Việt nam, mặc dù đấy chẳng phải là cách mà
ông đã có chủ ý. Hoa Kỳ phải rút ra khỏi Iraq, đó là điều đã được minh chứng,
nhưng chúng ta không thế rời khỏi đấy theo cách chúng ta đã rời khỏi Việt nam,
vào cực điểm của việc tự mê hoặc, lũng đoạn chính trị, trốn tránh thực tế và hổ
thẹn, trong lúc ấy số phận của nhiều người Việt lại đơn giản trở thành thiệt hại
phụ trong cuộc tự đấu tranh với chính bản thân của chúng ta. Dự kế cho cuộc rút
quân phải có các khoản dành cho những người Iraq đã đặt niềm tin vào chúng ta,
và điều này bao gồm việc tái định cư nhiều người tại Hoa Kỳ. Rút quân khỏi Iraq
đơn giản không thể có nghĩa là bỏ rơi Iraq.
Trung Cang lược dịch
(1) Ám chỉ các cuộc biểu tình của sinh viên thuộc phe phản chiến và giới công
nhân nghiệp đoàn thuộc phe chủ chiến