Việt Nam đối mặt với cuộc khủng hoảng và tương lai của chế độ
Nguồn: Philippe Delalande, Le Monde
ViAn, X-Cafe chuyển ngữ
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 11 sẽ tổ chức vào tháng 1 năm 2011. Nó sẽ thay mới một số các nhà lãnh đạo, thiết lập một hướng giải quyết cho nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng và, cuối cùng, cải thiện chức năng của hệ thống chính trị.
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, đang hoàn tất nhiệm kỳ thứ hai của mình và không thể gia hạn. Các ứng viên của chức Tổng Bí Thư phải hội đủ ba điều kiện. Phải ít hơn 65 tuổi để không quá 70 tuổi sau nhiệm kỳ năm năm của họ, phải là thành viên Uỷ ban Trung ương Đảng. Nhưng trên thực tế, Tổng Bí thư là từ Bộ Chính trị gồm 15 thành viên, là trụ sở các nhà lãnh đạo chính của nhà nước. Cuối cùng, theo một quy tắc bất thành văn, vị trí này phải đến từ phía Bắc.
Chủ tịch nước hiện tại (Nguyễn Minh Triết), 68 tuổi, cũng sẽ bỏ trống ghế của ông giống như ông Chủ tịch Quốc hội (Nguyễn Phú Trọng), 66 tuổi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã 61 tuổi, nhưng ông ta là người miền Nam. Có vẻ như ông ta sẽ được tái bổ nhiệm vị trí (thủ tướng) của mình, để lại sẳn chức Tổng Bí thư cho nhân vật phía Bắc. Rồi sao nữa? Những dự đoán này cũng đang được truyền tụng tại Hà Nội.
Một cái tên được truyền đi nhiều hơn những người khác: Tô Huy Rứa. Ông ta được đề bạt vào Bộ Chính trị sau Đại hội năm 2006, rồi bởi Uỷ ban Trung ương Đảng vào tháng 1 năm 2009. Đây có thể là một dấu hiệu của sự bổ sung đã được chuẩn bị. Quan trọng hơn, ông ta nắm giữ một chức vụ chiến lược trong Bộ chính trị. Ông ta giử ghế Trưởng ban tuyên giáo trung ương đảng. Ông ta có quyền hành cao cấp về học thuyết của đảng và đào tạo cán bộ. Người ta nói rằng ông ta rất cương quyết. Ông ta quan tâm việc tăng cường sức mạnh của đảng, khuôn khổ chính trị của đất nước, mà không làm cho nó cứng ngắt, giáo điều và khép kín, bảo thủ. Các vị trí của Chủ tịch nước và Quốc hội cũng sẽ được bổ khuyết. Các cuộc đàm phán, mặc cả đã được mở ngỏ!
Các vấn đề cần giải quyết là rất cấp bách. Cuộc khủng hoảng đã làm rung chuyển lòng tin vào một sự tăng trưởng mạnh ổn định, kể từ năm 1991. Nửa đầu năm 2008 đã cho thấy lạm phát tăng tốc lên 28% theo một xu hướng hàng năm. Người Việt Nam, những người chưa bao giờ có sự tự tin nhiều đối với những tiền Đồng của mình, họ rời bỏ nó mà ngã về phía tiện lợi của vàng và đồng đô la. Thị trường chợ đen các loại ngoại tệ lại nổi lên. Chính quyền đã gây ra cảm giác hoảng sợ. Họ đã cố gắng để làm giảm lượng cung tiền, ngăn cấm nhập khẩu vàng. Các cuộc đình công xảy ra khắp nơi đối mặt với sức mua bị giảm sút.
May mắn thay, vào cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế từ phương Tây đã ổn định giá nguyên liệu và sản phẩm nhập khẩu. Nhưng xuất khẩu sang thị trường Hoa kỳ và châu Âu đã giảm mạnh.
Một kế hoạch phục hồi đã được triển khai. Vào cuối năm 2009, mức tăng trưởng sản phẩm nội địa (GDP) đứng ở mức 5,1%, điều đó không phải là quá tệ. Thế nhưng Việt Nam tích lũy nhiều thâm hụt, thâm hụt ngân sách quốc gia đến 9% của GDP, thâm hụt thương mại và thâm hụt về cán cân thanh toán. Dự trữ ngoại hối bao gồm thiếu hụt ba tháng nhập khẩu. Giới hạn của Việt Nam là phụ thuộc vào các nguồn lực nước ngoài. Giá trị xuất khẩu chiếm gần 70% GDP. Đất nước này phải dựa vào dòng chảy đầu tư nước ngoài để cân bằng cán cân thanh toán của nó.
Đó là không kể đến các khoản nợ đáo hạn với Quỹ Tiền tệ Quốc tế vào cuối năm 2010. Nếu như tình trạng này là yếu kém, nhưng mà nó không đến nổi là nguy kịch. Công nợ chỉ chiếm 48% GDP. Vào khi châu Á trở thành động lực phát triển toàn cầu, thì Việt Nam cũng được hưởng lợi. Nhưng Việt Nam, quá dễ bị biến động trong nền kinh tế toàn cầu, phải thật cẩn trọng đối với việc mất kiểm soát cho mô hình phát triển của nó. Đảng cộng sản phải rút tĩa bài học từ thời kỳ này, phải cải tiến quy trình ra quyết định của mình, tránh sự mập mờ, không rỏ ràng vào những năm 2008-2009. Đây sẽ là chủ đề của Đại hội.
Tại Trung Quốc, Hồ Cẩm Đào vừa là Tổng Bí thư đảng, người đứng đầu nhà nước và Chủ tịch Ủy ban quân sự trung ương. Ông ta có thẩm quyền trong đảng, chính quyền, quân đội, và có thể hòa giải những tranh chấp. Không giống như vậy tại Việt Nam. Chức Tổng bí thư đảng này chỉ có tác động chừng mực. Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, lấy cảm hứng từ Trung Quốc, đã từng đề xuất rằng Tổng Bí thư cũng nên là chủ tịch nước, đề nghị đó đã bị bác bỏ. Một số người đã tiếc nuối cho đề xuất này. Có ít khả năng đại hội sắp tới sẽ xem xét lại việc từ chối này. Người ta không thể chắc rằng nhân vật Tổng bí thư sắp tới có áp đặt các quyết định và phân xử nhanh chóng.
Cuộc chiến chống tham nhũng là một chủ đề của những bài phát biểu từ các nhà lãnh đạo chính trị tại Việt Nam. Các thính giả thì đã hoài nghi. Việt Nam đứng thứ 120 trong số 180 quốc gia trong bảng xếp hạng các nước theo mức độ tham nhũng, được thành lập theo báo cáo mới nhất của Tổ chức Minh bạch Quốc tế. Và báo cáo năm 2010 của Ngân hàng Thế giới về phát triển tại Việt Nam trình bày một nghiên cứu về tham nhũng: 65% người Việt Nam nhận định tệ tham nhũng là một vấn nạn lớn.
Nó làm xói mòn lòng tin nơi công chúng đối với các nhà lãnh đạo của họ. Tuy nhiên, một luật chống tham nhũng toàn diện đã được ban hành vào năm 2005. Trong một hệ thống mà nó không công nhận, theo định nghĩa, chính trị đối lập và phản biện, nhằm lên án các quyền lực tham nhũng, người ta đã không thể dựa vào các thẩm phán để thực thi luật pháp. Tuy nhiên ở Việt Nam, những thẩm phán đó được bổ nhiệm cho nhiệm kỳ năm năm và có thể không được gia hạn. Đây không phải là cách tốt nhất để đảm bảo sự độc lập của công lý. Không nghi ngờ gì nữa, một áp lực của nền tư pháp và nền tảng đảng sẽ ghi những vấn đề này vào chương trình nghị sự của Đại hội.
Các mối quan hệ khó khăn với Trung Quốc là một chủ đề mang tính thời sự tại Việt Nam. Các tranh chấp thì rất nhiều: sự chiếm đóng của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, tình trạng suy thoái ở Đồng bằng sông Cửu Long dưới tác động của các đập nước mà Trung Quốc gia tăng ở thượng nguồn, những dự án đầu tư có nguồn gốc từ Trung Quốc bất chấp sự hủy hoại, xâm phạm môi trường tại các mỏ Bauxite, các vùng cao nguyên hoặc trong các khu rừng đầu nguồn của các tỉnh vùng cao phía Bắc vì quyền lợi của các khu công nghiệp đồn điền , cuộc xâm chiếm của các sản phẩm Trung Quốc tại thị trường Việt Nam ... Nhưng Bộ Chính trị hiện nay hy vọng rằng những tranh chấp đó sẽ được giải quyết trong quan hệ ngoại giao bí mật. Có thể những vấn nạn này sẽ bị ngăn cản nếu chúng được đem ra tranh luận tại Quốc hội? Không có gì là ít chắc chắn cả.
Không thật sự có việc phân chia trên các mục tiêu của chính sách kinh tế và xã hội: phục hồi tăng trưởng trở lại, duy trì sự kiểm soát công khai những phát triển, giảm sự bất bình đẳng, phát triển thị trường nội địa và phúc lợi xã hội. Có một số bóng đen biểu hiện trong thứ tự ưu tiên trong số những mục tiêu này. Chúng không phải là những thứ thực sự làm chia rẽ đảng (cộng sản). Cái vấn đề lớn là “quá trình dân chủ hóa” của chế độ chính trị theo nghĩa tiếng Việt của từ này. Loại trừ vấn đề của việc từ bỏ độc đảng. Nhưng liệu người ta có chịu mở rộng không gian của tự do, đảm bảo hiệu quả, giảm bớt kiểm duyệt, bảo đảm sự độc lập nhất định của công lý trong khuôn khổ hệ thống?
Trong đảng, có nổi sợ hãi sợ những hậu quả của tự do hóa như vậy, nhưng những người khác thì tin rằng đó là cách duy nhất để đảm bảo tính bền vững của chế độ này. Họ nghĩ rằng: Điều này có những lợi điểm. Nó sẽ đảm bảo ổn định chính trị và thống nhất trong cả nước, nó đề ra một chính sách lâu dài, thuận lợi cho những chính sách dài hạn nhằm tránh khỏi sự thay đổi bất thường của các biến chuyển. Nhưng người ta cần phải thích ứng với đòi hỏi của thời gian. Đặc biệt là tại vùng Đông Nam Á đầy rối ren, kết cục đặt cược của người Việt Nam sẽ ảnh hưởng tác động đến toàn vùng.
Philippe Delalande, kinh tế gia, thành viên Tương lai châu Á Thế kỷ 21
- 10771 reads
