|
|
(VietNamNet)- Người Việt Nam sau này sẽ
được hãnh diện về lòng quả cảm và những nỗ lực phi thường mà thế hệ hôm nay sẽ
xiết chặt hàng ngũ để làm nên một nước Việt Nam hùng cường? Hay, họ sẽ phải hổ
thẹn về vị thế yếu hèn của dân tộc trong cộng đồng thế giới?
>>>Bài 1: Yêu cầu khẩn thiết của đột phá
Trong khuôn khổ có hạn, bài viết này đề cập đến bốn nội dung
của triết lý phát triển mà chúng ta cần có đột phá trong nhận thức. Bốn nội
dung đó là (1) Các yếu tố nền tảng của phát triển; (2) Thế mạnh cốt lõi và
điểm yếu dễ tổn thương của dân tộc; (3) Sức mạnh của Dân chủ; và (4) Vai trò
tiên phong của Hệ thống.
Các yếu tố nền tảng của phát triển
Với kỳ vọng đẩy nhanh nhịp độ công nghiệp hóa và tốc độ tăng trưởng, chúng ta
đã đầu tư rất lớn vào các dự án công nghiệp thiếu sức sống như xi măng,
mía-đường, dầu khí, đóng tàu; trong khi xem nhẹ những yếu tố nền tảng, cực kỳ
quan trọng không chỉ cho tăng trưởng hiện tại, mà cả phát triển trong tương
lai.
Vệt Nam cất cánh (Ảnh tư liệu)
Lý thuyết tăng trưởng trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm phát
triển toàn cầu chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng GDP của một quốc gia quyết định
chủ yếu bởi mức thu nhập bình quân đầu người hiện tại, các yếu tố
khách quan, và các yếu tố nền tảng
(1).
Mức thu nhập bình quân đầu người có tác động âm tới tốc độ tăng
trưởng; nghĩa là, khi mức thu nhập cao lên thì
tốc độ tăng trưởng có xu hướng thấp xuống. Nói một cách khác
đi, nếu hai nước có điều kiện khách quan và nền tảng gần giống nhau, nước
nghèo hơn thường có tốc độ tăng trưởng cao hơn (tổng kết này thường được
gọi là qui luật hội tụ có điều kiện).
Các yếu tố khách quan liên quan tới tiến bộ về khoa học công
nghệ, toàn cầu hóa, thiên tai-dịch bệnh, biến động của giá dầu và tăng trưởng
của các nền kinh tế lớn.
Các yếu tố nền tảng gắn với nguồn vốn con người (trình độ học
vấn, sức khỏe, ý chí vươn lên, tính sáng tạo); thiết chế vĩ mô (ổn định chính
trị, hệ thống luật pháp, chất lượng của bộ máy quản lý nhà nước…); và hạ tầng
cơ sở (hệ thống giao thông, cung ứng điện-nước, dịch vụ tài chính ngân hàng).
Tăng trưởng khá cao của nước ta trong thời kỳ đổi mới bắt nguồn
từ cả ba nhóm yếu tố. Thứ nhất, thu nhập bình quân đầu người của nước ta ở vào
mức rất thấp; so với mức thu nhập bình quân đầu người của nước ta năm 2005,
Indonesia và Phillipines hơn ta 2 lần, Trung Quốc: 2,7 lần, Thái Lan: 4,4 lần;
Hàn Quốc: 26 lần; Nhật Bản: 56 lần). Thứ hai, bối cảnh khách quan cho
phát triển của nước ta rất thuận lợi, đặc biệt là tốc độ phát triển bùng nổ
của nền kinh tế Trung Quốc, công nghệ thông tin, và toàn cầu hóa. Thứ ba, là
các yếu tố nền tảng. So với các nước nghèo, chúng ta có nguồn nhân lực vượt
trội hơn hẳn về giáo dục và tính năng động; về thiết chế vĩ mô, chúng ta đã có
bước tiến lớn về cải cách hệ thống luật pháp và cơ chế quản lý kinh tế, tạo
điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài hoạt động ngày càng
thuận lợi. Về hạ tầng cơ sở, chúng ta đã có những những bước tiến vượt bậc.
Thế nhưng, một câu hỏi cần đặt ra là “tại sao tăng
trưởng của chúng ta thấp hơn hẳn Trung Quốc trong suốt hai mươi năm
qua?”
Nguyên nhân không thể là yếu tố mức thu nhập đầu người vì chúng
ta ở mức thấp hơn Trung Quốc; và do đó lẽ ra chúng ta phải tăng trưởng cao hơn
qui luật hội tụ (theo ước tính của tác giả, yếu tố này cho phép Việt Nam tăng
cao hơn Trung Quốc khoảng 1%).
Nguyên nhân cũng không thể là các yếu tố khách quan, vì điều
kiện khách quan cho phát triển của cả hai nước cơ bản giống nhau, nếu không
nói là Việt Nam có phần thuận lợi hơn. Chẳng hạn, mức viện trợ quốc tế tính
trên bình quân đầu người của Việt Nam trong giai đoạn 1990-2004 cao gấp hơn
sáu lần so với Trung Quốc.
Như vậy, nguyên nhân rõ ràng nằm ở các yếu tố nền tảng. Dưới
đây chỉ xin nêu ra mấy ví dụ về sự thua kém của chúng ta so với Trung Quốc
trên một số thước đo có liên quan tới việc chăm lo phát triển nguồn lực con
người và chất lượng của thiết chế vĩ mô.
Về chăm lo phát triển nguồn lực
Trước hết, hệ thống giáo dục của Trung Quốc có những tiến bộ hơn hẳn Việt Nam, thể hiện ở một số điểm nổi bật sau:
+ Tỷ lệ học sinh độ tuổi 15-24 mù chữ giảm từ 4,5% năm 1990 xuống 1% năm 2004 trong khi tỷ lệ này của Việt Nam tăng từ 5,5% lên 6% (2).
+ Hệ thống giáo dục đại học của Trung Quốc đã được cải cách
mạnh mẽ theo hướng 3D (Decentralization=Tự chủ hóa; Depoliticization=Phi Chính
trị hóa; Diversity=Đa dạng hóa), và 3C (Commercialization=Thương
mại hóa; Competition=Cạnh tranh; Cooperation=Hợp tác).Kết quả
là các trường đại học phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Số
lượng trường đại học tư tăng từ số 0 năm 1985 lên 1.300
năm 2000. Các trường đại học gia tăng nhanh số lượng bài nghiên cứu, sáng chế,
phát minh và đặc biệt bám sát nhu cầu ứng dụng và đòi hỏi của thị
trường; thu nhập từ các doanh nghiệp khoa học-kỹ
thuật của 13
đại học đầu đàn đạt trên 7 tỷ USD năm 2004
(3). Thêm nữa, hai đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa của
Trung Quốc được xếp vào các đại học hàng đầu thế giới
(4).
Thứ hai, Việt Nam đang đứng trước những vấn đề đáng lo
ngại về chất lượng hệ thống y tế và nếp sống lành mạnh. Chẳng hạn, số lượng
các bà mẹ bị tử vong khi sinh con (tính trên 100.000 lần sinh) tăng từ 95 năm
1995 lên 130 năm 2004; trong khi chỉ số này của Trung Quốc giảm từ 60 xuống
56. Về chỉ số người nhiễm HIV trên
1.000 dân, Việt Nam đang ở trong xu thế tăng và chỉ
số này của Việt Nam vào năm 2005 cao gấp 6,3 lần
so với Trung Quốc, 12 lần so với Hàn Quốc,
và 24 lần so với Nhật Bản. Số lượng người chết vị bệnh
AIDS ở Việt Nam tăng từ lên 8.900 năm 2003 lên 13.000 năm 2005, gấp hàng chục
lần Nhật Bản hay Hàn Quốc (5).
Thứ ba, là về an toàn cá nhân. Mức tai nạn giao thông
cao, bạo lực, và trộm cắp, trấn lột, lừa đảo đang trở thành vấn nạn ở Việt
Nam. Chỉ số tai nạn giao thông đường bộ (tính trên 100.000 dân) của Việt Nam
cao hơn và tăng nhanh hơn Trung Quốc. Chỉ số này của Việt Nam so với Trung
Quốc cao gấp 1,3 lần vào năm 1998 và 1,7 lần vào năm 2003
(6). Theo thống kê này, nếu chỉ số tai nạn giao
thông của Việt Nam giữ được ở mức của Trung Quốc, thì mỗi năm, hàng nghìn
đồng bào ta (năm 2003 là 5.000 người) sẽ tránh được cái chết oan khốc này.
Về thiết chế vĩ mô
Ngân hàng thế giới, trên cơ sở nhiều nguồn tài liệu khảo sát,
đưa ra đánh giá thường kỳ chỉ số chất lượng thiết chế vĩ mô của mỗi nước trong
so sánh toàn cầu (7). Lược đồ 2 chỉ ra Việt Nam trong so
sánh với Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, và Singapore trên một số chỉ số chủ
yếu của chất lượng thiết chế vĩ mô: “Ổn định chính trị”, “Chất lượng chính
sách”, “Hiệu lực Chính quyền”, và “Kiểm soát tham nhũng”. Con số trên thanh
biểu đồ chỉ ra đẳng cấp của mỗi quốc gia theo từng tiêu chí (thể hiện bởi số
lượng phần trăm trong tổng số 213 quốc gia và lãnh thổ xếp hạng đứng thấp hơn
quốc gia đó trên chỉ số được xem xét).
Lược đồ 2 cho thấy, Việt Nam có vị trí khá cao và lợi thế quan
trọng về ổn định chính trị, song chúng ta còn ở vị thế rất yếu trong các tiêu
chí khác, đặc biệt là các tiêu chí “ chất lượng chính sách” và “kiểm soát tham
nhũng.”
Lược đồ 2: Việt Nam trong so sánh với các nước về trên các tiêu chí về thiết chế vĩ mô
Biểu đồ so sánh giữa Việt Nam với các nước về thiết chế vĩ mô
Một minh chứng khác liên quan đến hạn chế và tính dễ thỏa mãn
của chúng ta trong quản lý. Tổn thất điện so với tổng lượng điện sản xuất của
chúng ta ở dừng ở mức khoảng 14% từ năm 2000 đến nay sau khi giảm được mức khá
cao trong các năm trước đó (15-20%). Chúng ta dường như không trăn trở phấn
đấu để đạt được mức tổn thất thấp như nhiều nước khác. Chẳng hạn như, vào năm
2003, mức tổn thất điện của Trung Quốc là 6,5%, của Thái Lan là 7,3%, của
Malaysia là 4,6%, và của Hàn Quốc 3,2%. Nếu ngành điện của ta giảm được tổn
thất điện năng xuống mức của Thái Lan (7,3%) hay Trung Quốc (6,5%), chúng ta
sẽ có thêm 2-3 tỷ Kw/h mỗi năm, và như vậy sẽ không chỉ tránh được việc cắt
điện mà còn thu thêm được trên 100 triệu USD mỗi năm.
Thế mạnh cốt lõi và những điểm yếu dễ tổn thương của
dân tộc
Do đặc thù của lịch sử, yếu tố địa lý, và nhân chủng học, mỗi
dân tộc trong quá trình phát triển của mình đều hình thành nên những thế
mạnh cốt lõi và những điểm yếu dễ tổn thương.
Thế mạnh cốt lõi của một dân tộc có ba đặc trưng chính (8): thứ
nhất, nó giúp tạo nên giá trị thứ hai, nó có thể áp dụng trong khắp mọi ngành
nghề; và thứ ba, người dân coi nó như một thuộc tính tự nhiên và cảm thấy phấn
khích khi nó được khơi dậy và phát huy.
Những điểm yếu dễ tổn thương của một dân tộc thể hiện ở ba
điểm: thứ nhất, nó gây tổn thất cho sức phát triển của dân tộc; thứ hai, nó
rất dễ trỗi dậy và bùng phát khi có cơ chế thuận lợi; và thứ ba, người dân coi
nó như một thuộc tính tự nhiên và có thể mất đi cảm xúc bị dằn vặt khi phải
sống chung với nó.
Một trong những đặc thù quyết định đặc tính người Việt Nam có
liên quan lịch sử hàng nghìn năm đan xen giữa những năm tháng chịu nhẫn nhục
với sự khôn khéo linh hoạt để tồn tại dưới ách thống trị của ngoại bang và ý
chí quật khởi, sẵn sàng chấp nhận hy sinh để giành và giữ độc lập.
Về địa lý, Việt Nam có thế mạnh cốt lõi về vị trí chiến lược và
sự đa dạng và khá thuận hòa của khí hậu.
Về đặc tính con người, như đã được đề cập trong nhiều nghiên
cứu, thế mạnh cốt lõi của Việt Nam nổi bật ở lòng yêu nước và tinh thần quật
khởi, đặc biệt trong những tình thế s ống còn của dân tộc; ở trí thông minh và
sự năng động, ở sự coi trọng đặc biệt việc đầu tư vào giáo dục; và ở tính vị
tha, chu đáo, và tinh tế.
Các điểm yếu dễ tổn thương của Việt Nam có lẽ cũng nằm ở đặc
tính dân tộc. Thứ nhất đó là ở tính thiếu duy lý, dễ ảo tưởng (có lẽ do quá
nhiều năm phải mơ tưởng đến ngày thoát khỏi ách đô hộ và thiếu cơ hội trải
nghiệm qua những qui luật khắt khe và sòng phẳng của kinh tế thị trường); thứ
hai, đó là tính coi thường nguyên tắc, không ngại nói dối hoặc làm sai nguyên
tắc để được việc (có lẽ do phải tìm cách tồn tại được dưới sự thống trị và
kiểm soát hà khắc quá lâu); và thứ ba, đó là tính dễ thỏa mãn, thích phô
trương, hưởng lạc khi có điều kiện.
Thực tế phát triển chỉ ra rằng, một dân tộc có thể làm nên
những kỳ tích phi thường khi thế mạnh cốt lõi của họ được khơi dậy và phát
huy; song dân tộc đó cũng có thể rơi vào tình trạng trì trệ, sa sút khi những
điểm yếu dễ tổn thương của họ có cơ hội bùng phát.
Sự nổi lên đặc sắc của một số công ty trên thị trường chứng khoán vừa qua một phần là nhờ các công ty này đã biết bật lên trên nhờ tựa trên thế mạnh cốt lõi của đất nước. Chẳng hạn như FPT (phần mềm) nhờ vào khai thác trí tuệ người Việt; Minh Phú (Thủy sản) nhờ vào tính chu đáo và tinh tế trong bán hàng và lợi thế địa lý của nước ta trong sản xuất nông sản. Tân Tạo nhờ vào tính linh hoạt trong nắm bắt thời cơ và lợi thế vị trí địa lý.
Theo một cách nhìn về chiến lược kinh doanh, thế mạnh cốt lõi
của dân tộc Viêt Nam khi được khơi dậy và phát huy sẽ trở thành nền tảng vững
chắc cho các công ty Việt Nam có sức cạnh tranh quốc tế đặc sắc trong các lĩnh
vực dịch vụ y tế, giáo dục, công nghệ thông tin-sinh học, du lịch, vận tải
hàng không và đường biển, sản xuất và chế biến thực phẩm.
Thế nhưng, nhiều công ty của Việt Nam, dù đã có ít nhiều thành
công, cũng có thể sẽ thất bát, thậm chí suy sụp, nếu họ dung dưỡng trong hệ
thống quản lý của mình những điểm yếu dễ tổn thương của người Việt Nam ta, đó
là sự ảo tưởng-thiếu thực tế, tính tùy tiện và không ngại nói dối, và cách làm
gian dối, tính dễ thỏa mãn, thích phô trương, hưởng lạc.
Mặc dù trong bối cảnh quốc tế rất thuận lợi, sự nghiệp phát
triển nước ta hiện nay vẫn còn đang đứng trước những nguy cơ rất lớn có liên
quan đến sự sa sút trong nền tảng phát triển. Một trong những nguyên nhân quan
trọng là do cơ chế hiện nay của chúng ta chưa khơi dậy được (nếu không nói là
đã làm nhụt đi) thế mạnh cốt lõi của dân tộc; trong khi lại tạo nên môi trường
dung dưỡng cho các điểm yếu dễ tổn thương bùng phát và lây lan.
Cụ thể là, ý chí chiến lược trong phát triển của chúng ta thấp,
lại bị ràng buộc những tư tưởng giáo điều đã làm nhụt đi khát vọng và tinh
thần quật khởi của dân tộc; chúng ta dồn nguồn lực cho nhiều dự án công nghiệp
duy ý chí thay vì đầu tư cho chăm sóc và phát triển nguồn lực con người. Bộ
máy công quyền của chúng ta với một bộ phận khá đông đã trở nên vô cảm làm
thui chột tính vị tha và lòng nhân ái của người dân. Tham nhũng, tiêu cực và
quản lý yếu kém tạo cơ hội cho nhiều người giàu lên nhanh chóng không bằng lao
động chân chính làm cho người dân càng ảo tưởng về về cách làm giàu chụp giật.
Hệ thống lương bổng bất hợp lý, hệ thống luật pháp thiếu minh bạch, sự lạm
dụng quyền lực khuyến khích sự gian dối và chèn ép sự ngay thẳng. Cơ chế lựa
chọn và giám sát cán bộ thiếu dân chủ, khoa học sinh ra nhiều quan chức bê
tha, hưởng lạc, sính phô trương và thành tích không thực chất, làm người dân,
đặc biệt thế hệ trẻ, không còn thấy xấu hổ khi sa đà vào con đường này.
Nếu không có đột
phá để tiết chế các điểm yếu dễ tổn thương này của dân tộc, tình thế phát
triển của Việt Nam sẽ đứng trước những khó khăn còn nghiêm trọng hơn trong
tương lai. Tính ảo tưởng sẽ làm nạn cờ bạc, hủ tục mê tín dị đoan, và cách làm
ăn chụp giật lan tràn. Tính thiếu ngay thẳng sẽ làm tình trạng gian dối ngày
càng phổ biến và ăn sâu vào mọi lĩnh vực, đặc biệt trong sản xuất và chế biến
thực phẩm, giáo dục, tư pháp, và tuyển chọn-đề bạt cán bộ. Tính dễ thỏa
mãn-thích hưởng lạc sẽ làm tắt ngấm mọi khát vọng đổi thay và chấp nhận sự
hoành hành của nạn tham nhũng, ma túy, và mãi
dâm.
Vũ Minh Khương (trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore)
| NuocNon | |
| 77 | |
| TracTreo | |
| 81 | |
| NimaxNiJesus | |
| 30 | |
| Fnguyen | |
| 15 | |
| Tho_Than_Than_Tho | |
| 30 | |
| Oldman | |
| 56 | |

