George Orwell - Tự do báo chí

Nguồn: www.orwell.ru

ViAn, X-Cafe chuyển ngữ

Cuốn sách này lần đầu tiên được nghĩ đến là vào năm 1937, với ý tưởng trung tâm được phác họa , nhưng đã không được viết xuống cho mãi đến cuối năm 1943. Bởi vào lúc được viết, điều rõ ràng là sẽ có khó khăn lớn trong việc nó được xuất bản (dẩu rằng với tình trạng thiếu hụt sách hiện nay, chắc chắn rằng bất cứ thứ gì mà được xem như là một cuốn sách thì cũng sẽ “bán chạy như tôm tươi”), vậy mà trong trường hợp này, cuốn sách đã bị từ chối bởi bốn nhà xuất bản.

Chỉ có một trong số này có một chút động cơ về ý thức hệ. Hai trong số đó đã từng xuất bản những cuốn sách bài Nga trong nhiều năm, và nhà xuất bản còn lại chẳng hề có chút để ý gì đến màu sắc chính trị.

Thực ra, có một nhà xuất bản khởi đầu chấp nhận cuốn sách, nhưng sau khi thực hiện các thoả thuận sơ bộ, ông ta quyết định tham khảo ý kiến của Bộ Thông tin, những người này dường như đã cảnh báo ông ta, hoặc đã mạnh mẽ khuyến cáo ông ta là bất kể như thế nào cũng phải chống lại việc xuất bản cuốn sách này.

Dưới đây là một đoạn trích từ bức thư của ông ta:

Tôi có đề cập đến phản ứng mà tôi đã nhận từ một quan chức quan trọng trong Bộ Thông tin đối với cuốn "Animal Farm." Tôi phải thú nhận rằng việc diễn đạt ý kiến nầy đã khiến cho tôi suy nghĩ một cách nghiêm túc ... Ngay bây giờ, tôi có thể nhận thấy rằng nó có thể được coi là một cái gì đó thật quá khờ dại để xuất bản tại thời điểm hiện nay.

Nếu như chuyện ngụ ngôn đề cập một cách thông thường tới các nhà độc tài và những chế độ độc tài nói chung, thì chuyện xuất bản sẽ không sao, nhưng cái chuyện ngụ ngôn này, theo như tôi thấy bây giờ, nó hoàn toàn theo đuổi những diễn tiến của các nước Sô viết thuộc Nga và hai kẻ độc tài của họ, với sự loại trừ các chế độ độc tài khác thì nó chỉ có thể áp dụng cho Nga mà thôi.

Còn một việc khác nữa: điều ít gây khó chịu hơn nếu như đẳng cấp chiếm ưu thế trong chuyện ngụ ngôn này không phải là mấy con lợn [*]. Tôi nghĩ rằng việc lựa chọn mấy con lợn như là giai cấp cầm quyền, không nghi ngờ gì nữa, sẽ gây khó chịu, bực mình đối với nhiều người, và đặc biệt cho bất kỳ những ai nhạy cảm, chắc chắn đó chính là những người Nga.

Cái chuyện kiểu này không phải là một triệu chứng tốt. Rõ ràng điều chẳng ai mong muốn rằng một cơ quan Chính phủ nên có bất cứ quyền lực kiểm duyệt nào lên trên những cuốn sách mà không được tài trợ một cách chính thức (trừ kiểm duyệt an ninh, mà không có ai phản đối trong thời gian chiến tranh). Nhưng nguy cơ chính đối với tự do tư tưởng và ngôn luận tại thời điểm này không phải là sự can thiệp trực tiếp của MOI (Ministry of Information) hoặc cơ quan nào chính thức.

Nếu những nhà xuất bản và ban biên tập cố ráng sức bản thân để giữ lại những chủ đề nhất định, không cho đem in ấn, đó không phải là vì họ sợ bị truy tố mà còn vì họ đang sợ hãi dư luận quần chúng.

Trong đất nước này, hèn nhát trí tuệ là kẻ thù tồi tệ nhất mà một nhà văn hay nhà báo đã phải đối mặt, và rằng vì lý do nào đó, thực tế đã không có cuộc thảo luận mà đối với tôi, lẽ ra nó xứng đáng phải có.

Bất kỳ người nào không thiên vị với kinh nghiệm báo chí, sẽ thừa nhận rằng trong thời gian chiến tranh, việc kiểm duyệt chính thức này chưa phải là sự phiền toái cá biệt. Chúng tôi đã không chịu được cái kiểu "phối hợp toàn trị," mà nó khả dĩ hợp lý để mong đợi. Báo chí có một số bất bình chính đáng, nhưng trên hết, Chính phủ cũng đã cư xử đáng khen và đã nhẫn nại đối với ý kiến thiểu số một cách đáng ngạc nhiên.

Sự thật nham hiểm về kiểm duyệt văn học tại Anh phần lớn lại là tự nguyện.

Những ý tưởng không phổ cập có thể được im lặng, và những thực tế mang tính phiền phức sẽ được lưu giữ trong bóng tối, mà không cần bất kỳ lệnh cấm chính thức nào cả.

Bất cứ ai đã sống lâu ở nước ngoài sẽ biết về những trường hợp của các mục tin tức nhạy cảm - những chuyện mà với giá trị riêng của chúng không thôi cũng sẽ có được những tiêu đề lớn, sẽ bị lưu giữ ngay trong báo chí Anh, không phải vì Chính phủ đã can thiệp nhưng vì một thỏa thuận ngầm chung rằng "sẽ không làm gì cả" để đề cập đến thực tế cụ thể đó.

Vì vậy, mức độ thông tin như các tờ nhật báo đăng có giới hạn, điều này cũng là dễ hiểu. Báo chí Anh là cực kỳ tập trung, và hầu hết chúng là thuộc sở hữu của người giàu có thế lực, những người có từng động cơ bất lương trên những chủ đề quan trọng nhất định.

Nhưng kiểu kiểm duyệt được che giấu y như vậy đối với sách báo và tạp chí, cũng được tiến hành hoạt động trong lĩnh vực kịch nghệ, phim ảnh và radio.

Tại bất cứ thời điểm nào cũng đều có một tính chất chính thống, đó là một tập hợp những ý tưởng mà nó được cho rằng tất cả mọi người có suy nghĩ đúng sẽ chấp nhận mà không cần nêu nghi vấn. Nói một cách chính xác, nó không có nghĩa là cấm nói điều này, hay điều kia, nhưng nó là "không nên, không phải lúc" để nói tới, cũng giống như trong thời mid- Victorian (1846-1886 - Chú thích của ViAn) là "không nên" đề cập đến quần khi có sự hiện diện của một phụ nữ.

Bất kỳ ai thách thức với sự chính thống đang hiện hành đó, sẽ tự thấy mình buộc im lặng với hiệu quả thật đáng ngạc nhiên. Một ý kiến dù là xác đáng nhưng không hợp thời, gần như là không bao giờ được đưa ra điều trần công bằng, cho dù là trong các báo chí phổ thông hay là trong những tạp chí định kỳ của giới trí thức.

Tại thời điểm này, những gì được yêu cầu bởi sự chính thống hiện hành là một sự ngưỡng mộ mà không mang tính chỉ trích đối với nước Nga Xô Viết. Ai cũng biết điều này, và hầu như tất cả mọi người đều hành động y như vậy.

Bất kỳ sự chỉ trích nghiêm trọng nào đối với chế độ Xô viết, bất kỳ công bố các sự kiện nào mà chính phủ Xô viết muốn giấu diếm, thì y như rằng điều tiếp theo là chúng không thể nào được đăng lên báo. Và rồi sự đồng lõa âm mưu mang tính toàn quốc này, nhằm để tâng bốc đồng minh của chúng ta đã đang diễn ra, thật là kỳ khôi, nó chống lại cái nền tảng của lòng khoan dung trí tuệ chân thật.

Cho dù bạn không được phép chỉ trích chính phủ Xô viết, ít nhất bạn vẫn còn có tự do chính đáng, hữu lý để chỉ trích chính phủ của chúng ta.

Hầu như không có bất kỳ ai dám đăng một bài tấn công đối với Stalin, nhưng lại là khá an toàn để tấn công Churchill, cho dù với bất kỳ mức độ nào, trong sách báo và tạp chí định kỳ. Và trong suốt năm năm chiến tranh, trong khoảng thời gian hai hoặc ba năm mà chúng ta đã chiến đấu cho sự tồn vong của quốc gia, vô số sách vở, tờ rơi và bài viết ủng hộ một thỏa hiệp hòa bình đã được xuất bản mà không có sự can thiệp.

Hơn thế nữa, chúng đã được xuất bản mà không gặp phản đối ồn ào nhiều cho lắm. Vì vậy, miễn là uy tín của Liên Xô không bị dây dính vào, thì nguyên tắc tự do ngôn luận đã được duy trì khá tốt.

Có những chủ đề khác bị cấm, và tôi sẽ đề cập đến một số đó ngay đây, là vì thái độ hiện hành đối với Liên Xô trở nên có nhiều triệu chứng quá nghiêm trọng. Đó là, như nó đã diễn ra, mang tính tự phát, và không phải do hành động của bất kỳ nhóm áp lực nào cả.

Với cái tinh thần lệ thuộc, phần lớn giới trí thức nước Anh đã cả tin và nhai đi nhai lại những luận điệu tuyên truyền của Nga từ năm 1941 trở đi, sẽ được xem khá đáng kinh ngạc nếu như không có việc rằng họ đã từng hành động tương tự như vậy nhiều lần trước đó.

Về vấn đề gây tranh cãi sau khi một quan điểm khác của Nga đã được chấp nhận mà không cần kiểm tra và sau đó đã được công bố công khai với việc bỏ qua hoàn toàn sự thật lịch sử lẫn khuôn thức lý trí. Để điểm ra chỉ một ví dụ, đài BBC đã kỷ niệm 25 năm của Hồng quân mà không hề nhắc gì đến Trotsky.

Điều này cũng chính xác như là kỷ niệm trận chiến Trafalgar mà không nhắc đến Nelson, vậy mà nó cũng chẳng khơi dậy một chút phản đối nào từ giới trí thức nước Anh. Trong những cuộc đấu tranh nội bộ trong các quốc gia bị chiếm đóng khác nhau, báo chí Anh hầu hết trong các trường hợp, đã đứng về phía phe ủng hộ của người Nga và phỉ báng phe đối lập, đôi khi còn lấp liếm những bằng chứng vật chất nhằm chỉ cốt để làm như vậy.

Một trường hợp đặc biệt rõ ràng là của Đại tá Mihailovich, người lãnh đạo phong trào Jugoslav Chetnik. Người Nga, họ có vùng lãnh thổ bảo hộ Nam Tư riêng của mình trong Đế chế Tito, đã cáo buộc Mihailovich cộng tác với quân Đức. Lời buộc tội này đã được đưa lên tức thời bởi báo chí Anh quốc: những người ủng hộ Mihailovich đã chẳng có một chút cơ hội để phản bác nó, và thực tế đầy mâu thuẫn, đơn giản là nó đã bị lưu giữ không cho đăng báo.

Trong tháng Bảy năm 1943 quân Đức treo giải thưởng 100.000 đồng vàng (đồng vàng curon của Anh - chú thích của ViAn) cho việc bắt giử Tito, và một phần thưởng tương tự như vậy cho việc bắt được Mihailovich. Báo chí Anh "giật tít" tin về vụ treo giải thưởng Tito, nhưng chỉ có một tờ đề cập (trong bản in nhỏ) đối với vụ Mihailovich: và những lời buộc tội về việc hợp tác với quân Đức lại vẫn tiếp tục. Có rất điều tương tự như vậy đã diễn ra trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha.

Cũng như vậy, sau đó, các phe phái ở phía đảng Cộng hòa mà Nga đã xác định để đè bẹp, đã bị bôi nhọ một cách không thương tiếc trong giới báo chí cánh tả của Anh, và bất kỳ phát biểu, tuyên bố nào nhằm tự vệ của họ cho dù bằng thư, cũng bị từ chối xuất bản.

Hiện nay, không chỉ những lời chỉ trích nghiêm trọng đối với Liên Xô coi như bị khiển trách, mà thậm chí trong một số trường hợp, ngay cả những thực tế của sự tồn tại của những lời chỉ trích như vậy cũng bị giữ bí mật.

Ví dụ, ngay trước khi cái chết của mình Trotsky đã viết một cuốn tiểu sử về Stalin. Một người có thể giả định rằng nó không phải là một cuốn sách hoàn toàn không thiên vị, nhưng rõ ràng nó đã được thương phẩm. Một nhà xuất bản Mỹ đã sắp xếp để phát hành nó và cuốn sách đã được in - có người tin rằng đã có các bài phê bình đã từng được gửi ra - khi Liên Xô tham chiến. Cuốn sách này ngay lập tức đã bị thu hồi.

Trên báo chí Anh, không một lời về việc này đã từng xuất hiện, mặc dù rõ ràng sự tồn tại của cuốn sách như thế, và cả việc thu hồi cuốn sách, có thể đã là một mục tin tức đáng giá một vài đoạn văn.

Điều quan trọng là phân biệt giữa cái loại kiểm duyệt mà giới trí thức văn chương khoa bảng của Anh tự nguyện áp đặt lên chính họ, và sự kiểm duyệt mà đôi khi có thể được thi hành bởi các nhóm áp lực. Một cách hiển nhiên, có những chủ đề nhất định, không thể được đem ra thảo luận bởi vì "những quyền lợi bất khả nhượng."

Trường hợp rất nổi tiếng là mánh lới, thủ đoạn làm tiền với những bằng sáng chế thuốc lang băm.Trường hợp rất nổi tiếng là mánh lới, thủ đoạn làm tiền với những bằng sáng chế thuốc lang băm. Hơn nữa, Giáo hội Công giáo có ảnh hưởng đáng kể trên báo chí và có thể làm im lặng những lời chỉ trích về chính nó với mức độ nào đó.

Một vụ bê bối liên quan đến một linh mục Công Giáo là gần như không bao giờ được công khai, trong khi một linh mục Anh giáo mà dính vào rắc rối (ví dụ chuyện Mục sư Stiffkey) thì sẽ trở thành là đầu đề tin tức nóng hổi.

Rất hiếm khi thấy bất cứ điều gì của một xu hướng chống Công giáo được xuất hiện trên sân khấu hay trong phim ảnh. Bất kỳ diễn viên nào cũng có thể cho bạn biết rằng một vở kịch hoặc bộ phim mà nó tấn công hoặc giểu cợt về Giáo hội Công giáo thì chắc hẳn sẽ bị tẩy chay trên báo chí và hầu như sẽ thất bại.

Nhưng những chuyện kiểu đó đều là vô hại, hoặc ít nhất nó cũng là dễ hiểu. Bất kỳ một tổ chức lớn nào cũng sẽ chăm lo lợi ích riêng của mình một cách tốt nhất mà nó có thể, và việc tuyên truyền công khai không phải là một điều để mà phản đối. Mong đợi tờ Daily Worker đăng công khai các sự kiện không thuận lợi về Liên Xô thì chẳng khác gì hơn việc ai đó mong chờ tờ Catholic Herald tố cáo Đức Giáo Hoàng. Nhưng dĩ nhiên một người có suy nghĩ tất sẽ biết tờ báo Daily Worker và Catholic Herald là nhằm phục vụ cho ai.

Điều đáng lo ngại là nơi mà Liên Xô và các chính sách của nó có liên quan, người ta không thể mong đợi những lời chỉ trích thông minh , thậm chí, trong nhiều trường hợp, thẳng thắn một cách trung thực từ những nhà văn và nhà báo Cấp tiến, những người không chịu áp lực trực tiếp làm sai lệch ý kiến của mình.

Stalin là bất khả xâm phạm và một số khía cạnh của chính sách của ông ta là không được phép thảo luận nghiêm túc. Quy tắc này hầu như đã được nhìn nhận khắp nơi kể từ năm 1941, nhưng kỳ thực ra nó đã hoạt động, với một mức độ còn lớn hơn thế, đối với mười năm trước đó.

Trong suốt thời gian đó, những lời chỉ trích đối với chế độ Xô viết từ phe cánh tả chỉ có thể có được một buổi điều trần cùng với sự khó khăn. Có một số lượng lớn văn học chống Nga, nhưng gần như tất cả chúng là từ góc độ cánh Bảo thủ và rõ ràng là không trung thực, lạc hậu và được kích động bởi những động cơ bẩn thỉu.

Ở bên phía kia, ngược lại, có một luồng tuyên truyền thân Nga mà mức độ bất lương cũng ngang tầm với rộng lớn khổng lồ của nó, và rốt cuộc là nó dẫn đến việc tẩy chay đối với bất cứ ai tìm cách để thảo luận về những vấn đề có tầm quan trọng với một phong cách trưởng thành, chín chắn.

Quả thật như vậy, bạn có thể xuất bản những cuốn sách bài Nga, nhưng làm như vậy thì đảm bảo là bạn bị lờ đi, bỏ qua hoặc bị bóp méo, xuyên tạc bởi toàn bộ hệ thống báo chí trí thức, như trường hợp của tôi. Một cách công khai lẫn riêng tư, bạn sẽ được cảnh báo rằng đó là điều "không nên làm." Những gì bạn nói có lẽ có thể là đúng, nhưng nó thì "không hợp thời, phải lúc" và bạn sẽ rơi vào bẩy của các thế lực phản động.

Thái độ này thường được dùng để biện hộ trên nền tảng mà tình hình quốc tế, và nhu cầu khẩn cấp cho một liên minh Anh-Nga, đã đòi hỏi điều đó, nhưng rõ ràng đây là một giải thích duy lý. Các trí thức Anh, hoặc một phần lớn của nó, đã phát triển một lòng trung thành ái quốc hướng về Liên Xô, và trong trái tim của họ, họ cảm thấy rằng toan tính bất kỳ nghi ngờ nào về sự khôn ngoan, thông thái của Stalin là một việc làm báng bổ.

Những sự kiện ở Nga và các sự kiện ở nơi khác đã được đánh giá bởi các tiêu chuẩn khác nhau. Các vụ xử tử bất tận trong những cuộc thanh trừng của những năm 1936-1938 đã được hoan nghênh bởi những kẻ thù truyền kiếp đối với những hình phạt tử hình, và sự việc đã được xem như là hoàn toàn thích hợp ngang bằng nhau khi công khai những nạn đói khi chúng xảy ra tại Ấn độ và ngược lại che giấu chúng khi chúng xảy ra tại Ukraine. Và nếu điều này là đúng sự thật trước chiến tranh, thì hiện tại, bầu không khí trí thức chắc chắn là cũng chẳng lấy gì tốt đẹp hơn.

Nhưng bây giờ quay trở lại cuốn sách này của tôi. Phản ứng đối với nó của hầu hết trí thức nước Anh thì sẽ khá đơn giản: "Không nên được xuất bản." Một lẽ tự nhiên, những nhà phê bình am hiểu về nghệ thuật chê bai sẽ không tấn công nó trên phương diện chính trị, mà là trên những yếu tố văn học. Họ sẽ nói rằng đó là một cuốn sách ngớ ngẩn, ngu si đần độn, và là một thứ rác rưởi đầy ô nhục của chữ nghĩa văn chương.

Điều đó cũng có thể đúng, nhưng nó rõ ràng không phải là toàn bộ câu chuyện. Một người sẽ không nói rằng một cuốn sách "không nên được xuất bản" chỉ vì nó là một cuốn sách dở tệ. Xét cho cùng, cả hàng đống, hàng mẫu những bản tin rác rưởi, nhảm nhí được in hàng ngày và chẳng có ai buồn để mắt tới.

Trí thức Anh quốc, hoặc hầu hết trong số họ, sẽ phản đối cuốn sách này vì nó phỉ báng Lãnh tụ của họ (như họ nhìn thấy điều đó) và nó gây tổn hại cho sự nghiệp tiến bộ. Nếu cuốn sách đã làm điều ngược lại, họ sẽ không có gì để nói với nó, ngay cả khi lỗi văn học của nó có rõ ràng mười mươi cũng thế.

Ví dụ, sự thành công của Left Book Club trong một khoảng thời gian bốn hoặc năm năm, cho thấy cái cách mà họ sẵn sàng chịu đựng cả hai tính thô tục và viết cẩu thả, miễn là nó nói với họ những gì họ muốn nghe.

Vấn đề liên quan đến ở đây là khá đơn giản: Mỗi một quan điểm, dù là không phổ biến - thậm chí dù là ngu xuẩn, - có được phép điều trần? Đặt nó theo hình thức đó và gần như bất kỳ nhà trí thức Anh nào cũng sẽ cảm thấy rằng ông ta nên nói "Có." Nhưng cho nó một hình dạng cụ thể, và hỏi, "Thế còn một sự công kích về Stalin thì sao? Có được cho phép điều trần không? Và câu trả lời thường xuyên không có gì khác hơn sẽ là "Không," Trong trường hợp đó tính chính thống hiện hành diễn ra được trãi nghiệm, và do đó nguyên tắc tự do ngôn luận cũng mất hiệu lực theo.

Bây giờ, khi một người đòi hỏi tự do ngôn luận và báo chí, người đó không đòi hỏi cái tự do tuyệt đối. Luôn phải có, hoặc là luôn sẽ có, trong trường hợp như vậy, một số mức độ của sự kiểm duyệt, miễn là bao lâu mà các xã hội có tổ chức còn chịu đựng được.

Nhưng tự do, như là Rosa Luxembourg nói, là "tự do cho người khác." Cùng một nguyên tắc được chứa đựng trong câu nói nổi tiếng của Voltaire: "Tôi ghê tởm những gì bạn nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến chết cái quyền được nói của bạn."

Nếu sự tự do trí tuệ, cái mà không nghi ngờ gì nữa, chính là một trong những dấu hiệu phân biệt của nền văn minh phương Tây có ý nghĩa hơn bất cứ điều gì, nó có nghĩa là mỗi người có quyền nói và in những gì ông tin là sự thật, cung cấp chỉ những gì mà nó không làm hại đến phần còn lại của cộng đồng trong một số cách thức hoàn toàn không thể nhầm lẫn.

Cả hai nền dân chủ tư bản và các phiên bản phương tây của Chủ nghĩa xã hội cho đến gần đây đều đã công nhận nguyên tắc đó. Chính phủ của chúng ta, như tôi đã chỉ ra, vẫn còn làm cho một số cử chỉ bày tỏ ra vẻ tôn trọng nó.

Những người dân bình thường trên các đường phố, có lẽ, một phần bởi vì họ không đủ quan tâm đến những ý tưởng không được dung nạp đối với họ, vẫn còn mơ hồ cho rằng "Tôi cho rằng mọi người có quyền đối với quan điểm riêng của mình.

Điều đúng nhất, trong bất kỳ trường hợp nào như vậy, một cách chủ đạo, giới trí thức khoa học văn chương, chính ra phải là những người bảo vệ cho tự do, thì họ lại là những người đang bắt đầu coi thường nó, trong lý thuyết cũng như trong thực tế.

Một trong những hiện tượng đặc thù của thời đại chúng ta là phe Cấp tiến phản bội. Hơn thế nữa, những người theo chủ nghĩa Mác quen thuộc tuyên bố rằng "tự do tư sản" là một ảo ảnh, bây giờ có một xu hướng lan tràn để tranh luận rằng người ta chỉ có thể bảo vệ nền dân chủ bằng những phương thức chuyên chế, toàn trị.

Nếu ai yêu nền dân chủ, theo lập luận tiếp tục, người ta phải đè bẹp kẻ thù của mình bằng mọi giá (cứu cánh biện minh cho phương tiện - ViAn chú thích).

Vậy thì ai là kẻ thù của nó? Luôn có vẻ rằng họ không phải duy nhất là những người tấn công nó một cách công khai và có ý thức, mà còn là những kẻ gây nguy hiểm một cách khách quan cho nó bằng cách truyền bá những học thuyết sai lầm.

Nói cách khác, bảo vệ nền dân chủ liên quan đến việc tiêu diệt tất cả độc lập của tư tưởng. Ví dụ, lập luận này đã được sử dụng để biện minh cho những vụ thanh trừng của người Nga. Những kẻ thân Nga - Russophile - hăng hái nhất hầu như không tin nổi rằng tất cả các nạn nhân phạm tội cho tất cả những điều mà họ đã bị buộc tội: chỉ bởi vì giữ những quan điểm dị biệt, họ 'khách quan' làm hại chế độ, và do đó, nó hoàn toàn đúng đắn, không chỉ để tàn sát họ, nhưng còn để làm mất uy tín họ bởi những cáo buộc sai trái.

Cũng chính luận điệu đó đã được sử dụng để biện minh cho sự dối trá hoàn toàn có ý thức, mà luận điệu đó đã đi vào trong báo chí cánh tả về chủ nghĩa Trotsky và các nhóm thiểu số khác của đảng Cộng hòa trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Và nó lại được sử dụng lần nữa như là một lý do cho việc họ ăng ẳng chống lại lệnh miễn giam giữ khi Mosley đã được thả ra vào năm 1943.

Những người này không thấy rằng nếu bạn khuyến khích các phương pháp chuyên chế, toàn trị, có thể đến một lúc nào đó, chúng sẽ được sử dụng chống lại bạn thay vì phục vụ bạn.

Thực hiện một thói quen bỏ tù những kẻ phát xít mà không cần đem ra tòa xét xử, và có lẽ quá trình đó sẽ không dừng lại ở những người theo chủ nghĩa phát xít. Ngay sau khi tờ báo bị đình bản Daily Worker đã được phục hồi, tôi đã giảng dạy tại một trường đại học của những người lao động ở phía Nam London. Các thính giả là những trí thức thuộc tầng lớp lao động và trung lưu cấp thấp - cùng một đối tượng thính giả mà người ta thường gặp tại Left Book Club.

Bài giảng này đã chạm đến tự do báo chí, và đến lúc cuối buổi, với sự ngạc nhiên của tôi, một số người chất vấn đã đứng lên và hỏi: Tôi đã không nghĩ rằng việc gở bỏ lệnh cấm tờ Daily Worker là một sai lầm lớn hay sao?

Khi được hỏi tại sao, họ nói rằng đó là một tờ báo đáng ngờ về lòng trung thành và không nên được dung thứ trong thời chiến. Tôi thấy bản thân mình bảo vệ tờ Daily Worker, mà nó thì đã đi chệch khỏi con đường của nó để bôi nhọ tôi nhiều hơn một lần.

Thế nhưng từ nơi đâu mà những người này đã học được cái nhìn chuyên chế toàn trị một cách cơ bản như vậy? Khá chắc chắn là họ đã tự học nó từ những người Cộng sản!

Lòng khoan dung và lịch sự được bắt rễ sâu ở nước Anh, nhưng chúng không phải là những thứ bất hoại, và chúng phải được giữ gìn giá trị bởi nỗ lực có ý thức.

Kết quả của việc rao giảng học thuyết chuyên chế toàn trị là để làm suy yếu bản năng bằng những phương tiện mà những con người tự do phải biết cái nào là nguy hiểm, cái nào không.

Trường hợp của Mosley minh họa điều này. Vào năm 1940, thật là hoàn toàn thích hợp để giam giử Mosley, dù cho ông ta có nhận hay không bất kỳ tội phạm nào. Chúng ta đã chiến đấu cho cuộc sống của mình và không thể cho phép một kẻ phản bội quốc gia - Quisling - có thể tự do đi lại. Giam cầm ông ta, mà không có xét xử, cho tới năm 1943 là một sự vi phạm trắng trợn.

Thất bại chung này cho thấy đây là một triệu chứng xấu, mặc dù đúng là sự kích động chống lại việc phóng thích Mosley là phần nào mang tính giả tạo và phần nào đó là một sự hợp lý hoá đối với những bất mãn khác. Thế nhưng có bao nhiêu tài liệu lướt về phía những phương cách tư tưởng của những người theo chủ nghĩa Phát xít là có thể vạch ra đối với chủ nghĩa bài Phát xít trong mười năm qua và sự vô lương tâm mà nó đã kế thừa?

Điều quan trọng để nhận ra rằng cái thói hám Nga hiện tại chỉ là một triệu chứng của sự suy yếu chung của truyền thống tự do phương Tây. Hẳn là MOI đã xen vào và chắc chắn đã phủ quyết việc xuất bản cuốn sách này, phần lớn giới trí thức Anh quốc chẳng thấy có gì đáng lo ngại trong chuyện này.

Lòng trung thành không có óc phán xét với Liên Xô diễn ra là sự chính thống hiện tại, và nơi nào mà lợi ích được xem là đúng của Liên bang Xô viết có liên quan đến, họ sẵn sàng chịu đựng, không chỉ là sự kiểm duyệt mà còn là việc cố tình làm sai lệch lịch sử.

Để nêu ra một ví dụ. Tại cái chết của John Reed, tác giả của cuốn Ten Days that Shook the World - bản tường thuật trực tiếp của những ngày đầu của cuộc Cách mạng Nga - bản quyền của cuốn sách đã được chuyển vào tay của Đảng Cộng sản Anh, mà tôi tin là Reed đã để di chúc lại cho nó.

Một vài năm sau đó những người Cộng sản Anh, đã bị phá hủy các ấn bản gốc của cuốn sách hoàn toàn theo ý mình, rồi họ đã ấn hành một phiên bản bị cắt xén mà từ đó họ đã loại bỏ những đề cập của Trotsky và cũng đồng thời bỏ qua lời giới thiệu bằng văn bản của Lenin.

Nếu một trí thức cấp tiến vẫn còn tồn tại ở Anh, hành vi giả mạo này có thể đã bị phơi bày và tố cáo trong mọi tờ báo văn học trong nước. Thế mà có rất ít hay là chẳng có kháng nghị phản đối gì cả. Đối với nhiều trí thức Anh quốc nó có vẻ hoàn toàn là một việc tự nhiên để làm như vậy. Và sự khoan dung này hoặc [sic = của?] sự bất lương rõ ràng này mang ý nghĩa còn nhiều hơn so với sự ngưỡng mộ đối với Nga xảy ra như là mốt thời thượng tại thời điểm này.

Rất có thể là mốt thời thượng cá biệt này sẽ không kéo dài lâu. Với tất cả những gì tôi biết, lúc mà cuốn sách này được xuất bản, quan điểm của tôi về chế độ Xô viết có thể sẽ là quan điểm được chấp nhận một cách đại thể.

Thế nhưng những ích lợi nào mà nó có trong chính nó? Để đổi lấy một sự chính thống này bằng một cái khác chưa hẳn đã là sự tiến bộ. Kẻ thù chính là cái trí óc bị nhồi sọ - granmophone mind - (ViAn chú thích), cho dù có đồng ý hay không với những thứ đã bị nhồi nhét trong đầu mà nó đang được phun ra vào lúc này.

Tôi cũng khá quen thuộc với tất cả các luận điệu chống lại tự do tư tưởng và tự do ngôn luận - những luận điệu đó cho rằng nó không thể tồn tại, và những luận điệu đó cũng cho rằng nó không nên tồn tại. Tôi đáp lại một cách đơn giản rằng họ không thuyết phục được tôi và rằng nền văn minh qua suốt một thời kỳ bốn trăm năm của chúng ta đã được thiết lập trên những sự nhận biết ngược lại.

Với nguyên một thập kỷ đã qua, tôi đã tin rằng chế độ hiện hữu của Nga chính là một thứ độc ác xấu xa, và tôi dành lấy quyền để tuyên bố như vậy, mặc dù thực tế là chúng ta là đồng minh với Liên Xô trong một cuộc chiến tranh mà tôi muốn nhìn thấy chiến thắng.

Nếu tôi phải chọn một bản văn để biện minh cho bản thân mình, tôi chọn dòng sau đây của Milton:

Bởi các quy tắc đã được biết đến của nền tự do cổ đại.

Từ "cổ - ancient" (Chú thích của ViAn) nhấn mạnh thực tế rằng tự do trí tuệ là một truyền thống đã bắt rễ sâu xa không có những thứ mà nền văn hóa phương Tây đặc trưng của chúng ta có thể chỉ mới hiện hữu chưa mấy chắc chắn.

Truyền thống đó đang bị nhiều trí thức của chúng ta chối bỏ một cách hiển nhiên. Họ đã chấp nhận nguyên tắc: một cuốn sách có được xuất bản hay bị cấm đoán, được vinh danh hoặc bị trù dập, không phải dựa trên giá trị của nó mà là tùy theo động cơ chính trị.

Và những người khác những ai không thực sự giữ quan điểm này cũng đồng ý thỏa hiệp với nó, hoàn toàn chỉ vì hèn nhát. Một ví dụ của việc này là sự thất bại của những người Anh theo chủ nghĩa hòa bình đông đảo và ồn ào để lên tiếng chống lại việc tôn sùng đang thịnh hành đối với chủ nghĩa quân phiệt Nga.

Theo những người chủ nghĩa hòa bình này, mọi bạo lực là độc ác xấu xa , và tại mổi giai đoạn của chiến tranh, họ đã thúc giục chúng ta nhượng bộ hoặc ít nhất là để thực hiện một thỏa hiệp hòa bình. Thế nhưng có bao nhiêu người trong số họ đã từng nêu lên rằng chiến tranh cũng tàn ác khi nó được tiến hành bởi Hồng quân?

Rõ ràng người Nga có quyền để tự vệ cho mình, trong khi chúng ta làm [như vậy] thì lại là một tội lỗi chết người.

Người ta chỉ có thể giải thích điều mâu thuẫn này bằng một cách: đó là, bằng vào một nổi khao khát đầy hèn nhát vốn dĩ quá quen thuộc với số đông giới trí thức, tinh thần ái quốc của họ được hướng đến Liên Xô thay vì là đối với nước Anh.

Tôi biết rằng giới trí thức nước Anh có đầy dẫy các lý do cho sự rụt rè và bất lương của họ; nói thực, tôi biết tường tận những luận điệu mà họ biện minh cho mình. Nhưng ít nhất hãy để chúng tôi không còn nghe thêm những lời nói vô nghĩa về việc bảo vệ tự do chống lại Chủ nghĩa phát xít.

Nếu như tự do có nghĩa là bất kể điều gì, nghĩa là có quyền nói với người ta những gì họ không muốn nghe. Người dân bình thường vẫn tán thành một cách mơ hồ với học thuyết đó và tác động nó .

Ở nước ta - không giống như ở tất cả các nước khác: nó không được như vậy tại cộng hòa Pháp, và nó không phải là như vậy tại Hoa Kỳ ngày nay - đó là những người theo chủ nghĩa tự do mà sợ tự do và những người trí thức lại là kẻ phóng uế lên trên trí tuệ: Vì thế, tôi đã viết lời tựa này nhằm thu hút sự quan tâm, chú ý đối với một thực tế như vậy.

George Orwell - 1945

---------------
* Không rõ liệu việc sửa đổi được đề nghị này là ý riêng của ông .., hoặc có nguồn gốc với Bộ Thông tin, nhưng dường như nó có vẻ chính thức. [Ghi chú của Orwell]

Thảo luận