Dân chủ nhiều hơn, kinh tế sẽ tốt hơn [I]
Adam Przeworski
tqvn2004 chuyển ngữ
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên mà người dân không còn ảo tưởng về các thể chế chính trị và luôn tỏ thái độ thiếu thiện chí với vai trò của chính quyền trong nền kinh tế. Những chỉ trích thuộc trường phái tân tự do (neoliberalism) dành cho các thể chế chính trị lý luận rằng các chính trị gia đã thoát khỏi sự kiểm soát của dân chúng, để hành động theo những lợi ích đặc biệt, bao gồm lợi ích bảo vệ quyền lực của chính họ, tận hưởng những ưu tiên ưu đãi và làm giàu cho bản thân. Dẫn dắt bởi những lợi ích riêng đó, sự can thiệp kinh tế của chính quyền thường không hiệu quả. Từ những phân tích trên, những người theo trường phái tân tự do rút ra kết luận chính trị khá quen thuộc rằng: Chúng ta cần phải cải tổ chính trị, trong đó phải hạn chế khả năng can thiệp vào nền kinh tế của chính quyền.
Chân lý trong chủ nghĩa tân tự do là "muốn tăng cường hiệu quả của nền kinh tế, cần có cải cách chính trị". Nhưng những người theo chủ nghĩa tân tự do đã kết luật một cách sai lầm rằng hiệu quả của nền kinh tế - ngay cả khi đo bằng chuẩn mực riêng của họ về hiệu quả - sẽ được nâng cao một cách tốt nhất thông qua việc giảm vai trò kinh tế của chính phủ. Đúng ra, để hệ thống kinh tế chính trị hoạt động tốt hơn, chúng ta cần phải đảm bảo rằng hoạt động của chính quyền phải chịu sự giám sát kỹ lưỡng của các công dân trong xã hội. Chúng ta phải, nói một cách ngắn gọn, cải tổ nền kinh tế của chúng ta thông qua việc cải thiện dân chủ, đảm bảo rằng chính quyền phải chịu trách nhiệm trước công chúng về các hoạt động kinh tế mà họ thực hiện.
Đây là cả một vấn đề lớn, do đó ở đây tôi chỉ vạch sơ lược những ý chính. Mục đích của tôi không phải tạo ra một câu trả lời hoàn chỉnh, mà để xây dựng một cái sườn cho tranh luận. Và quan điểm trung tâm của cuộc tranh luận này sẽ là: Hãy đặt dân chủ lên hàng đầu!
Nhà nước và Thị trường
Để quyết định thể chế chính trị nào phù hợp nhất với mục tiêu tăng cường hiệu quả nền kinh tế, đầu tiên chúng ta cần phải đặt câu hỏi: Nhà nước đóng vai trò gì trong nền kinh tế thị trường hiện đại? Tranh luận về câu hỏi này diễn ra ác liệt kể từ khi Adam Smith viết cuốn Tài Sản của Các Quốc Gia (Wealth of Nations), và những lý lẽ tranh luận dường như chạy theo những vòng tròn, với mỗi bằng chứng về sự khiếm khuyết của thị trường lại bị đối lại bởi một bằng chứng tương tự về sự kinh khủng của điều tiết. Nếu ai đó nhìn lại những hiệp đấu liên tiếp giữa Nhà nước và Thị trường, họ sẽ thấy đây đúng là một trận đấu quyền Anh, trong đó Nhà nước và Thị trường lần lượt bị dồn vào chân tường. Dưới đây là những nét sơ lược về lịch sử trận đấu:
Hiệp 1: Khi nào bàn tay vô hình của thị trường tạo ra sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực? Đó là câu hỏi của Adam Smith, và những nhà kinh tế học tân cổ điển (neoclassical) đã tìm ra lời giải chính xác cho nó. Thị trường chắc chắn sẽ hoạt động hiệu quả khi (và chỉ khi) những điều kiện chặt chẽ sau đây được thỏa mãn:
• Thị trường hoàn hảo (Complete markets): Phải có thị trường cho tất cả mọi loại hàng hóa, bây giờ cũng như trong tương lai.
• Thông tin đầy đủ (Complete information): Mỗi người phải biết về tất cả mọi thứ (và như thế tri thức của ai cũng giống ai).
• Hoàn toàn độc lập (Complete independence): Không tồn tại hàng hóa công cộng (public goods), những ngoại ứng (externalities) và lợi nhuận ngày càng tăng (increasing returns).
Một vài dòng giải thích: "Hàng hóa công cộng" là những hàng hóa mà sự tiêu thụ bởi một cá nhân không ngăn cản sự tiêu thụ của những người khác. Ngọn hải đăng là một ví dụ về "hàng hóa công cộng": Một chiếc tàu nhìn thấy nó (sử dụng nó) không ngăn cản những chiếc tầu khác nhìn thấy nó. "Ngoại ứng" là ảnh hưởng của hành động của một người tới lợi ích của những người khác. Tác động có thể là "tiêu cực" -- ví dụ tổn hại sức khỏe do tiếp xúc với những người hút thuốc lá -- hoặc "tích cực" -- ví dụ như khi tôi cộng tác với những đồng nghiệp có giáo dục tốt hơn, tôi làm việc tốt hơn. "Lợi nhuận ngày càng tăng" xảy ra khi chi phí sản xuất một đơn vị hàng hóa giảm xuống khi số lượng được sản xuất tăng. Lợi nhuận ngày càng tăng sẽ dẫn tới "độc quyền tự nhiên". Ba giả thiết này dẫn tới: trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, không ai có quyền áp đặt giá lên người khác, do đó thị trường "hoàn toàn độc lập".
Dưới những giả thiết đặc biệt này, bàn tay vô hình của Adam Smith sẽ hoạt động. Sự phân bổ thị trường sẽ là tối ưu -- những hoạt động riêng biệt của các cá nhân sẽ tập hợp lại tạo ra lợi ích chung. Sự can thiệp của nhà nước, dù là hình thức nào, cũng sẽ chuyển thu nhập của người này sang người kia. Và việc chuyển thu nhập sẽ làm giảm động cơ và làm sai lệch thông tin về các cơ hội. Như vậy, trong thế giới đặc biệt này, nhà nước không thể là thị trường hiệu quả hơn, mà chỉ làm giảm tính hiệu quả của nó. Chắc chắn là sẽ có người lý luận rằng hiệu quả không phải thứ duy nhất quan trọng, và rằng họ muốn có một nền kinh tế công bằng, và rằng họ sẵn sàng hi sinh một chút hiệu quả để đạt được sự công bằng đó. Nhưng tại thời điểm này, tôi khuyến nghị chúng ta tập trung hoàn toàn vào tính hiệu quả.
Hiệp 2: Mức độ hiệu quả của thị trường phụ thuộc vào những điều kiện chặt chẽ nêu trên; do đó khi một trong những điều kiện này không thỏa mãn, và rõ ràng là chúng sẽ không thỏa mãn, thị trường sẽ không còn khả năng phân bổ nguồn lực hiệu quả nữa. Đây chính là cơ sở của những học thuyết dân chủ - xã hội về sự cần thiết của can thiệp nhà nước. Được nêu ra năm 1959 trong chương trình Bad Godesberg của Đảng Dân chủ Xã hội Đức -- "thị trường bất cứ khi nào có thể, nhà nước khi cần thiết" -- ý tưởng gồm 2 mặt: Hãy để thị trường làm cái việc mà nó làm tốt (phân bổ hàng hóa tư trong trường hợp lợi ích tư và lợi ích xã hội như nhau), nhưng hãy để nhà nước cung cấp "hàng hóa công cộng", điều chỉnh "ngoại ứng" và điều tiết độc quyền do "lợi nhuận ngày càng tăng". Vậy là người chiến thắng ở hiệp hai là Nhà nước.
Hiệp 3: Lý luận dân chủ - xã hội về sự can thiệp rõ ràng có một điểm sai logic chết người: Nó bắt đầu với quan điểm rằng thị trường thất bại, và kết luận rằng nhà nước phải ra tay. Nhưng "thị trường không đạt được hiệu quả mong muốn" không có nghĩa là "nhà nước sẽ làm tốt hơn". Tất nhiên, chúng ta có thể làm cho lý luận dân chủ - xã hội nghe hợp lý hơn bằng cách giả sử rằng Nhà nước là sáng suốt, hiểu biết mọi sự và hết mực nhân đức; mục đích duy nhất của nhà nước là đem lại những điều tốt cho công dân của mình. Nhưng sự điều hành nền kinh tế của Nhà nước tỏ ra cũng bị điều khiển bởi cùng thứ lợi ích cá nhân đang điều khiển mọi hoạt động kinh tế; do đó sự can thiệp của nhà nước có thể và trên thực tế đã làm tổn hại tới nền kinh tế. Đây là mâu thuẫn cơ bản của những người theo học thuyết tự do kinh tế, như Richard Posner đã chỉ ra: "Nhà kinh tế nhận ra rằng chính quyền có thể làm điều gì đó tốt hơn là để thị trường tự do tự làm, nhưng anh ta không có lý do nào để tin rằng các tiến trình dân chủ sẽ giữ cho chính quyền không vượt quá giới hạn can thiệp tối ưu". Thực vậy, những phân tích về sự xuống dốc của trường phái Keynes thể hiện trong những năm giữa thập niên 70, cho dù là từ phía cánh tả, hữu hay trung dung, đều gần như giống hệt nhau. Nhà nước mó tay vào mọi việc, và như thế tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân trong Nhà nước theo đuổi những lợi ích riêng của mình. Bởi vì Nhà nước bị "xuyên thủng" bởi lợi ích đặc biệt, logic để tư nhân tự do thắng thế, và lý lẽ về sự cần thiết của can thiệp Nhà nước tan rã. Hiệp đấu thứ 3 kết thúc với việc Nhà nước lại bị dồn trở lại chân tường.
Hiệp 4: Nhưng lý thuyết "thị trường là người phân bổ nguồn lực hiệu quả" cũng bị đả phá tồi tệ không kém. Trên đây tôi đã đề cập đến mức độ quan trọng của các giả thiết về "thị trường hoàn hảo" và "thông tin đầy đủ" trong việc tạo ra tính hiệu quả của thị trường. Những giả thiết này cũng dớ dẩn hệt như giả thiết về một nhà nước sáng suốt và toàn năng, và -- như các nền kinh tế đã thể hiện trong 20 năm qua -- có rất nhiều dẫn chứng chứng tỏ chúng không tồn tại trên thực tế. Thị trường là không hoàn hảo bởi vì chúng ta biết rằng chúng ta sẽ tiến hành giao dịch trong tương lai, mà không thể thực hiện tất cả giao dịch ngay bây giờ. Thông tin không hoàn hảo vì chúng ta không biết tất cả về những người mà chúng ta làm ăn với; nói cho đúng, thông tin mang tính "nội sinh" (endogenous) bởi chúng ta biết về người khác -- sở thích, năng lực và quan niệm của họ -- bằng cách quan sát công việc của họ trên thị trường, và thay đổi quan niệm tồn tại trước đó của chúng ta dưới ánh sáng của những quan sát đó. Sự phi hiệu quả xuất phát từ thị trường không hoàn hảo và thông tin nội sinh là rất đáng kể. Trong một lần tóm lược gần đây, kinh tế gia Joseph Stiglitz đã nói thẳng: "Một khi thông tin không hoàn hảo (và sự thực là thị trường không hoàn hảo) được đưa vào trong các phân tích, và chắc chắn chúng phải được đưa vào, sẽ không còn căn cứ để nói rằng thị trường làm việc hiệu quả. Thiếu những căn cứ như vậy, "mô hình chuẩn của trường phái tân cổ điển", những phân tích bổ ích trước đây về bàn tay vô hình của Adam Smith, cái tư tưởng rằng kinh tế thị trường sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế sẽ không còn bổ ích cho việc chọn lựa hệ thống kinh tế". Khi một số thị trường không tồn tại, một điều không thể tránh khỏi, và khi thông tin là nội sinh, thì thị trường không còn thực hiện được những phép màu của nó nữa: Cung có thể không gặp cầu (thậm chí ngay ở trạng thái cân bằng); giá không còn phản ánh toàn bộ chi phí cơ hội và thậm chí còn đưa thông tin sai lệch; "ngoại ứng" sinh ra từ hầu hết hoạt động của các cá nhân; thông tin thường mất cân đối; quyền lực thị trường (độc quyền) diễn ra khắp nơi; và "tô" (rents) cũng mọc lên như nấm. Đây không còn là những khiếm khuyết ban đầu có thể sửa chữa được của một thị trường hoàn hảo nữa. Không có một thị trường lí tưởng và độc nhất bị bóp méo, mà có thể có rất nhiều kiểu trật tự thể chế khả thi, mỗi loại đưa đến các hiệu quả khác nhau đối với phúc lợi xã hội.
Hơn nữa, khi thị trường không đầy đủ và thông tin bị lệch lạc, một số hình thức can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế là điều không thể tránh khỏi. Ví dụ, nền kinh tế hiện đại chỉ có thể hoạt động được nếu nhà nước có biện pháp bảo vệ các nhà đầu tư (như hình thức trách nhiệm hữu hạn), bảo vệ các doanh nghiệp (qua các đạo luật về phá sản), và các hình thức ký thác (qua hệ thống ngân hàng hai lớp). Nhưng một khi nhà nước đứng ra bảo lãnh, nó sẽ phải trả bồi thường thiệt hại, cho dù các thiệt hại đó do sự bất thiện toàn của chính hệ thống bảo hiểm đó. Kết quả là sự phân bổ nguồn lực một cách lý tưởng sẽ không bao giờ đạt được.
Tất nhiên, ngay cả những người theo chủ nghĩa tân tự do sôi nổi nhất cũng nghĩ rằng chính quyền phải thực thi pháp luật và duy trì trật tự, bảo vệ quyền sở hữu, đảm bảo việc thực hiện hợp đồng, và bảo vệ quốc gia khỏi những mối đe dọa bên ngoài. Và một khi chúng ta đồng ý về sự quan trọng của những chức năng tối thiểu này -- một khi chúng ta đồng ý rằng các chức năng đó tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân và tạo đầu vào cho sản xuất tư nhân -- thì khi đó toàn bộ khuôn khổ phân tích sẽ thay đổi: Nhà nước có thể làm gì đó để hoàn thiện sự phân bổ của thị trường. Nhưng những nền kinh tế với thị trường không hoàn hảo và thông tin không đầy đủ sẽ mở cửa cho vai trò lớn hơn của Nhà nước. Những phân tích sách vở về thị trường không biện hộ được cho điều ngược lại, bởi vì thị trường đơn giản là không phân bổ hiệu quả. Thậm chí nếu nhà nước chỉ có thông tin tương tự như nền kinh tế tư nhân, một số can thiệp của nhà nước rõ ràng sẽ tăng cường phúc lợi xã hội.
Như vậy, nhà nước vẫn có vai trò tích cực. Vậy là hiệp thứ tư kết thúc ở tư thế hòa. Thực hiện những việc mà nó có thể và nên làm, nhà nước sẽ thúc đẩy tính hiệu quả của thị trường. Nhưng hậu quả của cú đấm trả của phe tân tự do vẫn còn lơ lửng. Làm thế nào để chúng ta điều khiển Nhà nước hành động khi nó cần hành động, và dừng nó khi nó không nên hành động?
(còn tiếp)