Giai thoại của thi sĩ – Phần IV [II]
BÙI CHÍ VINH (Viết tặng X-cafevn)
Rời cao nguyên xuống đồng bằng bất ngờ tôi được linh mục Hiền, một linh mục trẻ có cái nhìn cấp tiến mời đọc thơ và nói chuyện về thơ tình trong Mùa Chay tại nhà thờ Tân Định. Trước khi biết linh mục Hiền, ngay từ tháng 5 – 1975 tôi đã viết bài trên báo Công Giáo Và Dân Tộc và thân thiết với nhiều anh em trong tòa soạn, trong đó có hai linh mục tranh đấu nổi tiếng là Trương Bá Cần và Huỳnh Công Minh. Linh mục Trương Bá Cần tác giả loạt bài “Hai mươi năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” đăng trên tạp chí Đối Diện trước giải phóng được tôi thân mật gọi là “bố”, còn linh mục Huỳnh Công Minh có khuôn mặt hơi giống Che Guevara lúc để râu được tôi gọi là “anh Ba Râu”. Mỗi lần ghé tòa soạn, tôi thường được Bố Cần và anh Ba Râu ủy lạo tinh thần lẫn vật chất bằng phong bì dằn túi cho những ngày lang bạt sắp tới. Thực ra tôi còn vài lần tiếp xúc với một linh mục nổi tiếng khác là linh mục Nguyễn Ngọc Lan tác giả loạt bài “Cho cây rừng còn xanh lá” trên các nhật báo đối lập thời chính quyền cũ. Tuy nhiên tình thân không thể bằng hai linh mục Huỳnh Công Minh và Trương Bá Cần..
Trở lại chuyện linh mục Hiền mời đọc thơ tại nhà thờ Tân Định trước hàng trăm thanh niên nam nữ vốn quen thuộc với kinh nhật tụng và thánh ca. Lần đầu tiên tôi đã làm một chuyện động trời là kể chuyện cuộc đời giang hồ lãng tử “xa Chúa gần ma quỷ” của tôi và minh họa bằng những bài thơ tình. Cuộc nói chuyện thành công đến mức mọi người quên hết giờ giấc. Tôi còn nhớ bài thơ ĐIỀU RĂN THỨ 11 đọc kết thúc trong đêm đó :
ĐIỀU RĂN THỨ 11
Em đã thờ phượng bầu trời
Bằng điều răn thứ nhất
Tôi cũng đã yêu thương mặt đất
Bằng chín điều răn sau cùng
Chúng ta cũng đã đợi nhau gần 30 năm
Để bày tỏ tình yêu khác giống
Trong khi nhân loại đã đợi nhau 1984 năm
Tiến về hang đá Bêlem để làm người gác cổng
Chúa không muốn tôi thành con lừa
Người cho tôi chân tay, mặt mũi
Chúa rất muốn em là con gái
Để sau này có nhẫn cưới đeo tay
Tôi đã yêu em một cách rất con trai
Như Adam yêu Eva lịch sự
Có thể toàn bộ xương sườn tôi cứng chứ
Nhưng phần xương cụt mất đi lại mềm mại hiền lành
Phần xương ấy mang nỗi buồn Đức Mẹ
Tan lễ nhà thờ, môi biết gọi : anh, anh…
Chúa không trực tiếp dạy chúng ta đọc kinh
Nhưng tôi và em đã thành lời cầu nguyện
Chúng ta yêu nhau nhỏ như hai con kiến
Lớn như hai con voi và vừa phải cỡ… con người
Em đã dám thờ phượng bầu trời
Bằng điều răn thứ nhất
Thì làm sao tôi chẳng biết yêu thương mặt đất
Bằng chín điều răn sau cùng
Và tất nhiên chúng ta yêu nhau
Chúng ta yêu nhau ở một góc địa cầu
Thành phố ta ở chỉ lớn bằng dấu chấm
Bên trong dấu chấm, năm triệu người đang sống
Mới hai người yêu nhau, còn lại mấy triệu người
Oi tôi hứa mãi yêu thương mặt đất
Cho lòng em hằng nhớ tới bầu trời
Đầu thập niên 2000 một linh mục khác là linh mục Siêu (một huynh trưởng ngày xưa của tôi thời đi Thiếu Nhi Thánh Thể) cũng mời tôi đến nhà thờ Martino trên đường Nguyễn Thị Minh Khai quận 1 để nói chuyện và đọc thơ với công chúng trẻ họ đạo trong Mùa Chay. Tôi còn được “huynh trưởng” Siêu mời với nhiệm vụ tương tự tại nhà nguyện thuộc nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng, quận 3. Tại hai nơi đó tôi đã làm đúng chức năng tông đồ lẫn thi sĩ dù bị đẩy vào hoàn cảnh bất khả kháng Cũng cần mở ngoặc đơn chỗ này, trên thực tế kể từ ngày lang bạt giang hồ, tôi giao du và chơi thân với các thượng tọa, đại đức bên Phật Giáo nhiều hơn bên Công Giáo. Tôi không hiểu tại sao nữa, chỉ biết rằng những bài thơ tôi đọc ra được một số vị chức sắc tôn giáo coi như một loại “công án” chứa dụ ngôn đạo lý răn đời. Trong phạm vi bài viết này tôi không thể kể hết những mối duyên kỳ ngộ của tôi với các bậc cao tăng ẩn sĩ khi cùng họ đàm đạo triết thuyết và thi ca thâu đêm. Chỉ đơn cử mối giao tình với thượng tọa Thích Tâm Khai, sư trụ trì chùa Diệu Pháp, ngôi chùa nằm cạnh con sông Đồng Nai được tôi đưa vô tiểu thuyết YỂU ĐIỆU THỤC NỮ với tên gọi là chùa Diệu Đế. Trong truyện, tôi đã cho họa sĩ kiêm người hùng ve chai Robert Bá học võ công nhà chùa. Còn ngoài đời thật, tôi và các anh Nguyễn Xuân Thượng, Trịnh Thanh Tùng, Tôn Thất Mạnh Tường, Nguyễn Hải, Sáu Đầu Rồng, Tư Đồng… rất nhiều lần gõ cửa chùa Diệu Pháp để được thượng tọa Thích Tâm Khai chiêu đãi. Thầy Thích Tâm Khai chính là người bảo trợ phong trào tranh đấu sinh viên học sinh đô thị trước giải phóng, tương tự như ni sư Huỳnh Liên. Các bạn thử tưởng tượng trăng thì sáng, mặt nước thì lung linh, tình nghĩa thì đầy tràn như men rượu. Sư trụ trì Tâm Khai ôm guitar hát ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn phục vụ anh em, còn tôi thay mặt huynh đệ giang hồ đọc thơ đáp lễ. Những bài thơ tứ tuyệt xuất khẩu thành thi ấy được tôi chép ngay trên vách tường nhà chùa bằng muội than kỷ niệm. Hiện giờ thượng tọa Thích Tâm Khai đã viên tịch, các anh Tôn Thất Mạnh Tường, Sáu Đầu Rồng, Tư Đồng cũng đã mất, không biết những bài thơ bút tích còn được các vị trụ trì đời sau lưu lại hay không ?
TỨ TUYỆT DIỆU PHÁP TỰ
Chúng sinh vô lượng kiếp
Trần gian một chén đầy
Đến thiền môn đổ hết
Mở lòng làm… Tâm Khai !
Năm 1985, chị Nguyễn Thị Nghĩa tức Chín Ngân (vợ anh Năm Nghị) đang làm sếp Liên Hiệp Hợp Tác Xã Tiêu Thụ Mua Bán TP (tiền thân của hệ thống Coop Mart bây giờ) giới thiệu tôi xuống Cửa Hàng Tổng Hợp Thương Nghiệp Hợp Tác Xã TP tại 32 – 34 Tháp Mười, quận 6 làm việc vì không chịu nổi cảnh bấp bênh chìm nổi của tôi. Cửa hàng trên là một đơn vị kinh tế đang ăn nên làm ra trực thuộc dưới quyền chị. Tại đây tôi bắt đầu nghề nghiệp tréo cẳng ngỗng. Hết làm giám sát thi công coi xây dựng đến làm áp tải hàng hóa đường dài, thậm chí có lúc trực tiếp làm bốc xếp khuân vác nặng. Những công việc thuần túy máy móc đều đặn cho dù sinh ra tiền bạc nhưng hoàn toàn dị ứng với trái tim ngựa chứng bất kham của tôi. Nhiều người chỉ cần làm giám sát thi công chừng vài công trình là kiếm tiền bỏ ống như chơi nhưng tôi dù có được thả vô hủ gạo cũng không thể làm một con chuột gặm nhấm tài lộc được. Tôi không có năng khiếu tước đoạt của cải người khác. Lúc đó tôi có làm bài thơ ĐẰNG SAU NHỮNG QUẦY ĐỔI TIỀN nhân đợt đổi tiền toàn quốc thời điểm đó :
ĐẰNG SAU NHỮNG QUẦY ĐỔI TIỀN
Giữa thời kỳ mà tiền bạc chưa yên
Giấy thiếu trữ kim bỗng biến thành giấy lộn
Giữa thời kỳ mà thiên hạ đổi tiền
Như đổi một hầu bao thiếu vốn
Em đã đến cực kỳ khiêm tốn
Mắt mở to cho túi của anh đầy
Em đã đến không người đưa kẻ đón
Nhoẻn miệng cười ngang giá trị “trăm cây”
Vàng trong anh có từ lúc sơ khai
Đợi em đến là trồi lên thành quặng
Ngọc trong anh có từ lúc chào đời
Đợi em đến là gia công thành nhẫn
Hãy xòe hết cả bàn tay năm ngón
Chỉ cho anh ngón áp út vợ chồng
Để vàng ngọc của anh còn ý nghĩa
Hơn những tờ bạc mới số 500
Em đến làm anh trong suốt kim cương
Mọi bá hộ trần gian đều khánh kiệt
Tình yêu anh mở ngay tiệm kim hoàn
Chứa một triệu cara dành em hết
Giữa thời kỳ không lằn ranh thiện ác
Đang đói meo anh chợt biết mình giàu
Em rách vẫn thơm, anh nghèo vẫn sạch
Thiên hạ đổi tiền, ta đổi đời nhau
Tôi chia tay nghề “phi thương bất phú” vì một lý do lãng nhách. Một hôm trong giờ hành chánh tôi bị giám đốc Cửa Hàng là Bảy Định triệu tập lên văn phòng để gặp đồng chí Sáu Khôi, Trưởng Phòng Bảo Vệ An Ninh Văn Hóa (tức PA 25) của Sở Công An TP. Anh Sáu Khôi thì tôi chẳng xa lạ gì, cũng từ gốc Thành Đoàn như tôi, thuộc thế hệ đàn anh và chuyển qua ngành công an từ rất sớm. Anh làm việc với tôi bằng khuôn mặt khá trầm trọng. Đại khái anh cho tôi biết thơ tôi được đăng trên báo chí hải ngoại hơi bị nhiều và “công an văn hóa” phát hiện tôi vừa lãnh một thùng quà thuốc Tây của nước ngoài nhằm mục đích “trả công” cho những bài thơ đã đăng. Coi, quả thật vừa qua tôi có nhận một gói bưu phẩm từ trên trời rớt xuống ghi tên người gửi là “Bùi Thị Chín gửi từ Cali, USA”, dĩ nhiên là tôi ký nhận ngay. Sau khi tham khảo với mẹ hiền vốn dĩ là bà mẹ “gia đình có công cách mạng”, mẹ tôi đồng ý cho tôi ra chợ trời thuốc Tây Tân Định bán với giá một chỉ vàng, vì bà nghĩ rất đơn giản rằng “đã là họ Bùi gửi thì chắc là bà con với gia đình tôi”. Chuyện chỉ có vậy. Còn thơ ư ? Tôi là một thằng thi sĩ gần như trung tâm và chủ lực đọc thơ trong bàn nhậu trước đủ dạng quần hùng, trong đó có cán bộ lãnh đạo lẫn nhân dân đủ kiểu. Gặp người tri âm hoặc kẻ tâm đầu ý hợp về thơ, tôi sẵn sàng chép tay bài thơ vừa đọc mà họ ưa thích. Qua truyền khẩu, họ có thể thuộc lòng bằng trí nhớ hoặc bằng bản chép tay, và nếu họ vượt biên hay đi xuất cảnh hợp lệ thì chuyện sử dụng những bài thơ của tôi đăng báo chí hải ngoại thiết nghĩ cũng là chuyện phổ biến bình thường. Có khi sự phổ biến ấy góp phần vinh danh và không làm thui chột các tài năng xuất chúng trong nước. Vậy hà cớ gì tôi phải lo lắng khi biến thành một dạng “tội phạm” trong con mắt đầy đa nghi của một vị đàn anh từng quá hiểu con người trung thực của tôi lúc ở Thành Đoàn ?
Tôi có nói với anh Sáu Khôi rằng “Nếu Việt Kiều Bùi Thị Chín gửi tiếp một thùng đồ nữa thì tôi vẫn nhận bởi nhà nước chưa hề tặng quà hay trả lương hoặc bồi dưỡng cho một gia đình công nhân nghèo khổ có tới 5 người làm cách mạng như gia đình tôi”. Tôi đã phải làm bản tường trình về những lần đọc thơ giang hồ, những bài thơ chống bất công xã hội đã làm, những mối quan hệ với các thi sĩ văn nhân trí thức. Bởi Sáu Khôi nói như đinh đóng cột : “Bùi Thị Chín không phải họ Bùi mà là Cao Thị Ngọc Phượng, vợ hay người tình gì đó của Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh. Nhiệm vụ Cao Thị Ngọc Phượng là chuyển lửa về quê nhà, đón thuyền nhân vượt biên. Việc chọn gửi gói thuốc Tây cho Bùi Chí Vinh và vài văn nghệ sĩ nổi tiếng khác là nhằm ly gián hoang mang nội bộ”. Bút sa thì gà chết, nói năng thì phải uốn lưỡi bảy lần. Tôi được biết Cao Thị Ngọc Phượng là em ruột của chị Cao Thị Quế Hương (vợ liệt sĩ Nguyễn Ngọc Phương một sinh viên tranh đấu nổi tiếng của Thành Đoàn). Chị Cao Thị Quế Hương thời điểm đó đang đương nhiệm Tỉnh ủy viên, chủ tịch Hội Phụ Nữ tỉnh Lâm Đồng không hiểu sao anh Sáu Khôi lại không “gõ cửa” đồng chí của mình mà hỏi?
Khi viết những dòng chữ này, trong thâm tâm tôi không hề hờn trách gì cử chỉ thái độ Sáu Khôi lúc đó. Anh làm Trưởng Phòng PA25, làm một mắt xích trong một guồng máy an ninh hoàn hảo, anh đương nhiên phải bảo vệ chiếc ghế của mình. Nhưng tôi chỉ giận anh lúc anh giao phó công việc viết bản tường trình của tôi vào mỗi buổi sáng cho những người khác tại Sở Công An suốt một thời gian dài. Tôi nhớ rằng mình bị “hỏi cung” tại căn phòng trên lầu cao có cửa sổ nhìn xuống mặt đất sâu hun hút. Có lần tôi nổi cơn thịnh nộ đấm tay vào ngực thình thịch sau tiếng chửi thề : “Hồi trước giải phóng M16 bắn tôi không chết chẳng lẽ bây giờ bị AK bắn chết”. Tôi còn hét lớn : “Ép tôi khai những gì không có, coi chừng tôi nhảy qua cửa sổ tự tử là quý vị phải chịu trách nhiệm ”.
Thái độ liều lĩnh của tôi ít ra cũng có tác dụng. Những đợt thẩm vấn và triệu tập chấm dứt. Chấm dứt luôn công việc của tôi ở Cửa Hàng Thương Nghiệp HTXTP . Mà chấm dứt cũng phải, sau thời gian làm bốc xếp lao động quá nặng nhọc ở các kho của Cửa Hàng, tôi bị bệnh ho lao, mỗi ngày đều phải đến trạm y tế chích thuốc. Trong hoàn cảnh bệnh hiểm nghèo như vậy mà còn bị PA25 tra tấn tinh thần thì sức chịu đựng của tôi quả là một phép lạ. Tôi được tay giám đốc cho nghỉ lãnh lương dài hạn và tiếp tục chuỗi ngày lãng tử phiêu bồng. Sau này mấy lần tôi có gặp lại anh Sáu Khôi. Lần đầu tiên tái ngộ tại nhà Nguyễn Xuân Hàm, anh ruột Nguyễn Xuân Phổ tức nhà thơ phong trào Hàm Phố, bạn tôi. Lần đó nhân kỷ niệm sinh nhật Sáu Khôi, tôi có cao hứng đọc ghẹo anh hai câu :
SÁU KHÔI có một KHỐI SÂU
Bò ra lúc nhúc làm rầu nồi canh
Tục ngữ nói “con sâu làm rầu nồi canh” chẳng sai. Tôi không ám chỉ Sáu Khôi làm rầu nồi canh mà muốn cảnh báo các nhân viên của sếp. Rằng ở đất nước Việt Nam đầy đau khổ này không có “địch”. Những kẻ căm thù thề không đội trời chung với chế độ cộng sản đã “gô” hết rồi. Trong nước chỉ toàn văn nghệ sĩ “sĩ khí rụt rè gà phải cáo” nơm nớp uốn cong ngòi bút vì sợ vi phạm chủ trương đường lối. Báo chí truyền thanh truyền hình thì nói cùng một giọng như được mặc đồng phục. Tìm được người làm thơ viết văn viết báo dám ăn dám nói đếm trên đầu ngón tay. Đã không biết trân trọng giữ gìn những kẻ sĩ “đối lập cuội” đó để làm “bình phong nhân quyền” mà lại còn sinh nghi theo dõi theo kiểu mật thám Gia-ve trong “Những người khốn khổ” của Victor Hugo thì thật là tự vạch áo cho quốc tế xem lưng ghẻ chóc. Nếu có “địch” thì đó chính là bọn tham nhũng hối mại quyền thế, bọn cơ hội chính trị tranh thủ mua quan bán tước, đội trên đạp dưới, luồn sâu leo cao... để hiếp đáp hãm hại nhân dân. Chính những kẻ làm ô danh Đảng đó mới là đối tượng, là địch để A25 và PA25 theo dõi.
Hai câu vè tạm gọi là thơ làm ghẹo anh Sáu không hiểu sao được đồn đại rất nhanh trong giới giang hồ văn nghệ và được biến cải như sau : “Sáu Khôi là một Khối Sâu - Bò ra lúc nhúc làm rầu nhân dân”. Những lần tái ngộ kế tiếp thì Sáu Khôi đã về hưu sau khi giữ chức Trưởng Công An quận 1. Thỉnh thoảng gặp nhau anh nhìn tôi với đôi mắt ngậm ngùi. Tôi không hiểu là anh thương tôi hay anh thương anh hay anh đang thương hai kẻ từng là cựu chiến binh Thành Đoàn lạc lỏng giữa cuộc đời duy vật do chính mình gây ra đây ?
Hương Lan, người yêu tôi thường nói rằng “Anh là con cưng của Thượng Đế”. Thực vậy, mỗi lần bị đẩy đến chân tường là tự nhiên tôi “cùng tắc biến, biến tắc thông”. Trong thời gian rãnh rỗi, tôi tha hồ ngao du sơn thủy. Tôi chở em xuống Bình Dương chơi cùng với ông anh thi sĩ giang hồ bạt tụy Thùy Dương Tử và em ruột ông là ca sĩ bụi đời Nguyễn Hải. Có những lúc cặp Trần Mạnh Hảo và Tôn Nữ Giáng Tiên tháp tùng. Cũng cần mở ngoặc đơn chỗ này để nói về Nguyễn Hải. Hải dân gốc Quảng Nam nguyên là Ban Công Nhân Thành Đoàn xuống xí nghiệp dệt làm công tác văn nghệ phong trào, từng đoạt huy chương vàng đơn ca hội diễn toàn quốc những năm đầu 1975. Giai thoại về Nguyễn Hải cũng khá ly kỳ, người nhà kể rằng anh không học trường nhạc mà luyện giọng bằng cách rúc đầu vào lu nước gầm rống. Mỗi lần anh hát là kinh động hàng xóm trong vòng bán kính 50 mét, mỗi lần anh ngâm thơ là mọi người im bặt có thể nghe được tiếng lá rơi. Nguyễn Hải yêu kính mẹ như yêu kính Quan Thế Âm, anh hát bài “Có người mẹ đi tìm con – Trên đỉnh đồi hoang vắng…” của Phạm Duy xúc động đến nỗi tôi phải làm bài thơ tặng anh.
MẸ MIỀN TRUNG
“Có người mẹ đi tìm con
Trên đỉnh đồi hoang vắng”
Thằng bạn hát mà ngó về Đà Nẵng
Mây trắng bay lầu Hoàng Hạc đến bao giờ
Có phải mẹ ở miền Trung sợi tóc như tơ
Không cột được gót thằng con trai lêu lổng
Nên bạn cứ ôm guitar đi tìm giấc mộng
Thức trăm năm mà khóc với cây đàn
Tại Bình Dương tôi có dịp tiếp xúc với Lê Vĩnh Thọ, một thầy giáo thất nghiệp kiêm nhà thơ bất đắc chí ngồi dựa lưng vào tường suốt 10 năm sau giải phóng như Đạt Ma Sư Tổ khiến vôi tường nứt nẻ thành hình cái bóng của một con người. Cái bóng ấy vừa phụ vợ con xay xe bán nước mía vừa đạp xe thồ hằng đêm chở bao tạ than lên Sài Gòn bỏ mối kiếm sống như danh tướng Trần Khánh Dư của nhà Trần thời xưa. Các bạn thử tưởng tượng đường Bình Dương – Sài Gòn xa hun hút, đầy bảo kê thổ phỉ mãi lộ dọc đường, thế mà Lê Vĩnh Thọ vẫn nghiến răng mỗi đêm leo dốc mà đạp. Sự đau khổ ấy của ông được trả giá bằng vô số bài thơ nhân tình thế thái cực hay. Tôi và ông rất nhiều lần thù tạc với nhau về thi ca ứng khẩu trong lời ca tiếng nhạc minh họa của Nguyễn Hải. Tôi có làm tặng ông một bài thơ kỷ niệm :
GÁC KIẾM Ở BÌNH DƯƠNG
Đúng là về đây nương thân
Rồng không gặp lúc phong vân, vẫn Rồng
Về đây vào rẫy ra đồng
Thấy mây thấy gió chạy cong đuôi nhìn
Thấy ta giống hệt bình minh
Mặt trời mọc tự trong mình mọc ra
Mặt trời đỏ hết thịt da
Bình Dương chưa chắc đã là Quốc Oai
Bình Dương, Bồ Bản ơ hay
Tiếng con chó sủa đủ lay ngai vàng
May mà treo ấn từ quan
Dạy dăm đứa trẻ xiên quàng tích xưa
Tích xưa sáng nắng chiều mưa
Trang Chu thức giấc đổ thừa nồi kê
Bướm vàng chi khéo rủ rê
Mộng đi mà tỉnh quên về, thật sao ?
Giận là giận Chúa cường hào
Thương là thương nỗi lao đao Chu Thần
Bình Dương, Bồ Bản hay chăng
Cờ Thang, Vũ dựng chẳng cần Thuấn, Nghiêu
Đúng là về muộn mới yêu
Về trung niên cũng đánh liều trái tim
Văn như Thánh Quát cũng chìm
Thà làm viên sỏi nằm im đáy hồ
Thà là một chữ trong thơ
Đợi trang giấy đẹp bất ngờ ta reo
Chữ Tình ai dám bảo nghèo
Không tin cứ hỏi Tháy Kiều lầu xanh…
Trời cao cuối cùng cũng có mắt. Sau này về Sài Gòn tôi nghe anh em văn nghệ Bình Dương nói rằng thầy giáo Lê Vĩnh Thọ trúng vé số cặp độc đắc đủ để… đốt nhà lá xây nhà lầu. Không biết ông còn giữ cái bóng hình nhân trên tường của mình trong suốt 10 năm ngồi dựa chờ thời hay không ?
Riêng Thùy Dương Tử thì “cõi trên” hơn. Tôi từng nghe các anh Tư Đồng, Sáu Đầu Rồng, Tôn Thất Mạnh Tường kể về giai thoại lúc Thùy Dương Tử lãnh giải nhất Thơ Tao Đàn Bạch Nga của tiên sinh Nguyễn Vỹ. Khi ôm cọc tiền thưởng từ cầu thang bước xuống trước ống kính máy quay của báo chí, Thùy Dương Tử không đi hết các bậc cầu thang mà bung cọc tiền “thùm lùm” tung tóe xuống phía dưới. Một trong những người thu hoạch tài chánh lì xì bất ngờ của ông chính là nhà thơ châm biếm Cung Văn. Kể sơ sơ như thế để thấy sự ngông cuồng hào khí ngất trời của một thi sĩ tự do trọng nghĩa khinh tài thuở đó. Tôi còn nghe đồn rằng Thùy Dương Tử rất giỏi Kinh Dịch và bấm Nhâm Độn. Có lần tôi chở Hương Lan trên xe đạp ghé căn nhà đìu hiu của ông trong tận cùng ngõ ngách khu Phú Nhuận. Trong cơn mơ màng, ông bật dậy chạy ra hét lớn “Thằng em thiên tài chở vợ tới”. Tôi hết hồn nhìn ông thì ông trợn mắt khẳng định : “Chắc chắn chú mày sẽ lấy mỹ nhân này. Anh nhìn thấu kiếp trước lẫn kiếp sau của chú”. Mọi chuyện tưởng như giỡn chơi ai ngờ “linh ứng” vào năm sau. Đáng tiếc bây giờ Thùy Dương Tử đã quy tiên, nếu không tôi sẽ còn thẩm vấn ông về vận mệnh đất nước để nhờ ông đoán điềm giải mộng…
Tháng 8 – 1988 tôi và Hương Lan làm đám cưới tại khuôn viên Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam. Chúng tôi chỉ có ái tình và hai bàn tay trắng. Anh Huỳnh Tấn Mẫm, Chủ tịch Hội lúc ấy và chị Giám hầu như lo cho tôi miễn phí hết mọi sự, từ mặt bằng đến lều bạt, âm thanh. Huỳnh Tấn Mẫm nguyên là Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn thời tôi tham gia phong trào học sinh tranh đấu. Anh yêu mến thơ tôi, tôn trọng cá tính của tôi và sẵn sàng tâm sự với tôi những chuyện không thể kể cho nhiều người. Đám cưới được hình thành từ công sức của bạn bè. Thiệp do Nhã Bình, Đỗ Trung Quân in tặng. Gửi thiệp tới quan khách do nhóm Trần Hữu Dũng đảm nhiệm. Bài “Oui Devant Dieu” nổi lên, bao nhiêu ân oán giang hồ rũ sạch, mọi nghi kỵ thù hận nhỏ nhen tan biến. Quan khách đến dự tiệc cưới có mặt từ lãnh đạo trung ương, thành phố cho đến văn nghệ sĩ bụi đời. Bàn “các sếp” có ông Trần Bạch Đằng, Phạm Chánh Trực, Nguyễn Chơn Trung, Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Lê Công Giàu, Bảy Câu, Bến Nghé, bà Chín Ngân, vợ chồng Võ Như Lanh… Bàn nhạc sĩ có Miên Đức Thắng, Diệp Minh Tuyền, Phan Bá Chức, Nguyễn Duy… Bàn họa sĩ có vợ chồng diễn viên Lê Chánh, Hồ Hữu Thủ, Rừng, Hải Nguyễn, vợ chồng Hồ Thành Đức, Bé Ký…Bàn dịch giả có Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Phan Thịnh, Nguyễn Ngọc Trân… Bàn văn thi sĩ có vợ chồng ông Cung Tích Biền, Hà Nguyên Thạch, vợ chồng Lê Thị Kim, Trần Hữu Dũng, vợ chồng Đoàn Thạch Biền, vợ chồng Nguyễn Lương Vỵ… và rất nhiều anh em chiến hữu văn nghệ khác mà tôi không thể nhớ hết tên. Trong tiệc cưới, quan khách có cấp bậc cao nhất tham dự là ông Trần Bạch Đằng tức chú Tư Ánh đương nhiên đóng vai cương vị chủ hôn. Về việc này tôi có nói sơ trong GIAI THOAI CỦA THI SĨ các phần trước. Lúc lên phát biểu chú Trần Bạch Đằng có khuyến cáo vợ tôi rằng “Lấy thằng Vinh là con phải trang bị một khẩu súng để bóp cò lúc cần thiết”.
Câu nói của ông làm vợ tôi hoảng hồn. Tôi phải xoa dịu em bằng bài thơ dịu dàng khạc ra tại chỗ :
ĐÊM OUI DEVANT DIEU
Kìa Oui Devant Dieu
Mau quỳ xuống trước bàn thờ đi em
Đừng cắn tay, đừng ngó lên
Trước khi chớp mắt đừng quên liếc chàng
Lát chàng nâng ngón tay ngoan
Nhớ hôn mặt nhẫn nói thầm : anh ơi
Lát môi chàng chạm vào môi
Nhớ suỵt khe khẽ : suốt đời nghe anh !
Lời khuyên hữu ích của chú Tư Ánh đã khiến đời tôi rẽ qua một bước ngoặc khác. Ông Trần Bạch Đằng như nhiều người biết từng là Đệ Nhất Công Thần của cách mạng miền Nam trong hai thời kỳ kháng chiến, ông tuy mang tiếng về hưu nhưng cương vị chính trị trong hậu trường còn lớn hơn thời còn tại vị. Vai trò ông quan trọng đến mức tôi thường gọi đùa ông là “quân sư Nguyễn Trãi” thiếu minh chúa Lê Lợi để phò tá. Đến chơi nhà ông nhiều lần, tôi được biết và chứng kiến không ít các vị lãnh đạo tối cao của nhà nước vừa nhậm chức đến gõ cửa ông nhờ tư vấn. Nhưng cho dù ông có làm đến “ông trời” đi nữa thì tôi vẫn yêu mến và kính trọng ông như bậc cha chú, như một người làm thơ đàn anh có tâm huyết thật sự với đất nước. Ông có hai câu thơ hào khí ngất trời khiến tôi rất thích :
Dưới hầm đọc Lục Vân Tiên
Bỗng nghe vó ngựa bình Phiên thuở nào
Trong thời kỳ cánh cửa “bế quan tỏa cảng” vừa hé mở, không ai khác mà chính Trần Bạch Đằng mở toang cánh cửa văn hóa ra thế giới bên ngoài qua bộ phim nhựa chiếu trên đài truyền hình nhiều tập đầu tiên VÕ TẮC THIÊN do ông mang về. Bộ phim đã gây sóng gió với nhiều dư luận khác nhau từ giới chính trị bảo thủ. Nếu kẻ phổ biến bộ phim trên là một nhân vật khác không phải Trần Bạch Đằng thì ắt đã nằm trong tầm ngắm của công an văn hóa. Kỷ niệm của gia đình tôi và ông càng sâu đậm thêm vào mỗi dịp Tết. Cứ cuối năm lần nào đến thăm ông, tôi cũng được ông dành sẵn cặp rượu XO hiệu Martell hoặc Hennessy thượng hạng kèm theo một phong bao lì xì cho thằng nhóc con Bùi Vương của tôi tương đương một tháng lương. Đặc biệt đến thăm Trần Bạch Đằng mà không có Hương Lan vợ tôi là ông sa sầm nét mặt. Có lần vợ tôi bận bịu công việc, chỉ có hai cha con tôi xông đất thì ông nhăn nhó : ”Sao mày không dẫn con Lan đến, nó là con gái nuôi của tao. Tao gửi nó cho mày để nó làm mày thuần tính. Nhớ đó”… Một lần khác gần đây trước khi ông mất, ông còn viết một bài nhận định tổng kết khá dài trên báo Tuổi Trẻ để nói về những người làm nên diện mạo văn hóa chữ nghĩa cho thành phố, cho miền Nam đang bị nền báo chí thực dụng cố tình lãng quên. Trong bài báo ông có nhắc tên Sơn Nam… như nhà văn hóa lớn, và nhắc tên tôi như một thi sĩ dân gian đặc sản của Nam Bộ. Con người ông đại khái là vậy, ai nói gì ai xầm xì gì mặc kệ, ông đã vượt ra ngoài tầm mọi “thủ đoạn chính trị” của các phe nhóm để cuối cuộc đời sống như một con người. Những chuyến đi nước ngoài ông kể lại cho tôi làm tôi nhớ đến bài thơ ĐI SỨ SINGAPORE của thi hào Cao Bá Quát khi bị lưu đày theo sứ bộ Phạm Phú Thứ ngày xưa. Xin mạn phép chép lại để các bạn nghiền ngẫm :
THƠ CAO BÁ QUÁT
Tân Gia từ vượt con tàu
Mới hay vũ trụ một bầu bao la
Giật mình khi ở xó nhà
Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi
Không đi khắp bốn phương trời
Vùi đầu án sách uổng đời làm trai
Rõ ràng cái chết của chú Tư Ánh tức ông Trần Bạch Đằng là một mất mát quá lớn đối với đất nước. Không còn ông tư vấn về mặt nhân tâm và đạo lý, tình hình xã hội trở nên rối như mớ bòng bong. Những bế tắc vừa qua trong việc giải quyết tham nhũng từ trên xuống dưới đã chứng thực điều ấy.
Bước ngoặc đời tôi xảy ra sau đám cưới khoảng vài tháng. Một hôm ông Lê Thanh Hải tức Mười Hải, giám đốc Sở Nhà Đất thành phố mời tôi và nhạc sĩ giang hồ Nguyễn Hải đến dự tiệc tại tư gia. Ông Mười Hải trước kia là một trong những lãnh đạo Thành Đoàn thời bí mật, từng ở tù Côn Đảo và rất có máu mê văn nghệ. Ông nghe các phụ tá đồn đại về khả năng xuất khẩu thành thơ cay đắng của tôi nên muốn được thưởng thức cụ thể. Hôm đó Nguyễn Hải hát và ngâm bài thơ HỒ TRƯỜNG của Nguyễn Bá Trác cùng bài thơ PHẢN TỐNG BIỆT HÀNH của tôi xuất thần đến nỗi ông Mười Hải lặng người. Và tôi đọc tiếp bài ÔNG GIÀ BẮT RẮN làm ông chết điếng. Bài thơ ÔNG GIÀ BẮT RẮN ra đời khi tôi và Hồ Lê Thuần (con trai cố bí thư Thành Đoàn Hồ Hảo Hớn) ngồi nhậu tại một quán rượu chiều mưa trên đường Trần Quang Khải. Đang nhậu bỗng một người đàn ông trung niên tiều tụy đeo bị gậy tiến lại. Hai thằng mời vị hành khất ngồi vào bàn. Rượu vào lời ra mới biết người hành khất khắc khổ từng là cựu sĩ quan chế độ cũ sau khi học tập cải tạo về phải hành nghề bắt rắn để nuôi thân…
ÔNG GIÀ BẮT RẮN
Đột nhiên uống rượu gặp ông già
Hai thằng đều thuộc loại không cha
Cha ta ngày trước chưa hành khất
Sao ông già xách bị thăm ta ?
Quá may chai rượu còn phân nửa
Ta nâng ly thù tạc bạn già
Đêm nay không xỉn mà như xỉn
Tiếng cười theo giọt lệ lăn ra
Không gặp nói chi, bằng đã gặp
Chiến tranh dứt, sao mô còn đắp ?
Mời bố cạn ly rồi cười khà
Chồm hổm coi đời thua con mắt
Ông già, thằng nhỏ cụng ly “túc”
Khè khè không kém rắn hổ mang
Thiên hạ cao tay bằng ngón út
Giang sơn thu lại vất trên bàn
Ông già kể : “Nếu ưng nhậu rắn
Mời mấy em lên núi một lần
Khô hổ, khô trăn “qua” chất đống
Gọi là có dịp ngộ tri âm
“Qua” bắt rắn bằng dây thòng lọng
Khác thầy mo bắt rắn bằng bùa
Mãng xà cắt cổ “qua” làm tiết
Xực vào là khoái chuyện mây mưa
Chưa hết, mới xong màn tiết rắn
Còn sáu món chờ anh hùng ẩm
Luộc, xào, lẩu, nướng, gỏi, cà ri
Anh hùng ẩm tửu, anh hùng tận
Nhưng mấy em ơi, “qua” đã già
Cháu chắt thì đang thời khát sữa
Đành nửa đêm băng núi đi xa
Nói dóc xuống Sài Gòn đòi nợ
Mà xuống đồng bằng, “qua” là hổ
Con thú làm sao có mái nhà
Trời thương cho ngủ ngoài xó chợ
Đêm về nước mắt tưởng sương sa
May mà gặp chú dòng hảo hớn
Mời cụng ly không sợ dơ bàn
Chỉ tiếc thiếu một khoanh khô rắn
Cắn vào quên nỗi sợ công an”
Ông già xách bị chào mấy đứa
Bố ơi, đất nước lắm ăn mày
Tụi con trúng mánh nhờ phụ nữ
Thời này con gái dễ đưa cay
Thời này con gái như con rắn
Đem nướng phơi khô nhậu đã đời
Tụi con giống bố thân hành khất
Thường xin tiền phụ nữ mua vui
Còn hơn ăn trộm bằng ngòi bút
Vua quan trăm kiểu hái ra tiền
Tụi con tính trời cho háo sắc
Ra phố thường ăn trộm trái tim
Mưa xuống, ba người không chỗ ở
Ông già bắt rắn đã đi xa
Riêng ta đi kiếm dây thòng lọng
Đợi nàng rắn cái lén đi qua !
Sau khi hỏi thăm cụ thể về quá trình công tác, ông Mười Hải dặn tôi và Nguyễn Hải làm ngay hai hồ sơ cá nhân để ông thu xếp công việc phù hợp với chuyên môn từng người tại Sở Nhà Đất TP. Tôi và Hải cùng nộp hồ sơ theo yêu cầu nhưng không hiểu sao chỉ mình tôi được nhận về Ban Nghiên Cứu của Sở. Ngày đầu tiên đến cơ quan trình diện, Mười Hải khẳng định với tôi “Em về chỗ anh là để phát huy khả năng làm báo. Sở Nhà Đất đang xin phép ra một tờ báo hằng tuần. Không sử dụng tài nghệ viết lách của em là rất uổng”. Như vậy trong khi chờ đợi tờ báo ra đời, tôi tạm thời sinh hoạt tại bộ phận tham mưu cho giám đốc được mệnh danh là Ban Nghiên Cứu. Đó là một ban quy tụ các anh hào tứ xứ từ các nguồn khác nhau đổ về. Dân tập kết có, dân học sinh miền Nam có, dân hoạt động nội thành có và dân chính quyền cũ lưu dụng lại cũng có nốt. Đó là các chuyên viên tài năng trên các mặt ngân hàng, tài chánh, địa ốc, văn hóa dân tộc. Tại đây tôi cùng các anh Lộc, Tiếp, Trí, Lân… soạn thảo một cuốn sách văn bản pháp quy giải đáp những thắc mắc của mọi người về phương diện tranh chấp đất đai, quyền sở hữu nhà cửa và các thứ linh tinh khác. Cuốn sách như một thứ cẩm nang được tôi biên soạn hành văn một cách linh động và dí dỏm. Tôi còn được Mười Hải tín nhiệm giao cho việc ngoại giao báo chí khiến nhiều đồng nghiệp cũ trong giới làm báo đến Sở Nhà Đất gặp tôi ngỡ ngàng. Trong đó có cả anh Huỳnh Bá Thành. Đáng tiếc duyên nợ của tôi với Sở Nhà Đất khá ngắn ngủi. Tôi rơi vào hoàn cảnh “rất uổng” như sếp Mười Hải vô tình dự đoán trước. Bởi một lẽ giản dị cuối cùng không có giấy phép ra tờ báo và Mười Hải nhận quyết định về hưu. Trong một buổi gặp gỡ riêng vị sếp mê văn nghệ nói với tôi : “Huỳnh Bá Thành bên báo Công An TP đánh tiếng với anh muốn xin em về làm báo. Bên đó phù hợp với em hơn ở đây. Ở đây không có tờ báo mà anh lại sắp về hưu thì ai lo cho em ?”.
Thế là xong. Một năm hương lửa đang nồng, trượng phu chưa muốn động lòng xuất chinh thì… tôi đã phải từ giã Sở Nhà Đất. Đúng là tôi không có lộc ở cơ quan được đồn là “xịn” nhất trong các cơ quan làm ra của cải tiền bạc cho thành phố. Tôi chưa vội vã gặp họa sĩ Ớt tức anh Huỳnh Bá Thành. Tôi quyết định phiêu lưu xuống miền Tây theo đề nghị của báo Văn Nghệ TP để viết loạt phóng sự giang hồ về các cây bút lừng danh miền sông nước. Nhân sự chuyến đi gồm có Kim Tuấn, Trần Hữu Dũng, Vũ Ngọc Giao và tôi. Bốn người làm thành một phái đoàn mà thiên hạ gọi là Tây Du Ký. Còn phải hỏi, nhà thơ Kim Tuấn vốn tính tình điềm đạm nho nhã lại lớn tuổi nhất, là tác giả các bài thơ phổ nhạc nổi tiếng trước giải phóng như “Anh cho em mùa Xuân”, “Những bước chân âm thầm”… xứng đáng làm thầy chùa Tam Tạng thỉnh kinh. Nhạc sĩ guitar cổ điển Vũ Ngọc Giao vốn dĩ háo sắc, mê các em và mê nhậu hơn mê âm nhạc nên tục gọi Trư Bát Giới là phải đạo trời. Nhà thơ Trần Hữu Dũng thì lúc nào cũng ậm ừ, tịnh khẩu một cách bí ẩn thành thử được mệnh danh là Sa Tăng. Còn tôi tính khí ngang tàng, thấy việc ngứa mắt là phát biểu, giao tiếp rộng rãi cả hai phe chánh tà nên anh em phong làm Tề Thiên Đại Thánh. Phái đoàn chúng tôi lên đường chu du đủ lục tỉnh, làm nên loạt phóng sự nhiều kỳ HẢO HỚN MIỀN TÂY vang dội. Vũ khí duy nhất của tôi trong chuyến Tây Du Ký vẫn là những bài thơ tình đặc sản Nam bộ mà đồng nghiệp và công chúng yêu cầu đọc lên trong những đêm thơ. Xin giới thiệu bài thơ CON GÁI BA MIỀN đọc trong chuyến đi lưu diễn :
GÁI BẮC
Con gái Bắc rất chịu chơi
Ta dân Nam bộ ngỏ lời cầu hôn
Chịu chơi vì lắm hồi môn
Chẳng hạn răng khểnh, má tròn đồng xu
Chưa kể con mắt tiểu thư
Dáng đi công chúa, lởi ru thiên thần
Ta thường dễ động lòng trần
Thấy con gái Bắc manh tâm ngó hoài
Các em mình hạc xương mai
Thấp cao vẫn nhớ, mập gầy vẫn thương
Chanh chua vẫn ngọt như đường
Nói xạo cách mấy vẫn tương tư hoài
Nhớ em lồi hết lỗ tai
Lõm hai con mắt, lồi mười ngón chân
Em tên Bích, Thảo, Thu, Vân
Hay Kim, Oanh, Yến có lần chịu chơi
Từng yêu khi mới chào đời
Đêm nay gọi các em ơi, ta buồn
Hà Nội băm sáu phố phường
Ngó môi em hết nhớ đường về Nam
GÁI HUẾ
Con gái Huế rất khó chơi
Ta dân Nam bộ thốt lời vũ phu
Khó chơi vì hát như ru
Nói như chim hót, bước như rắn trườn
Cộng lại thì thành văn chương
Trừ ra thì dễ bất thường động tâm
Sơn bất tận, thủy bất thâm
Lên núi Ngự mới ớn thầm sông Hương
Ta từ xưa thích du dương
Ưa trèo núi, khoái bơi xuồng lội sông
Giang hồ một phút yếu lòng
Kêu lên hai tiếng mặn nồng : Huế ơi
Dù các em rất khó chơi
Nhưng ta cũng thử ngỏ lời bướm ong
Các cô gái Huế nghe không
Kêu thêm phụ nữ đến còng ta đi
GÁI NAM
Con gái Nam rất ham chơi
Ta dân cùng xứ ngỏ lời biểu dương
Ham chơi đến lúc lên giường
Em còn xuống giọng cải lương rất mùi
Sáng đèn nhớ lúc tối thui
Giàu sang nhớ củ khoai lùi dính tro
Các em như miếng cá kho
Ngó vô thấy đã, cắn vô thấy bà
Cắn vô xương gỡ không ra
Trừ khi trình diện ông già của em
Lên Đồng Nai, xuống Long Xuyên
Các em má lúm đồng tiền bắt ham
Chỉ người ngu mới không tham
Ta chưa ngốc muốn gỡ làm vốn riêng
Kệ đồng tiền trắng hay đen
Ngày ta bỏ túi, đợi đêm bỏ mùng
Các em mới liếc đã khùng
Hèn chi thi sĩ, anh hùng phải tiêu
Mỹ nhân nghĩ thiệt trớ trêu
Xưa nay danh tướng biết điều dưới cơ
Vòng Bến Tre, bọc Cần Thơ
Ở đâu ta cũng choán giờ cơ quan
Nước dừa em tắm thả giàn
Ta vốn đàng hoàng cũng lén rình coi
Rình coi con quạ kêu rồi
Quạ kêu “nam đáo” nữ ơi đề phòng
Phải không Đào, Cúc, Thu, Hồng
Anh trai khác họ đem lòng nhớ thương !
Trong chuyến đi tôi có dịp làm quen với Trịnh Bửu Hoài, Phù Sa Lộc, Nguyễn Văn Bổn, Võ Minh Đường, Trúc Linh Lan, Nguyễn Lập Em, Phạm Hữu Quang, Huỳnh Duy Lộc, Trần Thế Vinh, Hồ Thanh Điền, Thiện Chiến, Trần Thanh Phong, Trương Công Thuốt, Ngô Khắc Tài, Song Hảo… Đáng tiếc là lộ trình lưu diễn không đi qua Bến Tre và Long An để gặp bạn bè cũ là anh Mặc Tuyền, Đinh Thị Thu Vân, Hồ Trường, Bảy Dân, Nguyên Tùng, Kim Ba, Ngọc Điệp… Tôi cũng không gặp các huynh đệ quen thuộc Nguyễn Trọng Tín, Võ Đắc Danh, Võ Đắc Dự…vì họ không còn ở chỗ cũ. Chuyến đi đọng lại hai hình ảnh anh hùng hảo hớn cả văn lẫn võ. Đó là Phạm Hữu Quang và Huỳnh Duy Lộc, một kẻ vai bạn, một người vai em.
Phạm Hữu Quang râu quai nón như Lỗ Trí Thâm, tướng tá kềnh càng như con gấu nhưng có ánh mắt và nụ cười thật dễ thương. Phạm Hữu Quang ăn ý với tôi ở chất Lục Vân Tiên, tại Long Xuyên hễ gặp chuyện bất bình là anh sẵn sàng ra tay can thiệp nên thường “xa huy chương mà gần tù tội”. Anh lập gia đình có một vợ hai con, hồi học đại học Sư Phạm trên Sài Gòn cùng lớp với Nguyễn Nhật Ánh. Thơ Phạm Hữu Quang phải nói là độc đáo và có cá tính. Đọc những bài thơ phiêu bạt, khinh mạn của anh làm tôi liên tưởng đến thi sĩ Hà Thúc Sinh thời vàng son trước 1975. Hai anh em có một đêm nằm tâm sự với nhau và anh dúi vào tay tôi bài thơ mới làm từ chuyến viễn du miền Trung chống stress. Bài thơ được tôi đưa cho Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ TP là anh Chim Trắng đăng ngay lúc phái đoàn Tây Du Ký trở về. Bài thơ nổi tiếng đến mức hai câu cuối cùng tới bây giờ vẫn còn lưu truyền trên mạng internet :
Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi đã nhớ nhà
Khi tôi viết những dòng chữ này thì họ Phạm đã vĩnh biệt cõi đời sau một cơn bạo bệnh. Những dòng chữ xem như nén nhang thương tiếc một con người tài hoa sinh bất phùng thời.
Ngược lại với Phạm Hữu Quang, xuống Cần Thơ tôi đụng độ một hiền đệ gặp lúc thời vận ăn nên làm ra nhưng vẫn giữ nguyên tắc hảo hớn miền Tây “kiến nghĩa bất vi vô dõng giã”. Đó là Huỳnh Duy Lộc, giám đốc khách sạn Hào Hoa kiêm thi sĩ kiêm võ sĩ Thần quyền. Cuộc gặp mặt có cả Vũ Ngọc Giao như một chứng nhân. Xét về thơ thì Huỳnh Duy Lộc ăn nói cực kỳ khiêm tốn. Xét về võ thì họ Huỳnh khởi sự bằng cách nhai ly rôm rốp và nuốt chửng. Chuyện đó tôi cũng làm được, tôi ghé răng hất ly xây chừng vào miệng rồi nhai như bánh tráng đáp lễ. Huỳnh Duy Lộc chuyển sang võ bí mật. Hiền đệ họ Huỳnh đặt một trái quýt lên đỉnh đầu con người cao tới 1m74 là tôi, sau đó hiền đệ tung một cú giò lái từ thân thể cao chưa tới 1m60. Trái cam bị đá văng khỏi đầu tôi như một luồng gió thốc. Sẵn đà cao hứng, hiền đệ xách con dao chặt dừa ra chẻ phăng một trái dừa xiêm. Cũng con dao đó, họ Huỳnh chém vào ngực trần của mình bình bịch. Màn biểu diễn võ gồng chấm dứt mà da thịt Huỳnh Duy Lộc không hề trầy trụa hay sứt mẻ. Được biết trước khi trở thành thi sĩ, Huỳnh Duy Lộc từng bôn ba sóng gió giang hồ. Lộc từng thành danh đại ca bên đất nước chùa Tháp, từng hỗ trợ tích cực chính quyền địa phương trong việc săn bắt tội phạm hình sự.
Năm 1989 tôi làm việc tại Lăng Ông Lê Văn Duyệt. Trong một lần họp mặt truyền thống Thành Đoàn tại nhà anh Sáu Quang, tôi được Sáu Quang tức Nguyễn Chơn Trung (bí thư Thành Đoàn thứ nhì sau anh Năm Nghị) kêu về Bình Thạnh, nơi anh đương chức Bí thư Quận Ủy. Anh và Tư Phương tức Nguyễn Xuân Thượng phụ trách kinh doanh du lịch đang rất cần một đảng viên có năng lực để điều hành và vực dậy di tích Lăng Ông Lê Văn Duyệt trong tình trạng xuống cấp. Anh Sáu Quang từng chỉ đạo trực tiếp báo Tuổi Trẻ từ ngày mới thành lập và tương đối am hiểu con người nổi loạn của tôi, bởi anh cũng là một người làm thơ phong trào dưới bút hiệu Thiên Lý và là Chủ tịch Tổng Đoàn Học Sinh Sài Gòn trước cả Lê Văn Nuôi. Chỉ đáng tiếc tôi chưa hề là đảng viên nên tôi quyết định giới thiệu Lã Văn Cường, một nhạc sĩ đảng viên bên lực lượng TNXP cho anh vì Cường cũng chưa có việc làm, đang chờ chuyển ngành. Thế là hai đứa tôi cùng về phòng Văn Hóa Quận một lượt. Lã Văn Cường được bổ nhiệm làm giám đốc Lăng Ông. Trong GIAI THOẠI CỦA THI SĨ những phần trước, tôi đã nói sơ sơ về Cường. Đại khái tôi và Lã Văn Cường là cặp bài trùng một thơ một nhạc đi đến đâu tạo niềm vui cho đám đông ở đó. Vì vậy thoạt đầu nhận chức ở Lăng Ông, Cường và tôi đã quy tụ anh em hào kiệt tứ xứ khắp nơi. Nòi tình đồng điệu gặp nhau, khu di tích Lăng Ông thuở ấy khá hùng mạnh với bố già Sơn Nam làm cố vấn, với đạo diễn Trần Văn Hưng phụ trách nhà hát vừa xây dựng xong, với Đoàn Vị Thượng làm chánh văn phòng, với Nguyễn Hải làm quản lý Lăng… và võ thuật do Hồ Hoàng Khánh, huấn luyện viên Không Thủ Đạo, con trai cố võ sư lừng danh Hồ Cẩm Ngạc đảm nhiệm. Cuộc đời tưởng xuôi chèo mát mái nhưng… tưởng vậy mà không phải vậy. Giống như 108 anh hùng Lương Sơn Bạc ngày xưa, thời từng anh hùng còn “solo” chơi với nhau thật tình nghĩa, chia cơm xẻ áo hết mình, đến khi bị Tống Giang, Ngô Dụng gom sòng lại thì năm bè bảy mối, tan đàn xẻ nghé nghi kỵ lẫn nhau . Trong đạo Công Giáo có câu “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”. Ê kíp chúng tôi cũng không thoát khỏi định mệnh. Sau một thời gian “bạo phát” dưới hình thức kinh doanh mượn duy linh để làm duy vật, Lăng Ông “bạo tàn” nhanh chóng. Tôi không thể đấu tranh với chính bạn bè mình nên đành chia tay trong sự ân hận. Duy nhất một kỷ niệm đẹp mà tôi còn giữ : đó là lần đầu tiên tôi và nhạc sĩ Trần Tiến kết hợp nhau làm Đêm thơ nhạc thu hút khá nhiều sự bình phẩm của giới chuyên môn ở Lăng Ông…
Nghỉ Lăng Ông tôi rơi vào tình thế chỉ mành treo chuông vì gia đình tôi sắp có con trai đầu lòng. Đúng lúc đó chiếc đũa thần từ tay Huỳnh Bá Thành gõ xuống. Huỳnh Bá Thành tức họa sĩ Ớt bí danh Ba Trung, nổi tiếng với nét cọ châm biếm cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ bằng một nét vẽ mà giống cực kỳ. Anh hoạt động tình báo trong An Ninh T4 và là phụ tá báo chí của Đại tướng Dương Văn Minh (Tổng Thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa). Tôi biết anh ngay từ thời tôi còn phụ trách trang văn nghệ báo Tuổi Trẻ. Thuở ấy anh bị “đì” ná thở. Một trong những lý do bị thượng cấp nghi ngờ là tại sao anh làm tình báo mà không bị ở tù hoặc bị địch phát hiện, lại còn được Tổng Thống “ngụy” trọng dụng ? Thế là có lúc Huỳnh Bá Thành sa cơ phải công tác tại bãi giữ xe trước cửa Sở Công An TP trên đường Trần Hưng Đạo. Có lúc nhà anh đói đến mức thi sĩ giang hồ Mặc Tuyền từ Long An lên phải viện trợ gạo. Cả họa sĩ Ngoéo, một đồng chí vẽ châm biếm tài hoa, cũng từng giúp đỡ vật chất cho anh. Chính từ những ngày hàn vi ấy mà Huỳnh Bá Thành thấm thía hết sự bất công. Anh nhạy cảm trong sự phân biệt chính tà thiện ác và dám đầu tư nhân sự cho tờ báo Công An TP theo ý riêng của mình. Tại nhà hàng Continental (thời bia quốc doanh) anh, tôi, Ngụy Ngữ, Sáu Du, Hồ Ngọc Xum từng chia nhau từ miếng bánh mì cho đến ly bia hơi tem phiếu.
Tôi làm việc trong Ban cố vấn của tờ báo. Ban cố vấn là tên gọi một cách nôm na, thực chất đó là bộ phận tham mưu chiến lược cho Huỳnh Bá Thành bao gồm Ngụy Ngữ, Lưu Trọng Văn, Sơn Nam, Vũ Hạnh và tôi. Bằng kinh nghiệm lịch lãm của một người làm báo Sài Gòn cũ, Huỳnh Bá Thành đã đưa tờ Công An TP từ chỗ vô danh cho đến vị trí bán chạy nhất trong làng báo Việt Nam với con số phát hành kỷ lục. Mỗi ngày Huỳnh BáThành bắt tôi phải đến tờ báo vài tiếng đồng hồ buổi sáng để họp riêng với anh, chủ yếu là làm trang Văn Hóa Văn Nghệ, viết phóng sự hài hước, chuẩn bị những kịch bản phim viết chung cho hãng phim Người Bảo Vệ mới thành lập, và cả chuyện viết chung Feuilleton. Anh tin tôi đến mức có lần phát biểu trong một cuộc họp báo trà dư tửu hậu lúc ra mắt hãng phim : “Bùi Chí Vinh đại diện cho tôi, những gì Bùi Chí Vinh phát biểu là tôi phát biểu”.
Tôi đã không phụ lòng tin của anh. Bất chấp sự đa nghi của một số kẻ bảo thủ trong tờ báo, tôi và anh đã hoàn thành truyện dài nhiều kỳ LUẬT NHÂN QUẢ đăng trên báo Văn Nghệ TP, truyện cũng được chuyển thể thành kịch bản phim chung hai người mang tên MÊNH MÔNG TÌNH BUỒN do Hồ Ngọc Xum làm đạo diễn, Nguyễn Anh 9 làm nhạc phim. Ngoài ra năm 1989 lần đầu tiên trong đời, một ông anh khác là Vũ Quang Hùng, phó Tổng biên tập báo Công An TP kiêm phụ trách Nhà in Nguyễn Minh Hoàng cũng hổ trợ cho tôi in thiếu tập THƠ TÌNH BÙI CHÍ VINH do NXB Trẻ cấp giấy phép với số lượng bước đầu 5.000 bản. Anh Vũ Quang Hùng vốn là dân ám sát thuộc An ninh T4 sau giải phóng chuyển qua làm báo đúng như niềm mơ ước thời sinh viên của anh. Cũng như họa sĩ Ba Ớt, anh Hùng rất “sính” kiểu cách làm thơ ngang tàng của tôi nên anh em tri ngộ nhau tương đắc. Tôi đôi khi đóng vai trò hòa giải các ý kiến khác nhau giữa hai sếp bằng những bài thơ dụ ngôn. Nhờ sự trợ lực của Vũ Quang Hùng, tập THƠ TÌNH BÙI CHÍ VINH in ra gây tiếng vang lớn trên thi đàn cả nước và công chúng trẻ. Đã có những cuộc hội thảo về tập thơ “vĩa hè”, “đáng đọc nhất thế kỷ” trên báo chí lẫn các trường đại học mà tôi đã từng đề cập.
Huỳnh Bá Thành có những tham vọng riêng, tham vọng nào cũng đứng trên nền tảng quyền lợi của nhân dân hơn quyền lợi cá thể. Tuy nhiên cách hành xử luôn đi trước thời đại của anh khiến nhiều người ngộ nhận, trong đó có cả thượng cấp. Cũng may anh được ông Phạm Hùng (Phó Chủ tịch HĐBT phụ trách Bộ Nội Vụ lúc đó) ủng hộ nên nhiều vụ tai qua nạn khỏi. Trong một xã hội nhiễu nhương, con người tài năng cho dù đức độ vẫn luôn đầy dẫy kẻ thù, trường hợp Ba Ớt tức Huỳnh Bá Thành cũng như vậy. Có lần anh bị một số báo chí hùa nhau vây đánh về vụ che chở cho Việt kiều Nguyễn Quốc Bảo tức Bảo Sơn trong thương vụ điện ảnh. Anh phẫn nộ tâm sự với tôi, nhờ tôi viết loạt bài phản kích. Tôi chỉ hỏi anh một câu : “Tôi tin anh. Nhưng vụ Bảo Sơn với pháp luật là đúng hay sai. Nếu sai thì tôi sẽ không làm”. Khi Huỳnh Bá Thành khẳng định rằng anh am tường pháp luật và việc bảo vệ chuyện làm ăn hợp pháp của Việt kiều là đúng, thì tôi liền hoàn tất hồ sơ phản biện báo chí theo yêu cầu của anh. Kết quả hậu trường sau đó êm xuôi, lời ong tiếng ve cũng biến mất. Huỳnh Bá Thành tuyên bố một câu ngậm ngùi trong bữa nhậu tại nhà trước nhiều người : “Cháy nhà ra mặt chuột. Trải qua hoạn nạn mới biết đá biết vàng. Mới biết trong báo chí trong đồng hương xứ Quảng của mình, ai là kẻ lừa thầy phản bạn”.
Huỳnh Bá Thành qua đời vào mùng 2 Tết, lúc anh thở phào nói với tôi : “49 bước qua, 53 bước lại, cụng ly với anh chúc mừng qua năm tuổi”. Đêm đó tại nhà anh, hai vợ chồng tôi và hai vợ chồng anh Nguyễn Đăng Trừng (là người em cột chèo với anh) là những kẻ ngồi lại khuya nhất. Khi tôi và Hương Lan về, chỉ còn luật sư Nguyễn Đăng Trừng và bà xã ở lại. Đến khoảng 2 giờ sáng thì nhà văn Từ Kế Tường gọi điện thoại báo tin khẩn cấp cho tôi là anh Ba Ớt đã đột tử, xác quàng tại chùa Đại Giác, và các anh Vũ Quang Hùng, Hà Phi Long đề nghị tôi có mặt tại báo Công An TP suốt những ngày sau đó. Cái chết của Huỳnh Bá Thành gây chấn động làng báo trong và ngoài nước, anh chết cũng bất ngờ như vị lãnh đạo từng che chở anh đã qua đời trước đó là ông Phạm Hùng, đều cùng một nguyên nhân được giải thích là “nhồi máu cơ tim”. Cái chết của Huỳnh Bá Thành đi vào kỷ lục quốc gia về số lượng người thắp nhang đưa tiễn. Kỷ lục Guiness đau buồn này ghi nhận cho đến giờ chỉ có 3 đám ma đông người đến viếng nhất. Đó là đám ma nữ nghệ sĩ Thanh Nga làm sập bờ tường do công chúng hâm mộ xô đẩy. Đó là đám ma diễn viên Lê Công Tuấn Anh với công chúng điện ảnh trẻ tràn ngập khắp Sài Gòn như một cuộc mít tinh. Đó là đám ma Huỳnh Bá Thành với thập loại chúng sinh đến viếng, từ lãnh đạo trung ương địa phương đến bà con lao động nghèo khổ, giang hồ du đãng, bán vé số, đạp xích lô, đạp xe ba bánh, thương binh ngồi xe lăn cả hai chế độ. Phải nói rằng đám ma anh Ba Ớt là đám ma “nhân dân” đúng nghĩa nhất, con người suốt đời làm từ thiện cứu nhân độ thế như anh đã được đền đáp đích đáng bằng nước mắt của những người cô thế mà anh từng giúp đỡ…
Đêm đầu tiên quan tài anh Ba Ớt đặt tại tòa soạn, tôi đã thức suốt một đêm với anh bên cạnh anh Ba Tung và Sáu Du. Đêm đó anh Ba Tung, người từng đánh mìn thủy ngân sập cầu nổi chợ Bến Thành, người từng làm Trưởng phòng hình sự Sở Công An TP, từng bị báo chí đánh tơi bời vụ Đường Sơn Quán khiến đứa con gái thân yêu nhất của anh phải tự tử vì hổ thẹn. Đêm đó mắt Ba Tung rớm lệ. Tôi hiểu con người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng như anh bị uất ức ra sao khi bó tay trước những kẻ ám hại mình. Tôi cũng như anh, những lúc mạt lộ đều có sự hỗ trợ tinh thần cần thiết của anh Ba Ớt. Chính báo Công An TP là báo duy nhất đăng tin con gái Ba Tung tự tử chết vì áp lực tàn khốc từ một vài tờ báo lớn của thành phố. Đêm đó dù Lưu Trọng Văn đã viết sẵn một bài điếu văn thương khóc Huỳnh Bá Thành nhưng hai phó Tổng Biên Tập Vũ Quang Hùng, Hà Phi Long vẫn yêu cầu tôi tức tốc làm một bài thơ tưởng niệm Huỳnh đại huynh để đăng báo ngay sáng hôm sau. Mùng 3 Tết Quý Dậu bài thơ KHÓC ANH HUỲNH BÁ THÀNH đăng báo và đến bây giờ vẫn còn nhiều anh em nhớ mãi. Bài thơ sau này được in trong cuốn sách KÝ SỰ NHÂN VẬT của cố Họa sĩ Ớt, tức Huỳnh Bá Thành do NXB Trẻ phát hành năm 2002 :
KHÓC ANH HUỲNH BÁ THÀNH
Cái chết đến thật bất ngờ
Người kỵ sĩ chưa hề thấm mệt
Con ngựa Quan Công nhắm mắt như mơ
Dây cương đứtt hai bờ nhật nguyệt
Năm tuổi của anh đi qua như gánh xiếc
Tiếng thị phi lẫn tiếng anh hùng
Anh không có đủ 72 phép thần thông bất diệt
Suốt đời ôm giấc mộng Tôn Ngộ Không
Khi trần gian chưa sòng phẳng sự công bằng
Khi ma quỷ vẫn còn đeo mặt nạ
Cây cọ của anh vẽ từ nhân dân
Lật tẩy bọn vua quan ngụy trá
Khi máu đào còn tuôn như nước lã
Người nhìn nhau chưa hiểu được lòng minh
Ngòi bút của anh có đường gân thớ lá
Lá rách lá lành đùm bọc nghĩa đệ huynh
Nho sĩ ngày xưa đợi Mạnh Thường Quân
Thế thiên hành đạo nuôi người khố rách
Buổi nhiễu nhương của đạo quân thần
Tâm nghiêng ngã giữa dơ và sạch
Anh đã sống hết giấc mơ kiếm khách
Cái chết giống như một lưỡi gươm cùn
Trái tim khép ngay thời mở cửa
Để nén nhang đời cháy đỏ rưng rưng
Ôi nghĩa tử củng là nghĩa tận
Ai khanh tướng công hầu, ai họa sĩ nhân dân ?
Chị Ninh (vợ anh Huỳnh Bá Thành) nói với tôi trong đám giỗ đầu : “Anh Ba hồi còn sống hay nói họ Bùi có hai kẻ chọc trời khuấy nước là Bùi Giáng và Bùi Chí Vinh. Ông Giáng ghé thắp nhang rồi, bây giờ Bùi Chí Vinh đốt cho anh Ba điếu thuốc đi”. Nhân nhắc đến Bùi Giáng, tôi sực nhớ khoảng đầu năm 1990 tôi có chở Hương Lan lúc đó mang bầu đứa con đầu lòng ghé chơi nhà Nguyễn Lương Vỵ, thi sĩ kiêm Trưởng phòng Văn Hóa Thông Tin quận Phú Nhuận. Tại phòng khách có mặt sẵn hai dị nhân Bùi Giáng và Joseph Huỳnh Văn. Anh Huỳnh Văn thì tôi không xa lạ gì, anh cùng đạo Công Giáo với tôi và là nhà thơ có hai câu thơ đau đớn đến tuyệt mỹ :
Một đêm ta uống hết sông đầy
Một đêm ta khóc hết thơ ngây
Tôi với anh Hiến tức Joseph Huỳnh Văn thân nhau như huynh đệ, nhưng với Bùi tiên sinh thì khác. Sau khi làm thủ tục chào hỏi, Bùi tiên sinh hất hàm với tôi : “Phu nhân của Bùi hậu sinh có chữa hả, đặt tên gì chưa ?”. Tôi trả lời rằng chưa thì Bùi Giáng vỗ bàn cái rầm : “Trẫm đề nghị đặt tên cho hậu duệ Bùi hậu sinh là Bùi Vương. Bởi họ Bùi chưa có ai làm vua cả”. Phát ngôn của Bùi Giáng làm cả bàn phì cười, lúc đó tôi giả tảng nhắc lại kỷ niệm cùng với Hồ Lê Thuần hội ngộ ông ở chùa Long Huê, Gò Vấp. Kỷ niệm sâu sắc đến mức tôi ghi lại bằng bài thơ HỌ BÙI đọc ra trước mặt ông :
HỌ BÙI
Ta kiếm hoài một gã họ Bùi
Trong lịch sử từng làm hoàng đế
Chỉ thấy họ Đinh, Lê, Trần, Lý
Thay phiên nhau mặc áo long bào
Gượng cười ba tiếng mà rơi lệ
Bùi gia trang tuyệt giống rồi sao ?
Không xưng vương thì ắt cường hào
Ta bỏ sử đi tìm kinh sách
Nguyễn Đình Chiểu đui mà thấy hết
Gọi ngay ông Bùi Kiệm đến chào
Chao ôi thủy tổ nhà ta lạ
Khinh ngai vàng, mê gái thật sao ?
Không xưng vương thì ắt xưng tao
Ta bỏ sách đi lùng tứ phía
Chùa Long Huê có người mũ tía
Trải chiếu rơm viết một chữ Bùi
Ta giả nhà sư đi ngắm nghía
Biết rằng Bùi Giáng ghé am chơi
Thế thì dòng dõi nhà ta quậy
Tửu sắc đều say đến bốc trời
Không lập đế vì ưng rượu đế
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
Không lập chúa vì ưng nữ chúa
Thà lên… Bùi mãi, chẳng lên ngôi !
Bài thơ HỌ BÙI hiện giờ nằm trên mạng internet toàn cầu, là niềm tự hào của trang web “gia phả họ Bùi”. Bài thơ cũng được nhà báo kiêm nhà thơ trẻ Phan Hoàng in lại trong cuộc phỏng vấn tôi trên báo Người Đương Thời. Một lần trả lời phỏng vấn của Phan Hoàng trên báo Sài Gòn Giải Phóng tôi cũng đã giải thích về cái tên họ cụt ngủn của thằng con Bùi Vương do Bùi Giáng đặt. Bởi tôi là dân Sài Gòn gốc Nam Định, không phải dân miền Trung thường đặt tên con “hai chữ “. Phan Hoàng đã hỏi tôi thật cắc cớ về chuyện Bùi Giáng mất và bị khá nhiều câu lạc bộ kinh doanh thơ, thư pháp… lợi dụng, thì tôi đã trả lời rõ ràng: Rằng sự nghiệp thơ Bùi Giáng không nằm trong sáng tác mà nằm trong chính cuộc đời của ông khi giả điên và dấn thân như một Hành giả. Những kẻ ăn theo cái chết Bùi Giáng có thể liệt kê vào thành phần ngụy quân tử, thiếu lương tâm và vô đạo đức. Vì lúc còn sống Bùi tiên sinh không hề quan tâm đến họ mà chỉ chơi với trẻ con, chuồn chuồn, châu chấu. Hôm quan tài Bùi Giáng quàng ở chùa Vĩnh Nghiêm có mặt chị Kim Cương, điêu khắc gia Phạm Cung, thân tộc họ Bùi là Bùi Bảy… tôi đã lập lại lời nói đó. Và được nghệ sĩ Kim Cương, người mà Bùi Giáng cực kỳ hâm mộ, người lo hậu sự cho ông, đã ủng hộ tôi tối đa. Chị Kim Cương hào hứng tới nỗi lôi tôi và hai ông Phạm Cung, Bùi Bảy lên xe hơi của chị chạy ra phở Pasteur làm một chầu lai rai bồi dưỡng. Cũng cần thiết mở ngoặc đơn chỗ này : nhà của Phạm Cung là tiền trạm ghé chân của khá nhiều danh sĩ như Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Phạm Duy, Phan Nhật Nam…trong nhà có tượng đồng bán thân Bùi Giáng, Phạm Duy và một bức tranh sơn dầu Phạm Cung phóng bút vẽ tình bạn của ba người Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư và ông. Xuất thân từ một điêu khắc gia nhưng tranh của ông vô cùng sắc sảo khi đề cập đến thân phận loài người dưới đáy xã hội. Hồi Huỳnh Bá Thành còn sống, chính anh Thành cùng tôi đến tận nhà Phạm Cung mời ông khai trương phòng triễn lãm từ thiện đầu tiên tại báo Công An và cuộc triễn lãm đó đã thành công rực rỡ cả tài chánh lẫn nghệ thuật.
Nhiều người trong giới văn nghệ (ngay cả chị Ninh, vợ Huỳnh Bá Thành) đều nghĩ rằng anh Ba Ớt “đai” là tôi hết đất sống. Trong độ tuổi “tứ thập bất hoặc” bốn mươi không còn gì để nghi ngờ, tôi vẫn tiếp tục tự mưu sinh thoát hiểm chẳng cần ai đỡ đầu. Tôi còn nhiều chuyện không thể kể ra đây hết được đối với nhiều người vì các lý do tế nhị khác nhau. Những chuyện thoạt nghe tưởng như giai thoại nhưng đều trả giá bằng đạo nghĩa ân oán phân minh. Nửa đêm trằn trọc nằm vắt tay lên trán nhớ lúc đói meo ra Đà Lạt gặp nhà thơ Bùi Minh Quốc, gặp bạn cũ Phan Minh rồi được nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự đánh xe hơi rước đi đọc thơ ở trường đại học Đà Lạt. Rồi lần nhậu dựa lưng cùng thi sĩ đàn anh Thu Bồn tại Hội Văn Nghệ bàn chuyện diệt bạo trừ gian, diệt bọn cầm bút vô lại và trừ đám gian thần nịnh hót. Rồi có lần cùng Nguyễn Trọng Tín, Trần Hữu Dũng, Võ Đắc Danh thuê hai chiếc xích lô xuống trường Đảng ở Thủ Đức nhậu, trong lúc ai nấy đều say khướt tôi bất ngờ cứu mạng Võ Đắc Danh khỏi một đường dao oan nghiệt, đến bây giờ bàn tay tôi còn thẹo. Rồi có lần cùng Nguyễn Quốc Chánh dẫn phái đoàn nho sĩ Bắc Hà đi chơi, cuối cùng nhà văn Nguyên Ngọc phải “bỏ dép chạy lấy người” tại Xóm Chùa. Rồi bỗng dưng nhớ lại hồi còn làm báo Công An với Huỳnh Bá Thành, tôi có dịp cứu cô cháu gái của nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm bỏ nhà vô Nam đi bụi qua bản tin đăng trên báo. Rồi nhớ lại những lần cụng ly với nhà doanh nghiệp xe lăn Tiến Toàn, mỗi lần đọc một bài thơ ứng khẩu là vị thương gia có máu Mạnh Thường Quân móc ra chi ngay cho tôi “một vé”. Rồi tiếp tục nhớ lần ra Bắc họp đại hội Nhà văn trẻ toàn quốc được sự đón tiếp bằng lòng hiếu khách đặc biệt của thi sĩ Nguyễn Quang Thiều với “anh hai Sài Gòn” theo cách của Thiều màchỉ tôi mới hiểu. Rồi lần ra Bắc tiếp theo để nhận tặng thưởng đặc biệt của NXB Kim Đồng cho bộ truyện thiếu niên 5 Sài Gòn, gặp dịch đau mắt bị Nguyễn Quang Lập lây, lúc về Sài Gòn bế quan cả một tuần lễ. Tiếp tục nhớ thời bo bo xách súng cùng nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết, họa sĩ trịnh Thanh Tùng đi săn cải thiện nhưng không dám bắn chim cu đất vì nó giống chim bồ câu biểu tượng cho hòa bình. Nhớ lần chở Vũ Ngọc Giao ngồi trên sườn trước chiếc xe đạp bỏ mối kẹo, khi đổ dốc Cầu Kiệu xe đạp tự nhiên gảy làm đôi, mỗi thằng ôm một nửa cái xe, không biết làm sao bèn quăng luôn xuống sông Cầu Kiệu. Tôi lại nhớ lần cố gắng dùng văn hóa “cứu bồ” nhà hàng Điểm Hẹn Sài Gòn của sếp báo Tin Sáng kiêm cựu dân biểu Dương Văn Ba cách đây vài năm bằng một đêm thơ nhạc trong đêm Noel với ba người “Bùi Chí Vinh, Phan Vũ, Miên Đức Thắng”, nhưng mọi thứ đã muộn màng vì nhà hàng có quyết định đóng cửa. Gần đây nhất nhớ lần lên Đà Lạt cùng đạo diễn Nguyễn Chánh Tín làm phim ma NGÔI NHÀ BÍ ẨN được nhiếp ảnh gia MPK Phước Khùng coi bói rằng ngôi nhà hoang ở Trại Mát đúng là có ma thật… Tất cả những hồi ức ấy loang loáng như một giấc mơ, như một kiếp nạn mà tôi bắt buộc phải trải qua. Trải qua để trở về CÁI CHUỒNG NGỰA của mình, cái chuồng ngựa biểu trưng cho mái ấm gia đình mà tôi đã từng xuất khẩu thành thi chép cho anh Nam Dao trước khi anh đi Mỹ. Bài thơ tam sao thất bổn mà Nam Dao đăng trên mạng như một kỷ niệm ngày tôi và anh quen nhau những năm đầu 75 :
CÁI CHUỒNG NGỰA
Tụi nó cưỡi lên lưng ta như cưỡi ngựa
Khiến mông ta có đuôi và sau gáy mọc ra bờm
Ta vừa hí vừa nặn mình nôn mửa
Một đống lạ lùng nửa áo nửa cơm
Tụi nó còn đưa ra trước đầu ta một giỏ cỏ thơm
Có mùi văn chương, có hương nghệ thuật
Ta cắn răng nhai một cách cuống cuồng
Đến khi ợ mới hay mồm tàn tật
Tụi nó định vỗ tay mừng ta tự sát
Nhưng nước mắt của em đã đông lại thành chuồng
Ta sẽ cố sải dù bốn chân cà nhắc
Để nhớ rằng mình còn có một quê hương
Có lần tôi tái ngộ Trần Tiến Dũng sau hơn 20 năm. 20 năm trước tôi cùng Hồ Lê Thuần xuống chợ Bình Tây thăm gian hàng bán đồ chơi của đôi vợ chồng sắp cưới Trần Tiến Dũng. Lần ấy Dũng chưa trở thành nhà thơ trường phái tư do, Dũng nhà quê trong sáng như một “người nông dân nổi dậy” gặp tôi liền xin bài thơ chép tay mang tựa CÂY DƯƠNG ỐM sáng tác khi lên vùng đất Siberi Duyên Hải. Tôi không ngờ sau chừng ấy năm Trần Tiến Dũng còn giữ bài thơ đó và đọc lên cho tôi cùng giáo sư toán nổi tiếng Cù An Hưng nghe tại quán cà phê Bích Câu. Khoảnh khắc thiêng liêng của chữ thật cảm động. Xin giới thiệu kỷ niệm đó ở đây :
CÂY DƯƠNG ỐM
Sẽ tìm được một cây dương ốm nhất
Cởi áo ra ta đứng tựa trời trồng
Tiếp tục cởi hết quần dài quần cụt
Các em nhìn ta có giống cây không ?
Sẽ đứng vậy bởi vì chiều lắm gió
Chiều im hơi ta sẽ duỗi chân nằm
Đàn ông nằm thô tục hơn thiếu nữ
Các em nhìn ta giống bóng cây không ?
Sẽ xuống biển nếu cây dương bật gốc
Cây dương quyên sinh, ta phải tự trầm
Kể từ đó sóng buồn như khóc
Các em nhìn ta giống rễ cây không ?
Sẽ không chết nữa nếu cây dương mập
Nếu các em cũng từ khước áo quần
Nếu các em đừng nhìn ta lén lút
Ôi biết biển còn nhớ đến cây không ?
Thì ta cứ là cây dương ốm nhất
Cho các em nhìn suốt bốn ngàn năm…
Tháng vừa rồi gặp lại Hồ Thi Ca, con người muôn năm cũ, từ thời học đại học Sư Phạm sau Nguyễn Nhật Anh một khóa. Hồ Thi Ca cùng lớp với các nhà văn nữ Lý Lan, Lưu Thị Lương. Gặp lại để mà nhớ thuở ban đầu tôi đang làm báo Tuổi Trẻ và Hồ Thi Ca cũng như nhiều văn nghệ sĩ khác đang là cộng tác viên trang văn nghệ do tôi cùng anh Hoàng Nghĩa phụ trách. Lúc đó họ Hồ chưa làm thơ mà được chú ý nhờ viết truyện ngắn, truyện nào cũng có duyên và đầy triển vọng được ký dưới tên thật Hồ Bửu Trân. Họ Hồ chính là một trong những cơ sở hậu cần của tôi thời ấy trong những lúc lang bạt. Tôi và Nguyễn Nhật Anh thường xuống đường Bà Hạt ghé tiệm thuốc đông y nhà của cha mẹ Hồ Thi Ca lục cơm nguội và ngủ lại. Ngày tôi sắp đi bộ đội cũng chính Hồ Thi Ca cùng cô Vinh vợ tương lai tổ chức đêm họp mặt trên sân thượng có nhiều người đưa tiễn, trong đó có Lý Lan, Lưu Thị Lương và các bạn yêu thơ khác. Lần gặp lại này Hồ Thi Ca chỉ hỏi tôi một câu “Sao không thấy ông làm thơ nữa mà chuyển sang viết kịch bản phim cho Nguyễn Chánh Tín, chẳng lẽ ông hết yêu thơ rồi sao ?”. Trời ạ, làm sao có thể bỏ thơ được khi nó là nghiệp chướng của mình. Tôi chỉ biết đọc cho Hồ Thi Ca bài THƠ GIẶT ĐỒ để lý giải :
THƠ GIẶT ĐỒ
Mới đầu ta định làm thơ
Sau cùng cảm thấy giặt đồ hay hơn
Sống như Hàn Tín lòn trôn
Hăm bốn chữ cái nuôi mồm không xong
Ra đường sạch giữa đám đông
Về nhà đóng kín thư phòng thấy dơ
Tắm nhiều lưng vẫn trơ trơ
Tốn bao nước rửa, bàn cờ vẫn xoay
Chi bằng sẵn áo quần đây
Ta dồn cái sạch bên ngoài vào trong
Sá gì một chút xà phòng
Mà đi phản bội tấm lòng chậu thau
Nắng lên, phơi áo công hầu
Đợi khô đóng kịch, biết đâu thành người
Ngoài Hồ Thi Ca, đầu năm 2008 tôi tình cờ tái ngộ lại một người bạn cố tri từ hồi còn học trung học công lập Trần Lục. Đó là Phương A, người bạn cận thị hiền lành ít nói nhà ở Xóm Bến Tắm Ngựa cạnh Xóm Lách của tôi. Phương A giờ đã là một thầy giáo giỏi chuyên môn dạy trường Nguyễn Thị Minh Khai, chủ nhân một blog có uy tín. Tôi không ngờ Phương A theo dõi con đường văn nghiệp gập ghềnh của tôi rất kỹ. Anh còn lưu giữ bài thơ tôi chép tay tặng anh năm học đệ lục (tức lớp 7). Anh “photo” tờ báo Xuân Trần Lục có bài viết của tôi để tặng tôi với nỗi ngậm ngùi. Hai đứa ngồi uống cà phê nhắc những thằng bạn nhà giàu giỏi giang đang lập nghiệp bên Mỹ như Đặng Quốc Thứ, Hoàng Quốc Quý… một cách bồi hồi. Coi, quen nhau năm 12 tuổi rồi bẵng đi hơn 40 năm mới gặp lại thì cuộc đời hỏi sao chẳng như một cái nháy mắt. Phương A nháy mắt qua tròng kính cận hỏi tôi về gia đình, vợ con. Tôi chỉ biết đọc cho thằng bạn hành nghề “gõ đầu trẻ” bài thơ GIA HUẤN CA :
GIA HUẤN CA
Làm thơ tự do cuối năm
Làm thơ tự do trước khi rời thành phố
Thơ đắp mền cho phu nhân
Thơ lau mặt cho quý tử
Thơ có túi như con đại thử
Nhét nhân gian bốn cõi vào lòng
Thơ cuồng nộ như cơn lũ
Móng vuốt thành trăm sông
Ái chà, ta làm thơ tự do
Tự do chữ, tự do vần tuyệt đối
Không câu nệ, chẳng từ chương
Đời te tua như hủi
Các triều đại thịnh suy vì nói dối
Vua chúa sa cơ cũng giống ăn mày
Thơ ta nghèn nghẹn bảy món chay
Ca ngợi tự do trên thớt
Tự do của con cá bằm sả ớt
Cùi không sợ lở, hê hê
Khát vọng tương đương như tuyệt vọng
Con trai dòng họ Kennedy lớn lên làm Tổng thống
Chuyện ngày xưa Lọ Lem xấu số hóa nữ hoàng
Ta đã từng nằm mơ đàm đạo với Quang Trung
Lúc thức dậy đất cắm dùi không có
Ai bảo sinh ra ở hóc bà tó
Mà mơ mộng ngai vàng
Thơ hay bá cháy con bọ chét
Cũng bèo như cóc ở trong hang
Con trai ta chịu chơi hơn ta
Nó có vương quốc riêng hết sảy
Vũ trụ chứa một tỷ người máy
Hành tinh gom một tỷ quân bài
Nó chơi game bằng một tỷ ngón tay
Ác thú, quái nhân đều nằm chỏng gọng
Nó trả thù trong trật tự riêng
Trật tự của một ngài Tổng thống
Đừng cười anh nghe em
Anh vẫn là gia trưởng
Đừng khi dễ ba nghe con
Ba vẫn là kẻ di truyền sự sống
Có làm cha thiên hạ vẫn muôn đời nói ngọng
Áo mặc không qua khỏi đầu
Sau này con lỡ làm thiên tử
Nhớ đừng quên gia phả chăn trâu
Trong cuộc đời đầy sóng gió của tôi có lẽ ông Nguyễn Thắng Vu là ân nhân cụ thể nhất. Nhiều người khác cũng có bụng “lân tài” giúp đỡ tôi nhưng kết quả thường huyền ảo hơn là hiện thực. Chính ông Nguyễn Thắng Vu, giám đốc NXB Kim Đồng mới là kẻ giao hẳn chiếc cần câu cho tôi câu miếng cơm. Nội vụ bắt đầu từ lúc Trần Đình Nam, cán bộ biên tập NXB Kim Đồng vào miền Nam tìm tôi đặt hàng truyện dài HẢI ĐẠI BÀNG. Cuốn truyện phát hành thuở bao cấp xa xưa gây tiếng vang nhất định. Từ thành công bước đầu ấy, năm 1995 giám đốc Nguyễn Thắng Vu tin tưởng giao cho tôi phóng tác 70 cuốn TỨ QUÁI TKKG của Stefan Wolf qua bản dịch mộc của Vũ Hương Giang. Bằng kinh nghiệm giang hồ và văn phong không giống ai, tôi đã đẩy mỗi cuốn TỨ QUÁI TKKG phát hành hằng tuần lên con số trung bình 6 vạn bản, một con số mà đến giờ này chưa bộ sách nào phá nổi. Bộ TỨ QUÁI TKKG đã giúp tôi xây được một ngôi nhà khang trang đúng nghĩa tại Sài Gòn. Chưa dừng ở đó, năm 1997 giám đốc Nguyễn Thắng Vu tiếp tục đặt hàng tôi viết bộ truyện thiếu niên hành hiệp phiêu lưu mạo hiểm diệt bạo trừ gian hoàn toàn đặc sản Việt Nam mang tên 5 SÀI GÒN gồm 40 cuốn. Bộ truyện 5 SÀI GÒN cũng tạo được sự chú ý của dư luận với con số phát hành cao điểm mỗi cuốn lên tới 2 vạn bản mỗi tuần. Phải nói đây là lần đầu tiên 2 bộ truyện dành cho tuổi mới lớn trên được bày bán khắp các sạp báo, lẫn lộn và cạnh tranh với báo chí trên toàn quốc.
Xét về mặt năng lực, ngoài Huỳnh Bá Thành từng đưa tờ báo Công An TP từ trong bóng tối ra ánh sáng với con số phát hành kỷ lục gần một triệu số hằng tuần, thì người thứ hai không ai khác chính là Nguyễn Thắng Vu, vị giám đốc tài ba và lão luyện từng vực dậy NXB Kim Đồng cất cánh qua bộ truyện tranh ĐÔRÊMÔN, một bộ truyện nhập cảng từ Nhật Bản làm đảo lộn hết những cái nhìn mô phạm cứng ngắc trong kinh doanh của ngành xuất bản bao cấp nội địa. Ông Vu đối với gia đình tôi có những tình cảm đặc biệt. Ông quan tâm đến tôi ngay cả lúc đã về hưu, chuyển sang làm chủ tịch hội đồng cố vấn cho NXB Kim Đồng. Tôi yêu quý và tôn trọng tâm huyết của ông về sự tự do cho trẻ con, sự công bằng cho người lớn khi ông nói về một thế giới mơ ước. Năm 2007 khi báo chí loan tin tôi về với hãng Chánh Tín Film của đạo diễn Nguyễn Chánh Tín để chuyên viết những kịch bản phim nhựa 45 phút đề tài kinh dị, hành động… Ông Nguyễn Thắng Vu đã gọi điện cho tôi nói rằng : “Xin chúc mừng em chuyển sang bước ngoặt mới. Theo anh thì Bùi Chí Vinh có ba thời kỳ phất lớn trong sáng tác. Đó là thời kỳ làm thơ, thời kỳ viết truyện và bây giờ đến thời kỳ làm phim. Anh luôn tự hào và tin tưởng ở em”. Cuộc trò chuyện qua điện thoại rất dài và rất nhiều chuyện để nói giữa hai anh em ít khi gặp được nhau. Tôi không phản đối sự chúc mừng hồn nhiên của “lão ngoan đồng” Nguyễn Thắng Vu, tuy nhiên trên thực tế tôi làm gì có thời nào cho mình. Tôi sống bằng nổ lực tối đa để tự cứu mình, cứu người thân, và cứu đồng loại. Chữ “thời” chỉ xảy ra với những kẻ liên minh quyền lực và tiền bạc trong khi tôi chỉ là một người cầm bút “solo”. Sau lưng tôi chỉ có nhân dân thấp cổ bé miệng, tôi đã bị “đóng đinh” không ít lần trong đời vì chiến đấu cho số đông nhân dân bị quên lãng ấy.
Năm nay 2008 tôi đã bước vào tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh”, người xưa nói số tuổi này nắm được mệnh trời. Tôi chẳng nắm gì cả, tôi ghê tởm bọn tham sân si và không thể đánh đu số mệnh giống chúng được. Tôi vẫn tiếp tục sống như một con người dù có lúc bị đẩy vào đường cùng như một con vật. Thậm chí tôi sẵn sàng đề tựa tập thơ NGỰA CŨNG BUỒN của thầy giáo Tiến sĩ dạy toán trường đại học Kinh Tế là Nguyễn Văn Nhân vì tôi cảm thấy hạnh phúc khi đọc một tập thơ có những bài thơ hay. Bài tựa mang tên LỜI TRI KỶ CHO NHÂN mà tôi phóng bút tại chỗ lúc ngồi với Phạm Hồng Danh, Nguyễn Văn Nhân trong một chiều mưa tầm tã. Xin trích bốn câu cuối cùng bài tựa mà tôi viết :
Đệ nhìn huynh như nhìn… con ngựa
Ngựa chứng nhiều khi cũng biết buồn
Ta nhìn đệ như nhìn đốm lửa
Cuối đường hầm leo lét mà thương
Phạm Hồng Danh, Thạc sĩ toán kiêm thi sĩ đại học Kinh Tế cũng là một chiến hữu từ trên trời rớt xuống. Danh biết tôi từ hồi hắn đi bộ đội nằm bệnh x