Giai thoại của thi sĩ – Phần IV [I] - Diễn đàn X-cafe
Diễn đàn X-Cafe


Giai thoại của thi sĩ – Phần IV [I]


BÙI CHÍ VINH (Viết tặng X-cafevn)

Thời kỳ đầu sau giải phóng người Việt Nam gần như chỉ có hai toa thuốc để điều trị dạ dày và sức khỏe. Toa thuốc thứ nhất chính là bo bo tràn ngập trong mỗi bữa ăn. Bo bo vốn dĩ không phải là thứ thức ăn cho người nhưng trong tình trạng đất nước vừa thống nhất lại thiếu lương thực trầm trọng, nên ai nấy đều cố gắng chế biến bo bo bằng đủ mọi công thức luộc, hấp, chiên, xào… đủ kiểu để có thể nuốt trôi vào cuống họng. Ngoài ra những kẻ có năng khiếu ẩm thực có thể hô biến bo bo thành một loại bột giống như bột mì để làm thành mì sợi, bánh bao, nui… với điều kiện vừa nấu chín xong phải xơi tại chỗ, bởi chỉ cần để lâu chừng nửa tiếng là các thành phẩm sáng tạo sẽ cứng như đá. Ở trường Thanh Niên Xây Dựng Cuộc Sống Mới Xuyên Mộc năm 1977 tôi đã từng được nếm thứ bánh bao cứng như đá có thể gãy răng nanh như chơi từ nhà bếp hậu cần :

SIÊU THỰC PHẨM

Ở một thời kỳ mà ngay cả bột mì
Cũng hóa thành thức ăn tân kỳ nhất
Bóp nhẹ đôi tay thành bánh bao lúc lắc
Thêm vài cọng hành húp được bữa canh nui
Bóp thật nhanh vì bao tử rã rời
Dù được trang bị một bồ lý luận
Húp thật chậm vì dạ dày trống rỗng
Dù được nhai xong quan điểm lập trường…


Toa thuốc thứ hai chính là xuyên tâm liên. Xuyên tâm liên là những viên thuốc tròn màu đen ngó như cứt chuột được các viện bào chế nội địa tung ra để trị bá bệnh. Hồi đó các bạn chỉ cần gõ cửa các trạm y tế phường xã là sẽ được bác sĩ lẫn y tá cung cấp ngay một lô đại trà xuyên tâm liên cho dù bệnh các bạn có là cảm mạo thông thường hoặc xuất huyết bao tử, sưng gan, ung thư, giang mai hay cùi hủi. Đặc biệt xuyên tâm liên được điều trị cho cả trẻ con lẫn người già. Yêu cầu duy nhất là miễn giải thích bởi khả năng ngành y không thể có được thuốc kháng sinh. Trong tình thế cơm không có ăn, áo không đủ mặc như thế nhưng Việt Nam vẫn lập được chiến công vĩ đại là đưa người vào không gian. Tôi còn nhớ chuyến bay “mãnh long quá giang” của Phạm Tuân trên tàu vũ trụ Liên Xô được giới văn nghệ giang hồ truyền khẩu bằng hai câu ca dao như sau : “Hoan hô đồng chí Phạm Tuân – Đang ở dưới đất bỗng tưng lên trời”. Sự kiện hài hước ấy đã giúp tôi làm một bài thơ kỷ niệm sau khi phỏng vấn bà ngoại 70 tuổi của mình :

ĐÓI

Tôi mang cơn đói về nhà
Các em tôi đứng chờ với cái bụng lò xo
Đôi mắt các em tôi chảy nước miếng
Giá tôi biến thành cục thịt bò màu tím
Được ram cẩn thận ở nhà hàng quốc doanh Lê Lai

Tôi nắn lên những đốt xương sườn có giá trị ngang những khúc cây
Nơi lồng ngực người yêu tôi hô hấp
Cặp vú của nàng xa lạ với chữ “mập”
Như đứa hiếp dâm xa lạ với nhà chùa
Nếu trời cho tôi có bùa
Tôi sẽ “thư” hết những kẻ ăn cơm một ngày ba buổi

Cơn đói không biết nói dối
Má tôi không biết đánh bài cào
Bà ngoại tôi không biết Phạm Tuân bay ở hướng nào
Nhưng biết khoai mì thiếu phân sẽ sượng
Biết mỗi tiếng còi giao thông là mười đồng to tướng

Mỗi ngày tôi lại ra đi
Mặt ngửa tay xin nhiều kiểu cầu kỳ
Sân khấu hóa trang đứng ngồi chồm hổm
Tôi thấy văn học đục tường ăn trộm
Hội họa, âm thanh ghé tiệm cầm đồ
Tôi thấy xe hơi cầm lái là bò
Biệt thự mở vào khép ra đầy chó
Heo mặc áo vest cười rung cửa sổ
Mệnh phụ tụt quần đứng ngóng ngã tư
Thấy mắt tôi đui, màng nhĩ tôi ù
Thấy tôi trở về mang theo cơn đói
Ả điếm trở về mang theo hơi thối

Ả điếm được no nhờ bước hai hàng
Tôi được làm người nhờ đói quanh năm


Một trong những kẻ sĩ ngoài Bắc đầu tiên mà tôi tiếp xúc sau giải phóng là Lưu Trọng Văn, con trai thi sĩ tiền chiến Lưu Trọng Lư. Qua Lưu Trọng Văn, tôi có dịp làm quen với cặp vợ chồng nhà thơ nổi tiếng ngoài đó là Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh. Tôi có một kỷ niệm riêng đặc biệt với Lưu Quang Vũ một đêm ở Hồ Con Rùa mà không tiện kể ra đây. Chỉ biết lúc đó anh đã kể với tôi về thời gian tuyệt vọng không lối thoát khi B52 dội bom miền Bắc, thậm chí anh đã có ý định tự sát dưới mưa bom (nhưng bất thành) khi tổ chức và đồng nghiệp tỏ ra nghi ngờ lòng yêu nước của mình. Cuối năm 1977 Lưu Quang Vũ là một trong vài người ngăn cản tôi đi bộ đội khi tôi cho anh xem những lá đơn tình nguyện ra biên giới chiến đấu. Bằng kinh nghiệm cá nhân của một người cầm súng phía Bắc, có lẽ anh hiểu rằng tôi không thích hợp với trò chơi phe nhóm của chiến tranh. Kỷ niệm văn nghệ của chúng tôi được ghi nhận bằng tuyển tập thơ NHÌN NHAU VÀ NÓI do tôi và anh Tôn Thất Mạnh Tường phụ trách tập hợp, đặt tên và biên tập. Trong tuyển tập thơ NHÌN NHAU VÀ NÓI ra đời cuối năm 1975 mang ý nghĩa thống nhất thơ ba miền do Thành Đoàn xuất bản này, tôi đã chọn một bài thơ của Lưu Quang Vũ dù lúc đó chưa quen biết anh. Bài thơ nói lên tâm trạng trống rỗng của người lính sau khi đất nước thống nhất, bài thơ độc đáo đối với độc giả phương Nam bởi không nằm trong dòng chảy của thơ minh họa và thơ đồng phục. Bài thơ ăm ắp tính người. Đáng tiếc đến giờ này kho sách của tôi đã bị mất tuyển tập đầu tiên ấy.

Ngay từ hồi mới quen, Lưu Trọng Văn đề nghị tôi nên viết hồi ức về những gì mà chính tôi nếm trải trong chiến tranh. Tôi trích từ tự truyện HAI HÀNG DỌC, TRƯỚC THẲNG vừa hoàn thành trong tháng 5 – 1975 ra một chương gần cuối đặt tựa là “LOÀI CHIM ĐI BIỂN” và gửi Lưu Trọng Văn đăng báo Văn Nghệ Trung Ương ngoài Bắc. Các bạn nên biết bốn chữ LOÀI CHIM ĐI BIỂN thoạt nghe có vẻ cực kỳ thơ mộng, nhưng thực chất đó là tên gọi triển khai một cách hài hước của bốn từ “LAO CÔNG ĐÀO BINH” gọi tắt là “LCĐB”, là tên gọi chung những sĩ quan binh lính Việt Nam Cộng Hòa đào ngũ, bỏ ngũ, phản chiến, bị giam ở quân lao, cuối cùng gom lại tập trung đưa đi làm lao công chiến trường như một thứ “bia đỡ đạn”. LCĐB còn được gọi nôm na là “Lũ Chó Đái Bậy” hoặc “Lính Chiến Đồng Bằng”… Ngay khi vừa xuất hiện trên mặt báo, truyện ngắn LOÀI CHIM ĐI BIỂN đã gây tiếng vang và được dư luận ngoài đó nhận xét như một thứ bút pháp lạ. Sau này có dịp tôi sẽ cho ra mắt tự truyện trên. Tôi còn nhiều lần gặp lại Lưu Trọng Văn ở tòa soạn báo Lao Động trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa lúc anh về làm báo cùng với nhóm các anh Lý Quý Chung, Hoàng Thoại Châu, Trần Trọng Thức… Nhà thơ Hoàng Thoại Châu vừa là đàn anh vừa là đồng nghiệp cũ của tôi thời kỳ đầu làm báo Tuổi Trẻ, anh từng đoạt giải nhất thơ miền Nam thời Nguyễn Văn Thiệu và sau đó ở tù Côn Đảo vì hoạt động chính trị. Nhà báo Trần Trọng Thức thường đặt bài tôi viết về mảng phóng sự của những con người dưới đáy xã hội như những người bán vé số hát rong, bán ve chai, xích lô xe kéo vĩa hè, đám giang hồ anh chị sống ngoài vòng pháp luật…Riêng ông Lý Quý Chung, cựu dân biểu Sài Gòn kiêm nhà báo thể thao dưới bút hiệu Chánh Trinh, là người hỗ trợ tôi về tài chánh tích cực nhất. Mỗi lần xảy ra sự kiện bóng đá Euro hoặc World Cup ông thường đặt hàng tôi những bài thơ thời sự bóng đá nóng hổi, nhuận bút mỗi bài thơ tương đương “một chỉ vàng”. Trong tư thế của một người cầm bút tự do không hề lãnh lương bất cứ nơi đâu, thú thật là tôi rất cảm kích điều đó. Với khoản thu nhập sau mỗi sự kiện thể thao, tôi góp phần bảo vệ sự sống gia đình mà không phải hạ mình trước áp lực nào. Tôi còn nhớ bài thơ THI HÀNH đọc cho Lý Quý Chung nghe ở nhà hàng Thanh Niên khi ông mở quán. Hôm đó có mặt cả anh Huỳnh Bá Thành và vài thân hữu…

THI HÀNH

Thi ca cũng hệt như bóng đá
Hạng A thưa mà hạng B dày
Làm thơ cả nước 50 triệu
Trở thành thi sĩ đếm đầu tay

Trở thành thi sĩ đều thê thảm
Đứa bán ve chai, đứa chợ trời
Đứa nào cũng mánh đồ quốc cấm
Chỉ trừ thơ chẳng quốc doanh thôi

Thơ quốc doanh sơ sơ ngàn đứa
Chen chúc nhau mà đấu võ đài
Mánh mung chôm chĩa nghề buôn chữ
Nghị quyết chuyền nhau giắt lỗ tai

Nghị quyết chuyền nhau thơ cổ động
Mặc sức mà đi khách niêm vần
Chai mặt còn hơn nghề nằm ngửa
Lấy chồng chẳng để một phương không

Đã thế còn học đòi viết lách
Đội trên đạp dưới, bợ triều đình
Mình ta đủ chấp ngàn pho sách
Ngứa mồm chửi đổng cũng thành kinh

Điểm danh thấy tủi cho văn học
Ngửa hết bàn tay muốn khóc thầm
Hạng A chưa kín trên mười ngón
Vậy mà quá nửa phụ nhân dân

Vậy mà quá nửa lo kiếm chác
Thuở nhiễu nhương, Phật phải xa chùa
Chúa ngừng giảng đạo vì chiên đói
Chữ nghĩa làm sao khỏi muối dưa

Chữ nghĩa làm sao không chay tịnh
Vũ Hữu Định say chết giữa trời
Lên núi Nguyễn Đức Sơn mài kiếm
Xuống đường Bùi Giáng giả điên chơi

Nói chung thi phú chờ thi bá
Hạng A còn chừng ấy giang hồ
Những thằng lòn cúi ta khai tử
Sợ đói làm sao trí tuệ no

Sợ đói cho nên thơ tiền chiến
Khom lưng mà an phận kéo cày
Bao danh sĩ, danh không liêm sĩ
Từ hạng A rớt xuống B ngay

Thi ca cũng hệt như bóng đá
Hạng A thưa mà hạng B dày
Riêng ta tên tuổi tìm không có
Hay chờ ngoại hạng mới kê khai…


Nói về chuyện bị áp lực của dư luận, tôi là thằng thường xuyên bị “Đảng nghi ngờ, nhân dân chú ý”. Trong hai năm 2007, 2008 hai đài phát thanh là BBC và RFA mỗi đài phỏng vấn tôi khoảng 4 lần, mỗi lần từ vài phút cho đến cả tiếng đồng hồ. Những cuộc phỏng vấn xoay quanh chuyện làm báo trong nước và chuyện hành nghề cầm bút. Những cuộc phỏng vấn trực tiếp và bất ngờ đó không hề có thù lao cho người được phỏng vấn dù có người tưởng rằng tôi được trả rất nhiều tiền. Tất nhiên là trước khi thực hiện phỏng vấn, bằng phép lịch sự của nghề báo quốc tế thừa nghiệp vụ và đầy kinh nghiệm, họ thường hỏi tôi rằng có đồng ý trả lời những câu hỏi hóc búa của họ hay không… Mới đây nhất sau bài trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 13 – 5 – 2008 về vụ hai nhà báo trong nước bị bắt vì những bài báo liên quan đến PMU 18, tôi lập tức bị một vài blog cá nhân nặc danh xuất phát từ báo Tuổi Trẻ và vây cánh của họ tấn công chụp mũ trên mạng. Trong đó đòn tấn công bẩn thỉu, ti tiện , trắng trợn nhất là vu cáo tôi “rời khỏi báo Tuổi Trẻ vì ăn cắp xe đạp”… Nếu các bạn đã từng đọc qua loạt hồi ký GIAI THOẠI CỦA THI SĨ nhất là GIAI THOẠI CỦA THI SĨ, PHẦN 3 mà tôi từng tiết lộ cách tôi rời khỏi báo Tuổi Trẻ như thế nào, sau ba lá đơn tình nguyện đi bộ đội trong đợt Hồng Binh của Thành Đoàn, sau đêm đọc thơ long trọng rầm rộ ở Nhà Văn Hóa Thanh Niên năm 1978 dưới sự chứng kiến của các cấp lãnh đạo Thành Ủy, Thành Đoàn và hàng ngàn công chúng trẻ thì mới thấy việc vu cáo trên đúng là “trét cứt” vào mặt chính cấp trên của chúng đã đưa tiễn tôi lên đường. Hôm đó anh Lê Công Giàu, đang đương nhiệm phó bí thư Thành Đoàn kiêm chỉ đạo trực tiếp báo Tuổi Trẻ đã ngậm ngùi bắt tay tôi sau buổi đọc thơ nói rằng : “Thơ ông hay lắm, Chỉ tiếc rằng ông sinh bất phùng thời, không có đất dụng võ”.

Tôi có làm hai bài thơ sau đây để trả lời bọn tiểu nhân ném đá giấu tay sau vụ trả lời đài BBC. Bài đầu tiên “đấm” thẳng vào một blog cá nhân đòi “tát vào mặt Bùi Chí Vinh” :

PHẢN ỨNG CỦA THI SĨ

Chúng tát vào má phải của Giê Su
Giê Su chìa má trái
Chúng tát vào má ta bên phải
Ta không làm Giê Su
Ta tập trung một thế hệ căm thù
Để chìa ra… quả đấm !


Bài thứ hai mang tựa SÁU MẶT CON XÚC XẮC vạch trần chân tướng lũ cơ hội trong giới làm báo và cầm bút ở Việt Nam đang lăm le thu hoạch địa vị và lợi nhuận lần thứ hai nhờ những đảng viên cầm quyền biến chất và suy thoái :

SÁU MẶT CON XÚC XẮC

Khi các ngươi đua nhau xu nịnh Đảng
Để hằng mong kiếm địa vị cho mình
Thì ta lưu lạc trong lòng cách mạng
Làm thơ khuyên người nghèo KHOAN nói chuyện tiếu lâm

Bây giờ các ngươi lại đua nhau dè bỉu Đảng
Để lần thứ hai kiếm lợi nhuận cho mình
Thì ta tiếp tục lưu lạc trong lòng cách mạng
Làm thơ khuyên người nghèo NÊN nói chuyện tiếu lâm


Trở lại chuyện “ăn cắp xe đạp” vớ vẩn, có lần dự liên hoan sinh nhật cuối năm của báo Mực Tím tôi đã ngồi cùng bàn với ông Phan Xuân Biên (Trưởng Ban Tuyên Giáo Thành Ủy) và nhiều văn nghệ sĩ khác, tình cờ được nghe chính ông Phan Xuân Biên kể về giai thoại tôi “cầm nhầm xế điếc” của vợ ông tại nhà xe chung cư 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa (đường Công Lý cũ) thuộc Hội Văn Nghệ Giải Phóng phía Nam. Câu chuyện của ông đã làm mọi người cười bể bụng. Cần mở ngoặc đơn chỗ này, Phan Xuân Biên không hề xa lạ gì với gia đình tôi, ông cùng chung đơn vị với cậu ruột Tám Ruby của tôi tại Biệt Động Thành Đội. Cậu Tám Ruby thuở còn sống có nói với tôi rằng ông Biên làm trợ lý cho Thiếu Tướng Tư Lệnh Biệt Động Thành Trần Hải Phụng (tức ông Ba Đặng). Câu chuyện mà ông Biên kể đại khái như sau : Khoảng năm 1977 tôi đến chung cư 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa chơi với các nhà văn Trang Thế Hy, Chim Trắng và chiều tối có ghé thăm nhà thơ Trần Nhật Thu ăn cơm rồi mượn chiếc xe đạp mini của Trần Nhật Thu để đi công chuyện vài ngày. Dĩ nhiên là anh Thu đồng ý và chỉ tôi xuống nhà xe tập thể để lấy “xế điếc”. Trong cơn say xỉn kèm theo bóng tối nhập nhoạng, tôi đã lấy lộn một chiếc xe đạp mini khác dựng kế xế điếc của Trần Nhật Thu. Và tôi đã chạy luôn một mạch ba ngày mới quay trở lại nhà xe để trả cho khổ chủ. Tôi không hề biết rằng trong thời gian đó khu tập thể văn nghệ sĩ giải phóng náo loạn vì bà vợ của đồng chí Phan Xuân Biên tri hô bị… mất xe. Khách khứa đến chung cư ba ngày trước đều bị khoanh vùng, trong đó có tôi, và tất nhiên bộ dạng giang hồ của tôi đáng bị nghi ngờ nhất. Anh Biên kết luận sau câu chuyện hài hước đó tại báo Mực Tím : “Bùi Chí Vinh sinh ra để ăn cắp cái gì khác lớn hơn chớ đâu phải chiếc xe đạp”.

Đó là câu chuyện xảy ra ở một chế độ mà ai cũng có thể nghi kỵ lẫn nhau từ người trên xuống kẻ dưới, từ kẻ có quyền lực quyết định sinh mạng người khác đến dân đen vốn như cá nằm trên thớt. Vì vậy khi xuất hiện hoặc ăn nói trước đám đông, ai nấy đều phải tự đề phòng. Tôi là thằng ít chịu đề phòng nên thường biến thành miếng mồi ngon cho bọn bất tài đội trên đạp dưới khoái dèm pha nịnh hót. Chúng hay rình mò những văn nghệ sĩ, chính khách, những nhà trí thức nổi tiếng để ghi âm, báo cáo lấy điểm hòng thăng quan tiến chức. Chính vì thế có một chuyện khôi hài xảy ra sau đây khi tôi được Nhà Xuất Bản Kim Đồng mời dự bữa tiệc mừng huy chương lao động của NXB cách đây vài năm. Trong tiệc, tôi và vợ tôi ngồi cùng bàn với ông Nguyễn Thắng Vu, nguyên giám đốc NXB kiêm Chủ Tịch hội đồng xuất bản hiện thời. Sau màn tay bắt mặt mừng, ông Nguyễn Thắng Vu mời bà Phạm Phương Thảo, Chủ Tịch HĐND Thành Phố đến gặp tôi tại bàn. Qua vài câu chào hỏi xã giao, ông Vu nói thẳng với bà trước mặt nhiều người : “Bà bảo Bùi Chí Vinh là thằng có tư tưởng phản động không có lợi cho Nhà Xuất Bản. Bà không cho phép tôi được sử dụng Bùi Chí Vinh. Qua những gì Bùi Chí Vinh đã làm việc và tự vươn lên để nổi tiếng thì tôi thấy Bùi Chí Vinh không phải như những gì bà đã áp đặt cho chúng tôi. Bùi Chí Vinh không có Nhà Xuất Bản Kim Đồng vẫn tiếp tục lừng danh với hàng loạt kịch bản phim nhựa ra mắt toàn quốc và quốc tế, được công chúng lẫn dư luận trong và ngoài nước thừa nhận. Vậy bà nghĩ sao?”. Trước phát biểu của ông Vu, bà Thảo quay sang tôi đánh trống lảng : “Bùi Chí Vinh cứ tiếp tục viết truyện thiếu nhi, và chỉ nên viết truyện thiếu nhi thôi, đừng nên viết những gì khác”.

Trời đất, tôi sinh ra đời từ một ngôi sao “quậy” làm thiên chức của kẻ sĩ sáng tác đủ thể loại văn học ghi nhận mọi biến thiên của thời đại, trong đó chuyện viết cho lứa tuổi mới lớn hoặc thiếu nhi chỉ là một bộ phận nhỏ trong sự nghiệp. Tôi không ôm mộng viết SỬ KÝ như Tư Mã Thiên để bị thiến… dái, nhưng tôi cũng không hèn hạ biến thành một loại bồi bút, gia nô cho lãnh đạo xoa đầu, chỉ đâu đánh đó. Vì thế xin lỗi bà Phạm Phương Thảo, cựu Bí Thư Thành Đoàn thời tôi đi bộ đội năm 1978. Năm ấy cũng chính bà đến Nhà Văn Hóa Thanh Niên nghe tôi đọc thơ và đưa tiễn quân tình nguyện Hồng Binh. Tôi nghĩ rằng có thể tự thâm tâm bà không hề ác cảm với tôi, nhưng cái nhìn lệch lạc của bà khi nghe những báo cáo tâu hót của cấp dưới vô tình làm khốn đốn biết bao nhiêu kẻ sĩ. Ngay cả những bí thư tiền nhiệm trước đó của Thành Đoàn là ông Phạm Chánh Trực tức Năm Nghị và ông Nguyễn Chơn Trung tức Sáu Quang cho dù không dám “dùng” tôi cũng chưa bao giờ mở lời xúc phạm một thi sĩ của phong trào đấu tranh đô thị như vậy. Nhân đây cũng xin nhắc lại khoảng đầu thập niên 80 tôi cũng từng bị ông Võ Văn Kiệt ngộ nhận qua những kiểu báo cáo “lấy điểm” như thế và tôi cũng đã có dịp đọc thơ trực tiếp tại nhà ông Kiệt khi ông mời tôi và nhóm sáng tác của Thành Đoàn lại tư gia dùng bữa cơm thân mật. Điều quan trọng là tôi đã đọc những bài thơ “nổi loạn”, “phê phán bất công xã hội” mà ông Kiệt muốn nghe là XÍCH LÔ HÀNH, VE CHAI HÀNH… và chứng kiến vị Bí Thư Thành Ủy lúc đó vỗ tay cười cực kỳ thoải mái. Riêng cố Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh lại càng đáng quý trọng hơn, hồi còn sinh tiền chính ông bảo vệ những bài thơ từ tập THƠ ĐỜI của tôi khi đám nịnh thần xum xoe chụp mũ. Hơn ai hết, ông là tác giả tiết mục NHỮNG VIỆC CẦN LÀM NGAY nên quá biết những gì bất công thối tha của xã hội cần phải phê phán và lên án triệt để.

Cũng may tôi xuất thân từ gia đình cách mạng thứ thiệt và bản thân từng tham gia hoạt động cách mạng ngay từ 15 tuổi nên ba cái chuyện chụp mũ ruồi bu vớ vẩn coi như sự tích Hứa Do xuống suối rửa tai, Sào Phủ dắt trâu lên bờ sợ trâu uống nhầm nước bẩn. Chỉ tội nghiệp cho giới văn nghệ sĩ cầm bút “sĩ khí rụt rè gà phải cáo” trong thơ Tú Xương lỡ bị những kẻ lãnh đạo như bà thành kiến thì chỉ có nước bỏ nghề, bán thân mình đi xuất khẩu lao động hải ngoại… Bài thơ MẠT LỘ của tôi phần nào đã nói lên điều đó :

MẠT LỘ

Không còn chút hy vọng
Trong sự trở lại bờ
Những chiếc phao tưởng tượng
Hành tội người nằm mơ

Bao nhiêu đợt sóng xô
Nhấn ta chìm dưới đáy
Ta chẳng hề mơ hồ
Trước cánh buồm đã gãy

Thơ ta là hoa trái
Không kiếm được mảnh vườn
Thơ ta là máu chảy
Dính trên đầu mũi gươm

Đừng vì nỗi héo hon
Mà đầu hàng số phận
Ta thiết gì mồi ngon
Chiếc cần câu danh vọng

Trước mặt là khoảng trống
Sau lưng là vũng lầy
Ta như là trái đất
Quay. Một mình tự quay !


Nói lên chuyện này để thấy theo dòng thời gian gột rửa đá vẫn là đá, vàng vẫn là vàng. Tôi còn nhớ hai câu ca từ trong một bài hát của nhạc sĩ Miên Đức Thắng : “Một mai qua cơn giông tố, nắng lên soi rõ mặt nhau”. Ngày 20 – 9 – 2007 hai tập THƠ TÌNH BÙI CHÍ VINH và THƠ ĐỜI BÙI CHÍ VINH họp báo ra mắt trang trọng tại trụ sở Hội Nhà Báo TP. Riêng tập THƠ ĐỜI sau bao nhiêu năm rúc trong ngăn kéo, tồn tại bằng sự truyền khẩu, đã được Nhà Xuất Bản Thanh Niên ấn hành. Trước đó bản thảo của tập THƠ ĐỜI từng được gửi đến 3 Nhà Xuất Bản khác nhưng đều bị từ chối vì những lý do miễn bàn. Buổi họp báo có mặt các thân hữu chọn lọc thuộc hai phe Hắc, Bạch giang hồ gồm đủ mọi môn phái thơ văn nhạc họa điện ảnh sân khấu… Các phát biểu chân thành của các đạo diễn Nguyễn Chánh Tín, Đào Bá Sơn, diễn viên điện ảnh Hiền Mai, của các nhạc sĩ Trần Tiến, Miên Đức Thắng, Lã Văn Cường, của các nhà văn nhà thơ Đoàn Thạch Biền, Đỗ Trung Quân, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Quốc Chánh …đều chia sẻ những nỗi niềm cay đắng mà tác giả đã một thời gian dài gánh chịu. Hôm đó phát biểu của nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã được báo Phụ Nữ thành phố ghi lại như sau : “Là người làm thơ hơn 40 năm nay, đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một buổi ra mắt thơ sang trọng như hôm nay. Tôi rất vui khi thấy thơ được tôn vinh như thế này…”. Tôi thiết nghĩ thành công của buổi ra mắt qua những bài viết trên báo chí là câu trả lời đích đáng nhất cho những phe nhóm hay quyền lực nào muốn đẩy tôi đến đường cùng không còn đất sống.

Cuối năm 1980 tôi bắt đầu đạp xích lô qua trung gian của đồng chí Nguyễn Trì, một cán bộ Thành Đoàn bất đắc chí. Nguyễn Trì giới thiệu tôi làm quen đám giang hồ hảo hớn khu vực Tân Kỳ Tân Quý miệt Bà Quẹo và tôi được một chiến hữu cho trưng dụng chiếc xích lô bửu bối kiếm cơm những lúc chiến hữu kẹt công chuyện khác. Tôi đạp xích lô như làm thơ, hứng thì chạy vòng vòng Sài Gòn đón khách, chán thì “tấp” vào biệt thự các sếp lớn trên đường Phùng Khắc Khoan, quận 1 bấm chuông hoặc gõ các trạm gác bảo vệ yêu cầu cho gặp thủ trưởng. Phải thú thật tôi chưa bao giờ lấy tiền người già, phụ nữ, trẻ con, ngay cả gái ăn sương. Tôi chở họ miễn phí nhưng với bọn công tử ăn chơi thì lấy tiền đích đáng. Nguồn thu nhập chủ yếu trong thời gian giả dạng “xích lô hành” của tôi là những bì thư của các sếp lớn nhét vô túi áo túi quần mỗi khi họ thấy chiếc xích lô quen thuộc nằm chình ình trước các biệt thự. Nhiều thân hữu văn nghệ giang hồ đã từng chứng kiến tôi thu nhập kiểu đó để có lệ phí lai rai ba sợi như Bảy Dũng, Hồ Lê Thuần, Ba Lê, Chiêu Anh Hải, Vũ Ngọc Giao, Đoàn Vị Thượng… Có lần tôi chở đôi tình nhân sinh viên nghèo thuê xe một đêm để được yêu nhau một cách rất con người. Đơn giản là họ không có tiền để thuê nhà trọ hoặc thuê một băng ghế đá ngồi âu yếm. Cảnh tượng não lòng và phổ biến đó khiến tôi bật thành bài thơ mang tựa THỜI CỦA NGƯỜI GIÀ. Xin chép ra đây cho các bạn thưởng thức :

THỜI CỦA NGƯỜI GIÀ

Không có một chỗ trú cho chúng ta
Đây là thời đại của những người già cả
Anh muốn đi chơi buổi chiều với em quá xá
Tìm không sao thấy một chỗ ngồi
Anh đã thử ra công viên lựa một chỗ khá tồi
Nhưng vừa đứng dậy lại bị người chiếm mất
Anh đã mua vé hung hăng đi lùng trong rạp hát
Chỉ thấy toàn những bộ phim câm
Cuối cùng chúng ta đành âm thầm
Yêu nhau bằng cách khoanh tay bó gối

Không có một chỗ trú cho chúng ta, anh không nói dối
Đây là thời đại của ông già
Ông già vắt chân chữ ngũ triết gia
Luận Tam Quốc bằng bảy lần uốn lưỡi
Ông già cởi trần khoe xương sườn như củi
Hippy mà múa Thái Cực Quyền
Ông già ban ngày, ông già về đêm
Chai rượu đế cạn bên bàn cờ tướng
Thành phố giống như một ông già hổ lốn
Sĩ tốt tựa cháu con, sĩ tốt tựa khoai mì
Ông già đến rồi ông già đi
Để lại những nếp nhăn trên thời kỳ tuổi tác

Không có một chỗ trú cho chúng ta, anh không nói khoác
Đây là thời đại của bà già
Bà già nhai trầu và bõm bẽm đơn ca
Những bài hát sáu câu về cơm áo
Bà già làm đủ nghề, kể cả nghề đi dạo
Lên bục đọc diễn văn, xuống bục ngủ vĩa hè
Bà già disco mở cửa hàng nhậu nhẹt
Chăn gối thừa trong các phòng khuê

Hoàn toàn không có một chỗ trú cho chúng ta
Đây là thời đại của những người già cả
Tuổi 40 nghĩa là nhà thơ trẻ
Khoảng 60 làm thi sĩ là vừa
Từ 70 trở đi là tuổi của nhà vua
Quan lại mới ăn lộc bằng năm tháng
Trong khi tuổi của tình yêu chỉ cần vài cơn nắng
Một chút mưa đủ cảm thấy mình già
Chúng ta yêu nhau ngày một ngày ba
Sợi tóc bạc phếch trong trái tim mới lớn
Cứ thêm một ngày là tình thêm chết sớm

Thế mà không có chỗ trú cho chúng ta
Thành phố tróc da trên cây me già
Rớt vẩy xuống sư sinh sôi của cỏ
Chúng ta nhỏ nhoi trong từng hơi thở
Thiếu oxy vì xăng nhớt vì dầu
Chúng ta rang ái tình trong từng tóp mỡ
Không cần miếng thịt nạc sống dài lâu
Còn mở mắt là biết mình còn thọ
Nhưng có chỗ nào anh trú với em đâu ?


Bài thơ “Thời của người già” sau này được tôi “chuyển thể” thành truyện ngắn “Bốn thí nghiệm trong đêm tân hôn” đăng tải trên nhiều báo trong và ngoài nước. Truyện ngắn “Bốn thí nghiệm trong đêm tân hôn” một lần nữa lại được tôi “chuyển thể” thành kịch bản phim nhựa 45 phút của hãng Chánh Tín do Nguyễn Chánh Tín làm đạo diễn, vừa công chiếu các rạp trên toàn quốc tháng 6 - 2008 cùng với phim “Chết lúc nửa đêm”.

Đạp xích lô vài tháng, một lãnh đạo Thành Đoàn “chịu không thấu” nên gửi tôi vào làm Xưởng Huy Hiệu Thành Đoàn nằm trên đường Lê Lợi. Tại đây tôi biến thành công nhân máy dập kim loại bất đắc dĩ và tạo uy tín cá nhân bằng những tờ báo tường cho cơ quan. Tôi tự vẽ và viết đủ mọi thể loại thơ, truyện, tùy bút, vui cười, truyện tranh, chuyện phiếm… ký dưới nhiều bút hiệu khác nhau. Không khí như sôi lên khi tôi cùng anh Quế (anh ruột của chị Quỳnh Hoa và anh Năm Bằng, cán bộ Thành Đoàn) đặt biệt danh mọi người trong cơ quan thích ứng với thế giới động vật và thực vật trong Sở Thú. Chẳng hạn các cô gái ở bộ phận sơn huy hiệu có các biệt danh Con Mèo, Con Thỏ, Con Nhím, Con Voi, Con Muỗi, Con Cầy Hương, Con Thiên Nga… tùy theo nhan sắc và trọng lượng thân thể của các cô. Chẳng hạn các ông cai ở các bộ phận văn phòng, bộ phận chỉ huy, bộ phận hậu cần thì có các biệt danh Tre Miễu, Cây Si, Cây Măng Cụt, Trái Sầu Riêng, Chôm Chôm. Riêng chiến hữu giang hồ trắng trẻo khu Tân Định là Lâm Cầu Kiệu làm bảo vệ cơ quan được anh Quế phong tặng biệt danh “Thợ Săn” còn tôi thì là “ông chủ Thảo Cầm Viên” lãng mạn…

Chính nhờ giai đoạn lao động “thơ mộng” này mà tôi thai nghén tiểu thuyết học trò mang tên TÓC TIÊN. Tiểu thuyết TÓC TIÊN xuất hiện qua hình thức đăng feuilleton nhiều kỳ trên báo Mực Tím năm 1991 và cuối năm đó được độc giả tuổi mới lớn bầu chọn là truyện dài hay nhất trong năm. Không một ai hay biết những nhân vật trong truyện TÓC TIÊN có một số mang biệt danh các đồng nghiệp của tôi từ thời làm ở Xưởng Huy Hiệu.

Trong thời gian làm ở Xưởng Huy Hiệu tôi có dịp làm quen với nhà thơ, nhà văn kiêm kịch tác gia bụi đời Mặc Tuyền. Làm quen một cách khơi khơi. Trước cửa xưởng 66 Ter Lê Lợi, quận 1 là mặt tiền một đại lộ lớn với vỉa hè rộng là “phao cứu sinh” đối với rất nhiều người buôn bán nhỏ, trong đó có anh Mặc Tuyền. Mặc Tuyền vốn là “đại đệ tử” của nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, anh có một thời lăn lóc giang hồ với đủ nghề nghiệp mưu sinh kiếm sống, và đang kiếm sống bằng cách bán đủ các loại ống tiêu, ống sáo ngay trước cơ quan tôi. Trước đó tôi đã biết anh khi anh đoạt giải nhất truyện ngắn của báo Văn Nghệ TP cùng với đạo diễn Lê Văn Duy. Anh hoàn toàn bất ngờ khi hay tin tôi cởi áo lính làm công nhân máy dập Xưởng Huy Hiệu. Đêm đầu tiên hạnh ngộ, hai anh em ngồi quán cóc vỉa hè, anh thổi sáo ngâm thơ cho tôi nghe và kể rằng chỗ buôn bán của anh hiện nay cũng chính là chỗ thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên (một thi sĩ tài hoa trước 1975 có nhiều bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc) từng đứng bán chợ trời trước khi vượt biên sang Mỹ. Hôm đó tôi đã đọc cho Mặc Tuyền nghe bài thơ ĐÓI LIÊN TỤC của một gia đình cách mạng khiến anh thẫn thờ:

ĐÓI LIÊN TỤC

Nhà hết gạo
Chung quanh một nồi cháo
Mười cái chén gục đầu
Bốn người thất nghiệp, một người đau
Nồi cháo bốc hơi cán bộ
Năm công nhân viên làm toán đố
Đáp số không qua giới hạn cộng trừ :
“45 ký trong lu
600 phần ăn một tháng”
Lúa miền Nam gặp hạn
Bình Trị Thiên bão về
Đồng bằng Sông Hồng hồi hộp vỡ đê
Sao đọc báo chỉ thấy bội thu lương thực
Sao nghe đài thấy gạo Việt thành cơm Tây cơm Nhật
Sao xem ti vi thấy thóc nở đầy hình
Thóc đã tràn vào ngân khố vô danh
Đất nước được mùa công trái
Cho lãnh tụ rộng mồm ăn nói
Diễn văn đầy ngũ vị hương
Ôi, hoa màu thần tiên trên các bích chương
Thứ hoa màu trên giấy báo

Đương nhiên
Nhà hết gạo
Và mười người hết máu…


Hai anh em không cần cắt máu ăn thề như tích Tam Quốc Chí, chỉ cần hiểu nhau theo kiểu “kiến nghĩa bất vi vô dõng giã – lâm nguy bất cứu mạt anh hùng” là đủ đặt niềm tin vào nhau. Chính vì thế khi Mặc Tuyền rủ tôi về Bến Tre là tôi đi theo anh một mạch. Tại đất Bến Tre không hiểu anh xoay xở ra sao mà mới vừa hành nghề bán sáo dạo lề đường bỗng biến thành ủy viên ban chấp hành Hội Văn Nghệ Nguyễn Đình Chiểu. Anh giới thiệu tôi với anh Bảy Dân, cháu cô Ba tức nữ tướng Nguyễn Thị Định. Anh Bảy Dân lúc đó đương nhiệm chủ tịch Hội Văn Nghệ hoàn toàn tin cậy Mặc Tuyền trong việc làm kinh tế cải thiện đời sống cho Hội. Trong vòng vài tháng ở Bến Tre, có lần anh Mặc Tuyền và tôi ngồi xe hơi của Hội chạy về Sài Gòn làm việc với Hội Văn Nghệ TP của đồng chí Viễn Phương khiến ai nấy há hốc mồm kinh dị. Họ không thể hiểu nổi lý do gì một kẻ bán chợ trời, một kẻ sửa xe vỉa hè bỗng hô biến thành hai “nghệ sĩ đại gia” chớp nhoáng. Tôi có ghi nhận thời gian vàng son ấy trong bài thơ “Ngày trình diện Bến Tre” trích đoạn như sau :

NGÀY TRÌNH DIỆN BẾN TRE

Một trái tim, một ba lô con cóc
Tôi đến Bến Tre như thể trở về nhà
Tôi đến Bến Tre như là tôi có lỗi
Vụng về không biết chào thưa
Tôi đến Bến Tre như là tôi bối rối
Hai tay bóp lại dư thừa

Tuổi 26 chưa sửa soạn già nua
Mà trước đó ngỡ tóc mình sắp bạc
Tôi đã sống một thời mê nhạc
Cây guitar biết thở như người
Tôi đã sống một thời đánh giặc
Lựu đạn tròn khoen lách vành môi…


Cuộc đời vốn dĩ là… cá ăn kiến, kiến ăn cá. Mặc Tuyền mau chóng “bạo phát bạo tàn”. Những lúc không có anh ở Bến Tre, tôi lưu linh lạc địa cùng anh em văn nghệ nghèo trong Hội chia nhau từng phiếu ăn tập thể thê thảm. Tôi còn nhớ thuở đó Kim Ba đã làm thơ có triển vọng ngay trong tuổi học sinh, đôi vợ chồng trẻ Nguyên Tùng, Ngọc Điệp đã có những tác phẩm ấn tượng, rồi Hồ Trường (hiện giờ là chủ tịch Hội Văn Nghệ Nguyễn Đình Chiểu) thuở đó phải chạy đôn chạy đáo kiếm từng giọt rượu hiếu khách cho tôi uống. Tôi tập đi qua cầu khỉ về Mỏ Cày trợn trượt té xuống sông liên tục. Và tôi đã tập bước trên thân cây dừa đầy bùn sình trơn trượt ấy cho đến lúc đi khoan thai như một ảo thuật gia.

Đầu năm 1981 Mặc Tuyền từ giã Bến Tre lôi tôi quy hồi cố xứ mở xưởng làm đồ chơi tại Xóm Chùa đường Trần Quang Khải, quận 1. Xưởng đồ chơi tọa lạc trong khuôn viên một ngôi chùa nằm cạnh dòng sông đen. Ở đây tôi có ngay hai đồng nghiệp là Bảy Dũng (một cán bộ Thành Đoàn từng là một trong vài sếp lực lượng Thanh Niên Xung Phong và từng đi bộ đội cùng đợt với tôi) và Trương Hùng Dũng, em ruột nữ ca sĩ Kim Khánh bên văn công Quân Khu 7. Ba đứa tôi là ba thợ chủ lực sản xuất những bộ phận đồ chơi gia công cho một đơn vị mà anh Mặc Tuyền cung cấp theo hợp đồng kinh tế. Nếu các bạn có mặt ở Xóm Chùa lúc ấy chắc chắn sẽ hình dung chúng tôi như ba gã cô – dắc trong phim SÔNG ĐÔNG ÊM ĐỀM. Ba đứa tôi tóc dài lê thê và bộ dạng rất ngầu chứ còn phải hỏi. Khoảng thời gian này cũng là khoảng đời thơ mộng nhất của tôi, khi tôi tái ngộ lại người con gái mà sau này trở thành hiền thê mãi mãi. Ngày đầu tiên gặp Hương Lan ở quán nước dưới chân cầu Công Lý, tôi đã có ngay một bài thơ ghẹo em :

CHIỀU CÓ LAN

Chỉ cần ngón tay đưa lên môi
Ngàn năm nhan sắc ở em rồi
Ngàn năm trời đất thành thơ nhạc
Cây cỏ chào nhau kể lứa đôi

Chỉ cần chiếc muỗng em trong ly
Là tim anh chết rất nhu mì
Là thằng du đãng bay đâu mất
Một chút tình anh lẻn trốn đi

Chỉ cần em cứ ngồi như thế
Yên lặng nhìn anh suốt buổi chiều
Là anh trôi sạch bao dâu bể
Mở hết lòng ra đợi tiếng… yêu !


Tôi còn nhớ sinh nhật tôi ngày 23 – 10, đêm ấy ở khu giang hồ đầy anh chị Xóm Chùa, em và một người bạn gái đã đem quà và một cành hoa cho ngày sinh nhật thằng con trai lãng tử :

SINH NHẬT

Hôm nay là sinh nhật của anh
Hai mươi bảy tuổi cháy ngon lành
Anh xòe diêm đốt mà cay mắt
Diêm tàn, riêng sọi khói mong manh

Sinh nhật anh không có đèn cầy
Hoa hồng mang đến cánh còn gai
Em cong môi thổi như công chúa
Hơi thở thơm mùi hương trái cây

Sinh nhật anh không có rượu vang
Ly quên chén dĩa, ghế quên bàn
Anh quên đời sống như quên tuổi
Bó gối nghe đùi thương gót chân

Sinh nhật anh không có đàn bà
Tháng mười Chúa chẳng kịp sinh ra
Dang tay anh đứng làm thập tự
Mơ một nàng Madalêna

Sinh nhật anh không có đàn ông
Tháng mười Phật giác ngộ chưa xong
Vòng tay anh khép làm tràng hạt
Mơ nàng Thị Kính cắt râu chồng

Sinh nhật anh mà sinh nguyệt em
Có nàng con gái rất thuyền quyên
Lách qua khe cửa như hơi gió
Up xuống đời anh cơn bão đêm

Sinh nhật anh. Ừ, sinh nguyệt em
Trăng lên soi rỗng túi không tiền
Mẹ anh sinh nở con cầu tự
Nên suốt đời anh ngủ mái hiên


Hùm thiêng khi đã sa cơ… chẳng hèn. Xưởng đồ chơi của chúng tôi ở Xóm Chùa bị vị sư trụ trì giải tán sau một cuộc đánh lộn với đám anh chị bảo kê khu vực quanh Xóm Mười Căn. Mèo lại hoàn mèo, tôi lang thang qua khu Chợ Cá, Trần Quốc Toản, quận 10 giao du với anh em nhà Long Gỗ. Long Gỗ sau 1975 làm công tác Phường Đoàn rồi đi bộ đội đánh nhau ở biên giới, xuất ngũ chuyển qua nghề buôn củi. Tại địa phương, Long Gỗ sống như một đại ca với các em út thầu giữ xe cho khách khứa các quán xá. Chúng tôi đến với nhau trên nguyên tắc “trọng nghĩa khinh tài”. Trên bãi đất trống trước bệnh viện Nhi Đồng đường Lý Thái Tổ, hàng ngày tôi, Long Gỗ, Bảy Dũng vừa đốn củi vừa tiếp thị khách đi đường những khối thước củi chất cao nghệu với giá rẻ rề. Chúng tôi đã sống trong những ngày tháng đó bằng cách đổ mồ hôi sôi nước mắt cật lực như vậy để tồn tại. Kỷ niệm ngày gặp Long Gỗ được tôi ghi lại như sau :

Bạn ta ở thành phố
Chứ không phải ở rừng
Sao lần này thăm bạn
Thấy cây nằm ngổn ngang

Tìm trong lửa thấy vàng
Tìm trong cây thấy bạn
Bạn ta thành Thạch Sanh
Trước khi ra ngồi quán

Tay bạn xòe mười ngón
Khép lại thành núi đồi
Mở ra thành sông rạch
Chốn giang hồ rong chơi


Cũng trong năm 1981 ông Dương Đình Thảo tức Sáu Thảo, giám đốc Sở Văn Hóa Thông Tin kéo tôi khỏi kiếp “tiều phu” về làm việc tại Phòng Bảo Tàng Lịch Sử thành phố trên đường Pasteur. Tại đây tôi ăn lương hợp đồng ở Phòng Tổ Chức Sở và làm nhiệm vụ ghi chép các địa chí văn hóa nội ngoại thành, những lúc cần thiết chú Sáu Thảo trưng dụng tay nghề “xuất khẩu thành thi” của tôi trong phái đoàn lưu diễn. Phái đoàn của chú Sáu Thảo là một phái đoàn văn nghệ tạp lục kiểu như “đại nhạc hội Hoàng Thi Thơ” trước giải phóng. Nhờ vậy tôi có dịp làm quen với nhiều nghệ sĩ sân khấu, ca nhạc trong đó có anh Trần Quang Minh tự Minh Bò. Anh Trần Quang Minh là con trai thứ của giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê, một nhà văn hóa lỗi lạc của Việt Nam tại hải ngoại. Năng lực của Minh Bò có khuynh hướng nghiêng về người chú ruột là quái kiệt Trần Văn Trạch. Minh Bò có thể vừa hát rất độc những bài nhạc Pháp cổ điển, vừa hát biến thể thành nhạc Rap những hành khúc rộn ràng như “Tiểu Đoàn 307” rất có duyên trước công chúng. Anh còn hát bài thơ “Chùa Hương” của thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp được Trần Văn Khê phổ nhạc theo kiểu tái chế riêng của mình cực “phê”. Còn tại sao gọi là Minh Bò thì quá dễ hiểu : anh chuyên môn mặc bộ đồ jeans của cao bồi chăn bò và mỗi lần lấy giọng thì hụ hụ trong cuống họng như bò rống. Tại Phòng Bảo Tàng anh là một bạn già thân thiết luôn yêu cầu tôi đọc thơ giang hồ mỗi khi đối ẩm. Đầu năm 1982 Sở Văn Hóa Thông Tin điều động tôi và Nguyễn Đức Thành tức Sáu Du (một cán bộ biên tập thời kỳ đầu tiên của báo Tuổi Trẻ) theo đồng chí Võ Ngọc An tự Bảy Câu ra huyện Duyên Hải (Cần Giờ) khi Bảy Câu được cấp trên thử lửa bằng chức Trưởng Phòng Văn Hóa Thông Tin của vùng đất mệnh danh là “Sibêri” thành phố.

Tại Duyên Hải tôi được anh Bảy Câu phân công làm Nhà Văn Hóa còn Sáu Du phụ trách bản tin huyện. Tất nhiên phân công là một chuyện còn lúc làm việc chúng tôi luôn choàng gánh cho nhau, bởi Nhà Văn Hóa huyện thực chất chỉ là một cái đình bỏ hoang không có mấy người ở, còn bản tin hầu như chỉ có “bộ tam sên” của chúng tôi tự biên tự diễn. Thế mà chúng tôi cũng cho ra mắt bản tin hàng tuần như một tờ báo long trọng làm nức lòng cư dân xứ biển. Tôi còn nhớ bài thơ xuất hiện trên tờ báo huyện số ra mắt mang tên PHẢN TỐNG BIỆT HÀNH của tôi được anh em người Sài Gòn và cán bộ người bản xứ học thuộc làu. Bài thơ “nhái” giọng điệu thi sĩ Thâm Tâm khi làm TỐNG BIỆT HÀNH trở thành một dạng “tình ca đặc sản địa phương” được mọi người hát lên mỗi lần cụng ly rôm rả. Hầu như giới lãnh đạo cấp huyện đều biết hát bài thơ do Lã Văn Cường phổ nhạc đó. Phải nói là anh Chung, phó chủ tịch phụ trách du lịch và xuất khẩu ôm đàn guitar chơi “bốc” nhất. Những năm sau này mỗi lần họp mặt truyền thống Duyên Hải vào dịp cận Tết Nguyên Đán, những “lính già ngày xưa” như Hồ Văn Ngon cựu Bí Thư Huyện Ủy, như anh Tư Tình bên xây dựng, ông Vui bên tòa án, anh Dương Độc Lập bên giáo dục, anh Hợp bên văn hóa, các vị khác bên các ngành khác… trong cơn say chếnh choáng thường bất chợt nổi hứng cất giọng đồng ca bài PHẢN TỐNG BIỆT HÀNH để kỷ niệm những ngày gian khổ cùng nhau…

PHẢN TỐNG BIỆT HÀNH

Đi đến với những người hiếu khách
Ngoài ba lô còn một cây đàn
Ba lô để nhớ thời chân đất
Cây đàn nghe sóng vỗ thênh thang

Đưa người ta cứ đưa sang sông
Không sợ tiếng sóng ở trong lòng
Thâm Tâm lên núi thèm Tống Biệt
Ta về biển mặn hóa dòng sông

Nhích lại gần nhau nghe ngày xưa
Chàng An Tiêm lãng mạn trồng dưa
Có cô công chúa đi làm rẫy
Con mắt to giống như em vậy

Con mắt to thành mắt con thuyền
Có người kéo lưới đợi thuyền lên
Có người kéo lưới thương con mắt
Mắt con thuyền… A, con mắt em

Người biết bơi nhớ mùa nước nổi
Lặn làm chi sặc sụa tâm hồn
Quả dưa xẻ đặt trên đầu gối
Em một đầu, ta một đầu : hôn

Ừ thôi về biển ta về biển
Con cá ra khơi, con chim liệng
Chỉ e con sóng sớm bạc đầu
Sợ hãi vì người xanh tóc đến

Đã bảo trong ba lô có biển
Không, sao cây sác mọc thành rừng
Đã bảo trong cây đàn có biển
Không, sao âm nhạc thở tình nhân

Đừng hàm hồ nói : đất không chân
Khi ngón mỗi người đều có móng
Tóc biết bay và tay biết ôm
Gió biết biển lúc nào xúc động

Em có thể khóc chiều nay lắm
Nếu ta vờ đánh mất cây đàn
Ta có thể khóc chiều nay lắm
Nếu biển vờ quên mất giòng sông


Bài thơ PHẢN TỐNG BIỆT HÀNH không chỉ phổ biến ở đất Cần Giờ, nó còn được truyền khẩu trong giới văn nghệ trong nước lẫn giang hồ hải ngoại. Tôi đã có dịp được nghe một số ca sĩ Việt Kiều, trong đó có Duy Quang hát dù họ không hề biết tác giả và xuất xứ của bài thơ.

Trong thời gian ở huyện đảo, tôi có lần âm thầm “cứu bồ” Nguyễn Thái Dương trong chuyến tham gia phái đoàn ủy ban huyện trên chuyến ghe đi kinh lý 7 xã. Số là Nguyễn Thái Dương lúc đó đang dạy học ở xã Bình Khánh, một xã thiếu tiện nghi về mặt giáo dục đến mức độ thầy giáo Nguyễn Thái Dương phải làm bài thơ nói về “một cô giáo phải cởi áo dài gói lại để bơi qua sông” dạy học. Hoàn cảnh cô giáo giữ bộ đồ khô ráo để bảo vệ tư cách sư phạm khi đứng trên bục giảng làm cảm động người đọc, nhưng không ai lưu tâm đến số phận nhà thơ sáng tác ra nó. Khi ghe ủy ban ghé lại xã Bình Khánh, tôi có nói với anh Bảy Câu mời Nguyễn Thái Dương lên chơi. Trên ghe có mặt anh Năm Cương bí thư huyện, anh Sáu Đông chủ tịch huyện, anh Dương Độc Lập trưởng phòng giáo dục huyện và nhiều đầu ngành chóp bu khác. Chúng tôi đã tổ chức một đêm thơ nhạc bụi đời dưới ánh trăng huyền hoặc và trong cuộc trà dư tửu hậu, tôi có nhắc anh Dương Độc Lập tạo điều kiện để Nguyễn Thái Dương trở về thành phố hầu phát huy năng lực chuyên môn của mình. Dĩ nhiên là ông trưởng phòng giáo dục đồng ý cái rụp.

Ở Duyên Hải không chỉ có niềm vui mà còn quá nhiều những nỗi buồn. Nỗi buồn không phải từ chuyện thiếu thốn nước ngọt, chuyện ăn cơm tập thể thóc sạn nhiều hơn gạo trắng, chuyện đồn đại về xã đảo Thạnh An như một xã đảo “Ra Đô” bởi ngư dân trên đảo ai cũng đeo đồng hồ cao cấp Ra Đô nhờ “bán bãi” cho những kẻ vượt biên từ khắp nơi đổ đến. Nỗi buồn còn đến từ những buổi chiều lang thang ngoài hàng dương chứng kiến vô số xác người từ phao số 0 trôi dạt vào bờ. Trên bãi cát màu đen đặc sản của Duyên Hải, lần đầu tiên tôi biết được đàn ông chết trôi luôn nằm sấp còn đàn bà chết trôi luôn nằm ngửa, ngay cả cái chết cũng mang quy luật âm dương. Những cái chết của những chiếc ghe chở người vượt biên do bị lừa đảo, do bị sóng lớn nhấn chìm đã làm trái tim thơ của tôi chảy máu. Năm 1983 tôi chia tay vùng đất Cần Giờ qua bài thơ PHỐ ĐỘNG sau đây :

PHỐ ĐỘNG

Từ giã biển một năm văn xuôi
12 tháng thi ca, 365 ngày kịch nói
Ở đó ta làm diễn viên hay đến nỗi
Mọi con cua đều mọc đủ hai càng
Mọi con chim đều xòe ra đôi cánh
Mọi con cá đều thở với hai mang

Ta làm diễn viên sân khấu bình dân
Người xem kịch chỉ cần mua chung rượu
Với ông già, ta đóng vai nhập tửu
Với trẻ con thì ta giả thánh hiền
Với phụ nữ thì ta làm gì vậy
Sao lại chàng ràng như gã Lã Phụng Tiên ?

Từ giã biển một năm Điêu Thuyền
12 tháng Thúy Kiều, 365 ngày Angiêlic
Làm anh hùng còn có thời thấm mệt
Huống chi ta làm đĩ đã rạc dài
Về thành phố mà mua thêm son phấn
Để thơ còn mình hạc với xương mai

Về phố mà xem chữ mọc như cây
Vườn mẫu giáo thành vườn ươm dũng sĩ
Kế hoạch nhỏ còn hơn làm anh chị
Tội chi xưng du đãng với biển kìa
Về phố phen này đi tìm giấy vụn
At hẳn được bằng dũng sĩ về khuya

Về phố mà xem chữ lạnh như bia
Khà một hớp là được khen tiên tiến
Gái đẹp kinh thành đi đông như kiến
Dí gót chân trên chiếc Cub mà lùa
Về phố phen này lên đồ chững chạc
Ắt hẳn được quyền bán chúa buôn vua

Về phố mà xem bạn cũ te tua
Tụ tập bất minh bàn toàn chuyện mánh
Đứa chơi nhạc, đứa vẽ tranh, đứa rảnh
Kể tiếu lâm bậy bạ sống qua ngày
Ta mang chút sóng lòng về cho phố
Chưa như nhà thơ mà đã như thằng say

Ôi khi ta về đến phố phen này
Là kiếp đĩ lại trở về với động…


Trở về Sài Gòn tôi ngồi sửa xe vĩa hè với ông bạn giang hồ Phan Văn Bồng mà tôi đặt cho biệt danh là “Bế Văn Bồng” ngay ngã tư Trần Quốc Thảo – Điện Biên Phủ. Anh Bồng gốc con nhà võ Tây Sơn Bình Định trước 1975 tham gia các lực lượng yêu nước xuống đường đấu tranh cho dân chủ hòa bình. Anh rất mê bốn câu thơ xuất phát từ phong trào : “Hàng loạt đứng lên – Bạo tàn sụp đổ – Thế mới biết chuyện vang lừng kim cổ – Là của đám người không tuổi không tên”. Một con người mê sức mạnh của nhân dân là như thế nhưng sau 1975 cũng chính anh ngao ngán thốt lên hai câu thơ : “Khi nguy thì gọi công thần – Lúc lên chín bệ xa dân trùng trùng”. Tôi chơi thân với anh từ chí khí đó. Tại điểm sửa xe mỗi ngày tôi chứng kiến biết bao nhiêu chuyện khổ đau của kiếp người. Chỉ cần một tai nạn giao thông xảy ra trên đường là đủ thấy hậu quả nhãn tiền của một xã hội duy vật thực dụng. Mọi người hầu như bỏ mặc nạn nhân hấp hối để lo tiếp thị thu hoạch lợi tức cá nhân. Bài thơ như một sự cảnh báo tiên tri về hiểm họa mà ông Phan Văn Khải gọi là sự “vô cảm” của con người sau này :

THỜI CỦA THÚ

Ở một thời kỳ mà xe đụng ngoài đường
Xác người chết được đem lên bàn mổ
Mọi người xúm nhau như ong vỡ tổ
Chợ trời lăng xăng quảng cáo thuốc Tây
Gã sửa xe chuẩn bị túi đồ nghề
Chiếc mỏ lết há hàm răng chó sói
Xe xích lô nối đuôi cười khiêu gợi
Chiếc nệm ăn mày thủng cả lò xo
Những con thú đói bu quanh con thú không no
Húp lẫn nhau chút bơ thừa sữa cặn
Ở một thời kỳ mà trái tim đi vắng
Nợ áo cơm làm thủng mắt con người…


Tại ngã tư nghiệp chướng này tôi đã tái ngộ vô số bạn hiền. Có lần gặp lại Lưu Ngũ (tác giả cuốn VŨNG LẦY) đoạt giải thưởng Văn Học Thành Phố cùng với tôi, Trần Mạnh Hảo, Lê Văn Vọng, Vũ Quần Phương, Lương Minh Cừ, Nguyễn Mạnh Tuấn, Đào Hiếu, Lê Duy Hạnh, Trương Quốc Khánh… một giải thưởng danh giá nhất thời đó. Khi gặp nhau Lưu Ngũ liền rủ tôi về khu Ông Tạ làm kẹo bán kiếm tiền độ nhật. Lưu Ngũ tên thật là Luật có biệt danh Sáu Vạng không phải dân anh chị chuyên nghiệp như đám anh em Sơn Đảo, nhưng về mặt đụng độ giang hồ cũng thuộc diện đáng gờm bởi thiên hạ đồn là anh “Vạng” đủ sáu cái cho địch thủ đo ván mới ngưng. Qua anh, tôi giao du thêm với Ba Đen, đại ca thứ dữ từ vùng Hải Sơn, Bà Rịa Vũng Tàu. Ba Đen tướng tá hộ pháp như Lý Quỳ trong Lương Sơn Bạc là con người trọng nghĩa khinh tài, làm phi vụ được đồng nào là bay xuống Sài Gòn chơi hết với anh em đồng đó. Chính anh đã tài trợ cho đám anh em văn nghệ sĩ mạt lộ chúng tôi thành hình một xưởng kẹo. Xưởng kẹo được đặt ở sau nhà Lưu Ngũ. Công đoạn làm kẹo khá rắc rối tôi không tham gia, chỉ thấy đạo diễn Hồ Ngọc Xum và thi sĩ Trần Mạnh Hảo xỏ bao nilông bảo vệ hai bàn chân, nhảy lên đống kẹo khổng lồ dùng chân nhào nặn liên tục. Khi kẹo thành phẩm Lưu Ngũ phân công tôi và hai nhạc sĩ Nguyễn Hải, Lã Văn Cường đi bán bỏ mối. Thuở ấy anh em thương nhau đẹp đến nỗi trong cuộc chơi lúc tôi quá đuối không còn sức đọc thơ thì đàn anh Mặc Tuyền hoặc thi sĩ đàn em Đoàn Vị Thượng thế vai. Phải nói rằng Mặc Tuyền ngâm bài thơ QUÁN BÊN ĐƯỜNG của Minh Phẩm (tức Trang Thế Hy) và bài thơ TIỀN VÀ LÁ của Kiên Giang làm chúng tôi “phê” tới bến. Còn Đoàn Vị Thượng thì lém lỉnh vàsắc sảo. Thượng được nhiều người biết với bài thơ BỤI PHẤN tuy nhiên họ Đoàn lại thành công trong bàn rượu với bài ĐẤT VÀ NƯỚC được anh em vỗ tay khen ngợi. Hồi đó bằng uy tín cá nhân, tôi là người thu hoạch tài chánh cao nhất từ nghề bỏ mối kẹo. Tôi xông đến tất cả những cơ sở kinh tế của Thành Đoàn chào hàng và hầu như được các chủ quầy thực phẩm ôkê nhận kẹo trước, trả tiền sau. Tiền kẹo đem về Lưu Ngũ chỉ nhận tuợng trưng, thông thường cho tôi xài thả cửa. Bài thơ BÁN KẸO ra đời trong khoảng thời gian ấy. Bài thơ viết về cảnh ngộ của vợ chồng Lưu Ngũ :

THƠ BÁN KẸO

Ta sinh ra chưa hề hảo ngọt
Quen đắng cay hơn uống nước đường
Chắc tại đời ta như giấy bóng
Nên lâu lâu gói kẹo đỡ buồn

Hãy ngậm vào mồm đi các em
Kẹo ta bán vốn chẳng cần nhãn hiệu
Kẹo còn trinh tiết ta gọi là kẹo kéo
Ngắt một ngón tay chỉ tốn có 5 hào
Khi hút thuốc lào và nói chuyện tào lao
Mời các em mua ngay phong mè xửng
Kẹo dành lai rai là kẹo nhiều đậu phụng
Ta chưa quốc doanh nên giá cả rẻ tiền
Kẹo chuối, kẹo dừa ngọt lắm đó các em
Ngậm cho chặt để lưỡi đừng lắt léo

Bạn bè ta và vợ ta bán kẹo
Chỉ mình ta thích hợp với “kẹo đồng”
Chính vì thế các em nên mua kẹo
Để mỗi ngày gỡ bựa dưới chân răng…


Không xa nhà Lưu Ngũ là nhà Bùi Đại Bằng, một đàn anh bất phùng thời ở khu Ông Tạ. Mỗi lần nhậu nhẹt chúng tôi thường kéo qua nhà anh chơi tít cung mây. Bùi Đại Bằng mới lấy vợ là một hiền thê có chữ nghĩa hằng ngày cùng với anh ra chợ ngồi bán cá. Hai vợ chồng bán đủ các loại cá đồng, cá biển nhưng mỗi khi tôi xuất hiện là họ để dành một đống ruột cá lóc làm mồi nhậu đãi nhà thơ. Dân có máu Thủy Hử cụng ly nhau nhiều khi nước mắt ứa ra vì thời thế. Tôi có làm bài thơ BÁN CÁ an ủi vợ chồng họ như Hàn Tín an ủi bữa cơm Phiếu Mẫu :

THƠ BÁN CÁ

Đến nhà gặp bạn hiền bán cá
Cá rô, cá sặc, cá thòi lòi
Mà ta thì vốn thằng láu cá
Thấy cá là chỉ muốn nướng trui

Thấy cá là lại thèm một xị
Ít ly y lít với bạn hiền
Cuộc sống chẳng qua toàn mộng mị
Ma quỷ còn đá cá thần tiên

Vậy thì ta chính là ma quỷ
Bắt cá hai tay thú lẫn người
Vậy thì bạn chính là tiên thánh
Bán cá cần chi sợ hổ ngươi

Trên thớt, cá thách người dám cá
Vây giương mắt trợn nhớ ao hồ
Nếu ta nằm thớt như tôm cá
Đã chắc gì dám nhớ tự do

Tự do bị đắm ngay trên cạn
Bạn ta thành cá mắm chợ đời
Vua quan sắm giỏ đi mua bán
Mắt bạn buồn như mắt cá tươi

Mắt bạn buồn như bầy cá lóc
Nhớ kênh thuơng rạch đến bao giờ
Mắt vua chúa như bầy cá mập
Phơi nắng bao giờ mới hết khô

Tại bạn lắm nghề nên lắm nghiệp
Hết bán gạo xong đến bán nhà
Bán nhà đâu sướng bằng bán cá
Xưa Thúy Kiều còn phải bán “bar”

Bán bar thì vốn nòi con gái
Gà trống nuôi con bán cái gì
Chẳng thà bán cá hơn bán nước
Bán lỗ dư mồi nhậu mới nguy

Đói bụng ca ngay bài con cá
Sẽ được no hơi cá hóa rồng
Mấy ai đã dám xưng vương bá
Nếu thiếu thời không vượt vũ môn


Tôi làm nghề gì cũng tài tử. Bán kẹo chừng nửa năm thì gia nhập vào thế giới ve chai. Hồi đó ở Sài Gòn tụ điểm bia nổi tiếng nhất là công viên Tao Đàn, nơi những chiếc xe xì tẹc phun vòi bắn bia như suối. Hai chữ “Tao Đàn” xuất xứ từ nhóm thơ quý tộc “Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú” của ông vua thi sĩ Lê Thánh Tôn sau 1975 biến thành nơi quy tụ giới võ lâm hắc bạch y chang như Quang Minh Đỉnh trong Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung. Bá tánh tha hồ xếp hàng hoặc tan hàng dành từng phiếu tích kê, cự nự làm quen, nhìn mặt bắt hình dong kết nghĩa giang hồ. Những kẻ có dòng máu chịu chơi Lý Bạch tha hồ cụng ly chan chát với vô số đồng nghiệp từ Nam chí Bắc. Khó mà điểm danh hết các hiền sĩ còn sống hoặc ra người thiên cổ ở trung tâm bia bọt Tao Đàn. Chỉ biết rằng tại Tao Đàn tức “Tan Đào” hễ tan trận là đào tẩu một mạch. Thiên hạ đào tẩu với đủ mọi lý do của họ : Người lộng ngôn bừa bãi, kẻ coi trời bằng vung lỡ mượn rượu phát ngôn rút lời không kịp. Ở trung tâm luôn có sẵn các Mạnh Thường Quân yêu mến văn nghệ túi tiền rủng rỉnh sẵn sàng ngây người nghe lời vàng ngọc từ những nhà thơ giang hồ bất đắc chí xuất khẩu thành thi, những nhạc sĩ coi “tứ xứ là nhà” búng guitar, hát nhạc dân gian điệu nghệ hơn xa tỉ ca sĩ trên sân khấu. Một trong những tửu khách xuất hiện thường xuyên là chủ quán Trống Đồng kiêm thi sĩ Vũ Trọng Quang hay nhái Bình Ngô Đại Cáo một cách hào sảng : “Dẫu tiền bạc lúc có lúc không – Song dân nhậu thời nào cũng có”. Quán Trống Đồng hiện giờ không còn nữa nhưng thuở đó tọa lạc ở góc Lý Tự Trọng – Cách Mạng Tháng Tám về sau chuyển về số 5 Lê Quý Đôn. Một trong bốn chủ quán là Vũ Trọng Quang biệt danh Điền Bá Quang, kẻ mê ni cô Nghi Lâm trong Tiếu Ngạo Giang Hồ nhưng không “ngâm ly” mà biết dụ khị tửu khách ghé quán bằng hai câu thơ tiếp thị do chính anh sáng tác :

Mời người và rượu cùng nhau
Bốn phương là chỗ rót vào đầy ly


Những lúc ấy tôi chỉ biết đáp lễ bằng một bài thơ “điệp ngữ” như sau :

Lít đầu chỉ thấy sương sương
Lít hai thấy lửa táp sườn riu riu
Khơi khơi chục lít sáng chiều
Đến khuya đứng dậy chân xiêu tà tà


“Xiêu tà tà” có nghĩa là “ta xìu xìu” quắc cần câu chứ còn phải hỏi. Tại Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú không chỉ có 28 ngôi sao mà có đủ 108 tửu khách Lương Sơn Bạc lừng danh. Tại đây dân nhậu có thể chứng kiến Trần Quang Lộc say xỉn đội xô đá trên đầu xông đến bàn Trịnh Công Sơn, Đinh Cường, Miên Đức Thắng, Rừng, Nguyễn Trọng Khôi… quậy tá lả. Tại đây những cuộc xô xát xảy ra như cơm bữa giữa văn nghệ sĩ hai miền bằng nước bọt lẫn nắm đấm. Tôi khó mà kể hết những lần can thiệp hoặc tham dự của chính tôi vào những cuộc dâu bể đó. Thực ra tôi đến Tao Đàn dưới sự chi viện của nhiều băng nhóm khác nhau. Lúc thì đi với băng họa sĩ Khánh Trường, lúc thì đi với anh em Long Gỗ, lúc thì đi với anh em Lâm Cầu Kiệu, lúc thì đi với băng Bến Tre của Mặc Tuyền, băng điện ảnh giang hồ của Lý Huỳnh, Hồ Ngọc Xum, Lê Chánh, Robert Hải, lúc thì đi với các triết sĩ Đông Phương Huệ, Trụ Vũ, Nguyễn Tôn Nhan, Hoàng Ngọc Tuấn, có lúc gầy sòng với đám xích lô, sửa xe vĩa hè bụi bặm… Nói chung sự có mặt của tôi như là một niềm vui thi ca truyền khẩu không thể thiếu của anh em. Tại đây tôi quen với Sơn Quăn, một họa sĩ ẩn dật kiêm Đầu Lĩnh giới ve chai và Nguyễn Ước, nhà nghị luận phê bình nghiên cứu văn học kiêm Thừa Tướng ve chai có một con mắt giả bịt miếng da đen như hải tặc. Sở dĩ tôi phải kể tên Sơn Quăn và Nguyễn Ứớc vì hai anh có bụng “lân tài” nghĩa khí. Hai anh mỗi lần trúng mánh bất cứ phi vụ “phân kim” hoặc “đồ cổ” đều hú tôi một cách trân trọng. Tôi chỉ có thể tạ ơn hai anh bằng bài thơ HÀNH VE CHAI rất phổ biến lúc đó qua một nhạc sĩ giang hồ phổ nhạc.

HÀNH VE CHAI

Anh em ta đi bán ve chai
Thằng thì chột mắt, đứa cụt tay
Râu tóc để lâu thành võ hiệp
Tráng sĩ mà ưa nhắm thịt cầy

Thực ra anh em ta đẹp trai
Không đẹp trai sao bán ve chai
Cái nhìn giá trị ngang vàng xịn
Con mắt nheo là hốt tiền xài

Ê, vua quan cũng đói dài dài
Bởi vì không biết bán ve chai
Tô Tần miệng lưỡi xem còn kém
Gã Kissinger cũng ớn tài

Mà thiên tài hay họa thiên tai
Tiếng gào mưa nắng chợ ve chai
Buổi trưa gân cổ dường như đắng
Cốc rượu chửa vơi đã rót đầy

Nước mắt ứa ra cơ hồ cay
Nước cay thành đế nhậu lai rai
Anh em ta đọc thơ sang sảng
Bài thơ buồn như đời ve chai

Anh em ta tiếp tục ve chai
Thằng thì cởi gió, đứa đạp mây
Chân không mà ngỡ đi xe đạp
Áo mão đầy hai túi xách tay

“Tiền cổ, tiền xưa, tiền cắc đây”
Tiền nhiều ắt nặng cả hai vai
Thương Cao Bá Quát đời luân lạc
Mượn giang hồ mà tởm cân đai

Gặp nhau không cần coi lịch ngày
Ai đội mũ rơm chân mang hài
Lại đây cùng uống quốc doanh tửu
Gặm đậu phụng rang mà nghe say

Liêm sĩ nằm trong túi xách này
Còn tiền, du đãng cũng bô trai
Đàn bà con gái còn… đi ngựa
Thế thì ta tiếp tục ve chai !


Mà đời ve chai đáng buồn thật. Lên voi trong bàn nhậu nhưng xuống chó ngay trong cuộc đời. Tôi đã từng ăn dầm ở dề ngôi nhà trọ trong Xóm Nhà Đèn của cặp vợ chồng nghệ sĩ ve chai Trịnh Nghĩa và cô Hiền. Trong thế giới ve chai, Trịnh Nghĩa chỉ là thần dân không có vai vế, nhưng anh là một nhạc sĩ tài hoa từng phổ nhạc một bài thơ rất thành công của một thần dân ve chai khác là Trần Dzạ Lữ. Anh cụt một ngón tay trỏ do tự hủy hoại để trốn lính mà búng guitar vẫn điệu nghệ. Phu nhân anh là cô Hiền một người đẹp thủy chung dám bỏ gia đình dấn thân cùng anh và đặc biệt hát rất hay. Tôi biết được những bài hát thất truyền từ thời tiền chiến chính là nhờ cặp vợ chồng Nghĩa, Hiền biểu diễn. Đến giờ này tiếng hát khàn đục đặc biệt của cô Hiền vẫn còn ám ảnh tôi. Tôi có làm một bài thơ nói về cảnh ngộ không hộ khẩu sống rày đây mai đó của gia đình họ. Xin chép ra đây cho các bạn thưởng lãm :

CĂN NHÀ NẰM MƠ

Anh sẽ lợp căn nhà
Đơn sơ vài vật liệu
Kèo cột không đi tiểu
Lên trí tuệ con người
Anh cần chiếc giường đôi
Hai đứa mình cùng thở
Chia nhau nỗi xấu hổ
Mà ông bà cắn răng

Đất nước bốn ngàn năm
Rộng dài như văn hiến
Đêm anh đi thấy điếm
Lợp nhà cạnh gốc cây
Ngày thấy lũ con lai
Căng lều nơi xó chợ
Vợ chồng mướn nhà trọ
Yêu nhau như ngoại tình

Căn nhà vừa tượng hình
Đã tan theo cơn đói
Anh dẫn em lên núi
Không đủ giấy tờ về
Anh dắt em thăm quê
Định làm chàng Tô Vũ
Định làm một gã hề
Ngôi nhà không bảng số
Anh lợp hoài trong mê

Trời sinh anh yêu em
Mà không sinh hộ khẩu
Con chim có chỗ đậu
Con chó có nơi nằm
Anh và em lưu vong
Như người không quốc tịch
Đất nước giàu diện tích
Cho châu chấu cào cào
Có đâu nghèo lý lịch
Với những người yêu nhau ?


Kỷ niệm về vợ chồng Nghĩa, Hiền và những cặp vợ chồng nghệ sĩ khác như họa sĩ Rừng tức nhà văn Kinh Dương Vương đã khiến tôi bị “sốc” nặng. Tôi còn nhớ lúc Hiền sinh đứa con thứ hai trong nhà không có sữa bò để uống cũng như lúc chị Vân vợ của học sĩ Rừng sinh xong rồi không biết gửi con học Mẫu Giáo ở đâu bởi vì một lý do đơn giản : Không hộ khẩu. Trong khi hàng ngày trên báo chí không ngừng đưa tin về những ông to bà lớn, những con ông cháu cha thế hệ kế thừa đua nhau vào vũ trường, nhà hàng, tụ điểm cờ bạc ăn chơi. Bước sang năm 2008 còn tìm cách tống khứ dân nghèo lẫn thiên nhiên đi chỗ khác để xây dựng những sân gôn cho đám nhà giàu giải trí, những cung điện dành cho các cuộc thi Hoa Hậu của lũ quý tộc mới. Bao hình ảnh nhức nhối đó đập vào mắt khiến tôi bật thành thơ như sau :

HẾT Ý KIẾN

Các ngươi ăn ở sao khôn vậy
Bóc lột ngay từ lúc cởi truồng
Bốn hộp sữa mỗi lần sinh đẻ
Thảo nào con nít bệnh còi xương

Thảo nào con nít quen moi rác
Tập ngửi mùi hôi để trưởng thành
Lỡ sau khôn lớn làm thủ trưởng
Cũng quen mùi thum thủm công danh

Thảo nào con nít quen dắt mối
Tập bán trôn nuôi miệng kiếm lời
Lỡ sau khôn lớn làm lãnh đạo
Cũng rành “ba mươi sáu kiểu chơi”

Thảo nào con nít quen nói láo
Tập giống bề trên cách uốn mồm
Lỡ sau khôn lớn làm nhà báo
Viết đói thành no dễ kiếm cơm

Tiền ? Ngươi nói “Ngân Hàng Nhà Nước”
Tù ? Ngươi cho “Tòa Án Nhân Dân”
Chao ơi, tiền bạc dành ông lớn
Còn cùm gông tặng kẻ rách quần


Suốt năm 1984 tôi đi khắp bốn vùng chiến thuật. Lưu diễn Bảo Lộc với đạo diễn sân khấu Trần Văn Hưng khi Hưng kéo đội tinh binh văn nghệ lên cao nguyên phục vụ Công Ty Chè của ông Năm Lửa. Trong phái đoàn bao giờ tôi cũng lãnh nhiệm vụ đọc thơ tiên phuông. Tôi biến thành một thứ gạch nối cần thiết gom bạn bè tứ xứ. Tại Blao tôi được Trung Họa Sĩ người địa phương dẫn đường lên núi Đại Lào thăm kẻ sĩ Nguyễn Đức Sơn ở ẩn. Như đã đề cập từ phần đầu GIAI THOẠI CỦA THI SĨ, nhà thơ Nguyễn Đức Sơn theo tôi là một trong “tứ trụ thi ca” của miền Nam trước giải phóng. Ba vị kia là Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên. Thực ra ngoài bộ tứ vừa nêu, còn một nhân vật kiệt hiệt khác mà tôi rất hâm mộ, đó là Phạm Công Thiện, một triết gia kiêm thi sĩ từng là thần tượng của thế hệ sinh viên học sinh theo chủ thuyết hiện sinh tại Sài Gòn trước năm 1975. Triết gia Phạm Công Thiện nghe đồn từng đi tu và sau năm 1975 chu du khắp thế giới, chơi với văn hào Hy Lạp Nikos Kazanzaki tác giả ALEXIS ZORBA, CON NGƯỜI CHỊU CHƠI. Ông còn gặp Đạt Lai Lạt Ma và có thời gian ẩn sĩ ở Ấn Độ, Tây Tạng. Chung quanh con người họ Phạm có quá nhiều giai thoại, riêng tôi chỉ biết ông qua tác phẩm “Ngày sinh của rắn”. Chỉ cần qua “Ngày sinh của rắn” tôi đã liệt ông như Trung Nguyên Vương Trùng Dương giữa bốn vị Bắc Cái Bùi Giáng, Nam Đế Thanh Tâm Tuyền, Đông Tà Tô Thùy Yên và Tây Độc Nguyễn Đức Sơn y chang như truyện chưởng Kim Dung “Võ lâm ngũ bá”. Là một ngòi bút phong trào tranh đấu cho một lý tưởng hoàn toàn khác, tôi quyết định “ấn chứng võ công” với Phạm Công Thiện tiên sinh bằng bài thơ NGÀY SINH CỦA NGỰA, đơn giản vì tôi tuổi Giáp Ngọ. Tôi đã đọc bài thơ này cho Phạm Trung Cang (em trai Phạm Công Thiện) những năm đầu giải phóng tại một điểm sách dạo dọc đường Lê Lợi, khi ông Cang bán sách chợ trời ở đó. Xin mạn phép chép bài thơ ấn chứng ấy ra đây cho bạn đọc thưởng lãm. Cũng cần nhắc lại là bài thơ NGÀY SINH CỦA NGỰA bất ngờ được đăng trên báo Văn Nghệ Trung Ương như là một trong vài bài thơ phá lệ hiếm hoi của Ban Biên Tập thời đó:

NGÀY SINH CỦA NGỰA

Ngày ta sinh ra Nguyễn Huệ đã băng hà
Nên con ngựa tử vi không người cưỡi
Ta sút chuồng phá bỏ yên cương
Lặng lẽ ruỗi đời mình lên núi

Ngày ta sinh ra rừng không ai biết tới
Chỉ có cỏ cây hoa lá tầm thường
Ta đi đến đâu, chỗ ấy thành đại thụ
Đại thụ sinh rừng, rừng sinh nở mùi hương

Ngày ta sinh ra bầy rắn đã rung chuông
Định lấy nọc để phân ranh trời đất
Khí hạo nhiên ta dựng cứng bờm
Lấy nhân nghĩa để phân ranh lành, độc

Chỉ có cô đơn mới đủ làm ta khóc
Tiếng khóc của ta là tiếng hí của người
Ta không biết ta là người hay ngựa
Chỉ một mình Nguyễn Huệ hiểu ta thôi !

Lên Đại Lào ngoài việc thù tạc thi ca với nhau, Nguyễn Đức Sơn còn giới thiệu tôi rừng thông ngút ngàn phủ kín khu đồi trọc liên hoàn mà ông trồng thí nghiệm. Công việc trồng thông của ông nặng nhọc và bị trả giá đắt đến nỗi phải mang thương tích đầy người bởi băng nhóm Hà Sơn Bình tranh giành đất đai ám hại. Bi kịch trên sau này được tôi đưa vô tiểu thuyết YỂU ĐIỆU THỤC NỮ và đổi bút hiệu ngày xưa của ông là “Sao Trên Rừng” thành nhân vật “Thông Trên Núi”. Thời gian ngắn ngủi ở Bảo Lộc giúp tôi sáng tác bài thơ BLAO đăng trên báo Văn Nghệ Thành Phố và đoạt giải Thơ Hay ngay năm đó :

BLAO

Em có giống Blao không em ?
Đón anh đừng đóng cửa cài then
Bằng không anh biến thành bông giấy
Mọc tỉnh bơ ngay phía trước thềm
Em có giống Blao không em ?
Ngắt anh đừng nỡ ngắt trong đêm
Bằng không anh biến thành trái bắp
Cắn vào răng em để bắt đền

Em có giống Blao không em ?
Vất anh đừng vất ở ngoài hiên
Bằng không anh biến thành con muỗi
Chờ dịp giường em bị hở mền

Em có giống Blao không em ?
Đập anh đừng đập bẩn tay tiên
Bằng không anh sẽ nằm huýt sáo
Suốt mùa thu như chú dế mèn

Là phải giống Blao nghe em
Chiều, mưa một chút để anh thèm
Tối, sương một chút cho anh nhớ
Một chút gì như thể áo len

Là phải giống Blao nghe em
Làm duyên một chút để anh hiền
Dịu dàng một chút cho anh sợ
Một chút gì anh sẽ buốt tim…


Trên thực tế bài thơ BLAO không phải là bài thơ tình thích nhất của tôi. Một bài thơ khác phổ biến hơn là bài thơ mang tên THIẾU NỮ. Bài thơ THIẾU NỮ gây tiếng vang mạnh đến nỗi tôi đi đến bất cứ đêm thơ của trường đại học, trường trung học, đơn vị quân đội, nông trường thanh niên xung phong, công trường lao động tập thể nào cũng đều được công chúng trẻ tuổi yêu cầu phải đọc bài thơ đó. Trong một cuộc thăm dò đột ngột của các thầy cô dạy văn một trường điểm cấp ba ở Tân Bình, hầu như trong sổ tay hoặc nhật ký của học sinh đều có chép bài thơ THIẾU NỮ. Bài thơ được lan tỏa trong nước lẫn hải ngoại nhờ sự cộng hưởng của các nhạc sĩ phổ nhạc. Trong nước tôi chỉ được biết nhạc sĩ Nguyễn Hiệp và một nhạc sĩ không quen biết ở Pleiku phổ rất có duyên. Còn ở nước ngoài, qua những băng đĩa bán lụi mang tên “HỀ XUÂN” phát hành lậu trong nước vào dịp Tết, bài nhạc phổ thơ được hát một cách nghịch ngợm bởi một nam ca sĩ trẻ mà tôi không biết tên biết mặt. Cả tên nhạc sĩ cũng không ghi.

THIẾU NỮ

Cô gái ơi, anh nhớ em
Như con nít nhớ cà- rem vậy mà
Như con dế trống đi xa
Một hôm nhớ đến quê nhà gáy chơi
Con dế thì gáy một hơi
Riêng anh gáy hết một thời con trai
Tiếng gáy bò lên lỗ tai
Làm em nhột suốt một ngày một đêm

Cô gái ơi, anh nhớ em
Như má lúm nhớ đồng tiền đúng chưa ?
Như cà chớn nhớ cà chua
Như da em nhớ da- ua ngọt ngào
Cái nhớ nhảy qua hàng rào
Không thèm đăng kí cứ nhào vô anh
Xô ra thì thấy không đành
Nên anh ôm lấy rồi canh giữ hoài
Con kiến còn nhớ củ khoai
Huống chi tóc ngắn tóc dài nhớ nhau

Nhớ nhau không biết để đâu
Nếu để trên đầu sợ tóc che đi
Để trong túi áo cũng kỳ
Lỡ đi đường rớt lấy gì chứng minh
Chi bằng giả bộ làm thinh
Hét lên “nhớ quá” một mình nghe chơi !


(Còn tiếp)

BÙI CHÍ VINH – Tháng 11 – 2008