Loạt bài viết của tuần báo TIME về cuộc chiến Việt Nam [I] - Diễn đàn X-cafe
Diễn đàn X-Cafe


Loạt bài viết của tuần báo TIME về cuộc chiến Việt Nam [I]


Dịch giả Diên Vỹ
Lời dịch giả: Xin giới thiệu loạt bài viết với chủ đề về Việt Nam của tuần báo Time từ buổi đầu của cuộc chiến tranh lạnh nằm trong văn khố lưu trữ của tạp chí. Trong suốt cuộc chiến tranh Việt nam cho đến nay, có tất cả 62 bài viết đăng trang bìa (cover story) về Việt nam. Ở đây chỉ xin chọn lọc giới thiệu những bài báo nói về tình hình chính trị của hai miền Nam Bắc trong giai đoạn này.


Mặt trận mới

Bài đầu tiên nằm trong số báo ngày 29 tháng 5, 1950
Hoa Kỳ vừa có một mặt trận mới và một đồng minh mới trong cuộc chiến tranh lạnh. Địa điểm là Đông Dương, một khu vực với rừng rậm, đồi núi và đồng bằng ở Đông Nam Á bao gồm nước Việt Nam Cộng Hoà cùng hai Vương quốc nhỏ là Lào và Cambodia, cùng nằm trong khối Liên hiệp Pháp.

Hơn ba năm qua mảnh đất này, khi còn trong thời gian tiền chiến tranh là thuộc địa giàu có của Pháp, đang chịu đựng với một mức độ nhẹ hơn, sự tàn phá tương tự với cuộc nội chiến đã giúp chủ nghĩa Cộng sản chiếm lĩnh Trung quốc. Mao Trạch Đông của Đông Dương là một con người gầy yếu nhưng là một chiến binh từng trãi, với dáng vẻ của một pháp sư già nua; tên thật của ông ta là Hồ Chí Minh. Lại không có nhân vật tương tự như Tưởng Giới Thạch ở Đông Dương. Binh lính Pháp là những người phải chịu đựng sức tấn công của phe Đỏ. Trong khi ấy, nhiệm vụ kết hợp những lực lượng chống Cộng sản chủ yếu nằm trên đôi vai mập mạp của Hoàng đế Bảo Đại, người mang danh hiệu Quốc trưởng chính thức của Việt nam.

Dù những chấn động của cuộc nội chiến Trung quốc đang lắng dịu trước con mắt kinh ngạc của bộ Ngoại giao, Hoa kỳ đã không quan tâm mấy đến cuộc chiến tại Đông Dương. Dường như đây chỉ là mâu thuẫn nội bộ giữa Pháp và những thuộc địa của họ. Từ khi tình hình đã lắng đọng tại Trung quốc, Cộng sản châu Á đang tiến về phía nam. Đông Dương đứng đầu trên con đường dẫn đến Singapore, Manila và khu vực Đông Ấn.

Tháng Giêng vừa qua, dẫn đầu bởi Bắc kinh và Moscow, khối Cộng sản thế giới đã công nhận nền "Dân chủ Cộng hoà" của Hồ Chí Minh. Việc này còn hơn hẳn những gì Kremlin từng làm để giúp quân phiến loạn Cộng sản ở Hy lạp. Trong vài tuần lễ vừa qua, đã có báo cáo về vũ khí và những hàng viện trợ khác đang được chuyển từ Nga qua ngỏ Trung quốc đến những người đồng chí ở Đông Dương. Những đe doạ tại Đông nam Á là rất quan trọng - quan trọng như cuộc chiến toàn cầu giữa Chủ nghĩa Cộng sản và thế giới tự do.

Hai tuần trước tại Paris, Bộ trưởng bộ Ngoại giao Dean Acheson đã vạch ra một con đường trong đám mây mù đã che phủ chính sách ngoại giao của Hoa kỳ từ bấy lâu nay. Ông nhận định rõ rệt rằng cuộc chiến tranh tại Đông Dương không phải là một cuộc đấu súng nội bộ. Ông cam kết Hoa kỳ sẽ viện trợ vũ khí và kinh tế cho người Pháp và người Việt. Hoa kỳ vì thế đã nhận lời thách đấu của người Nga.

Lịch sử đã chọn cho Hoa kỳ một mặt trận và một đồng minh như thế nào?

Một Nguồn Lợi Quí Giá.

Không như Trung quốc, nơi những thương nhân và giáo sĩ Hoa kỳ đã bắt đầu mối quan hệ thành công hơn một thế kỷ trước, Đông Dương có rất ít tiếp xúc với Hoa kỳ, trên phương diện thương mại, văn hoá hoặc ngoại giao.* Cuốn sách đầy đủ và mới nhất của Hoa kỳ về đất nước này được xuất bản từ năm 1937. Bên cạnh những vấn đề khác, tác giả nhận xét rằng: "Đông Dương nằm quá xa khung cảnh chủ đạo để có thể đóng bất cứ một vai trò gì ngoài vai phụ trong màn kịch Thái Bình Dương."

Trước thời Pháp thuộc, đa phần Đông Dương đã bị chinh phục bởi Trung quốc và họ đã lưu lại ảnh hưởng văn hoá vô cùng sâu sắc. Trong suốt nửa sau của Thế kỷ 19, người Pháp đã biến Đông Dương trở thành một thuộc địa độc quyền, khắt khe và đầy lợi nhuận. Họ đã khám phá ở đấy những khu rừng đầy bệnh tật giăng mắc, những ngọn núi cao ngất, những thung lũng rộng lớn ven sông. Họ đã tìm ra những di tích cổ, bao gồm những ngọn tháp Angkor Wat uy nghi hiểm trở ở miền bắc Cambodia. Họ đã viết về những vị hoàng tộc, những ngôi chùa Phật giáo và truyền thống gia đình Khổng giáo của xứ này.

Người Pháp đã đầu tư hai tỉ đô-la để xây dựng hệ thống sản xuất lúa gạo và cao su ở Đông Dương; trước Chiến tranh Thế giới thứ II, cùng với Xiêm và Miến điện, thuộc địa này là một trong ba vùng xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Nguồn gạo thặng dư của nó đã được đưa sang Trung quốc đang bị thiếu gạo, một cơ sở vô cùng quan trọng trong việc Cộng sản Trung quốc ủng hộ Hồ Chí Minh. Tất cả nguồn cao su thô mà người Pháp cần đều từ Đông Dương. Ngoài ra còn có những món hàng đầy lợi nhuận như than đá, nguyên liệu hợp kim, tiêu, thuốc phiện (thứ mà người Pháp đã táng tận giành độc quyền để bán cho dân bản xứ) và vô số công việc cho nền quản lý của người da trắng. Các chính trị gia Pháp đã gọi mảnh đất này là "hành lang kỳ diệu của chúng ta ở khu vực Thái Bình Dương".

Một Hệ Lụy Nguy Hiểm.

Đông Dương đã không còn là một nguồn lợi quí giá của nước Pháp. Cũng như mọi nơi khác ở phương Đông, chủ nghĩa thực dân cũ đã chết dưới ảnh hưởng của phong trào quốc gia Tây phương, những tư tưởng quân bình, một quá trình đã được thúc đẩy mạnh mẽ bởi người Nhật khi họ bước chân vào Chiến tranh Thế giới thứ II với khẩu hiệu: "Châu Á thuộc về người Á". Người Pháp đã miễn cưỡng chấp thuận nó nhiều lần.

Trong một thoả ước ký với Bảo Đại ngày 8 tháng 3, 1949, họ đã chấp nhận một nền tự do có giới hạn cho Việt nam bên trong khối Liên hiệp Pháp. Trong những điều khoản này, một nội các người Việt được phép điều hành những công việc nội bộ, quyền được thiết lập một quân đội quốc gia. Paris vẫn giữ quyền trực tiếp trong chính sách đối ngoại, giữ nguyên những căn cứ quân sự và toà án đặc biệt giành cho người Pháp, giữ lại một vị trí đặc biệt cho những cố vấn Pháp và ngôn ngữ Pháp.

Đến lúc ấy thì người Pháp đã ngập đến cổ trong chiến dịch đầy tốn kém để đánh dẹp Hồ Chí Minh và phong trào Cộng sản của ông đang nhằm chiếm lấy quyền lực. Cuộc nội chiến đã cắt sản lượng thóc xuống còn phân nửa và làm gián đoạn toàn bộ nền kinh tế Đông Dương. Nó đã cầm chân 130 nghìn quân Pháp, khoảng phân nửa số quân của quân đội của nền Đệ tứ Cộng hoà, và vì thế đã làm suy yếu việc người Pháp có thể đóng góp trong vấn đề bảo vệ Tây Âu. Về sinh mạng, cuộc chiến Đông Dương đã làm mất đi của Pháp 50 nghìn người. Về tài chính, nó đã tiêu tốn 2 tỉ đô-la - tương đương số tiền viện trợ ECAid (European Commission - ND) của Pháp.

Tóm lại, Đông Dương đã trở thành một hệ lụy nguy hiểm cho Pháp - và bất cứ người Pháp có óc thực tế nào cũng không cho rằng nó có thể trở thành một nguồn lợi một lần nữa. Thế thì tại sao phải phung phí xương máu và của cải cho một cuộc chiến bạc bẽo ở vùng rừng rậm như thế? Tại sao không rút đi?

Câu trả lời là: sự mệt mỏi vì chiến tranh cũng như uy tín của người Pháp đang bị đe doạ. Nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản thì, trong mọi khả năng, toàn bộ khu vực Đông Nam Á cũng sẽ chung số phận.

Đối với người dân Hoa kỳ, thực tế đầu tiên của mặt trận mới này là nó sẽ tốn tiền để giữ vững - hơn rất nhiều để người Pháp có thể chi trả một mình, nhiều hơn hẳn 15 triệu đô-la về vũ khí và 23 triệu đô-la về kinh tế mà Washington đã hứa hẹn hiện nay. Thực tế thứ hai còn cấp bách hơn: mặt trận mới này, nếu không muốn nó bị đổ vỡ, có thể cần cả lính Mỹ bên cạnh lính Pháp.

Nếu không, Hoa kỳ có thể phải chịu đựng một thất bại thảm hại khác tại Viễn Đông.

Vấn Đề Đồng Cảm.

Người Pháp đã phạm nhiều hơn là những lỗi lầm thông thường trong chính sách thuộc địa. Rất nhiều lần, đặc biệt là từ khi họ dùng đội quân Lê Dương với lính đánh thuê người Đức để tái lập trật tự sau Chiến tranh Thế giới thứ II, họ đã đối xử rất kiêu ngạo và tàn khốc với người dân Đông Dương. Giờ đây họ đang phải trả giá cho việc này, với đa phần lực lượng ủng hộ Hồ Chí Minh Cộng sản từ những người Đông Dương chống Pháp hoặc chống chế độ thuộc địa. Một khẩu hiệu trên một con đường làng Đông Dương đã nói lên tất cả; tấm bảng viết "Cộng sản, Không. Thực dân, Không bao giờ."

Nhưng vấn đề đồng cảm đối với người dân bản xứ rất phức tạp. Đại đa số dân chúng là nông dân, họ chỉ muốn bình yên và trật tự để có thể chăm sóc ruộng vườn. Bản thân Hồ Chí Minh hiện nay cũng không tuyên truyền Chủ nghĩa Cộng sản một cách rõ rệt: lý do của ông là người dân không thấu hiểu được khái niệm này. Bên cạnh lời kêu gọi căm thù người Pháp một cách đơn giản (bao gồm việc tuyên truyền về sự tàn ác của họ), ông còn có một cách thuyết phục đầy hiệu nghiệm: khủng bố. Những du kích quân và cán bộ bí mật của ông bám trụ ở vùng nông thôn; những chuyên viên ám sát và đặt bom của ông khủng bố các thành phố. Ông không ngừng tuyên truyền rằng lực lượng của ông đang giành phần thắng, như những đồng chí của ông từng chiến thắng ở Trung quốc.

Kết quả là có rất nhiều người vì sợ hãi mà giúp đỡ ông ta, hoặc ít nhất là tránh xa nỗ lực chống Cộng. Những người khác, đặc biệt là giới trí thức, chỉ ngồi ngoài lề chờ đợi để đứng về bên thắng cuộc. Đây là thời điểm Bảo Đại xuất hiện.

Phô Trương Quyền Lực

Hoa kỳ và Pháp hy vọng rằng nhiệm vụ của Bảo Đại là tập hợp dân chúng về lực lượng chống Cộng của phương Tây. Ông cần có thời gian để thực hiện công việc này. "Không thể chỉ qua một đêm mà xong," ông nói. Ông cần thời gian để tổ chức một chính phủ bản xứ có hiệu lực, huấn luyện quân đội và dân quân để có thể chấn chỉnh trật tự ở làng quê, lấy lòng những thành phần trí thức hoài nghi đang ngồi bên lề. Bên cạnh một lá chắn quân sự, ông cũng cần những đồng minh phương Tây chứng tỏ sự thắng thế cũng như sự thông cảm đầy kiên nhẫn của họ.

Trong cương vị của một lãnh đạo quốc gia, Bảo Đại cũng có những yếu điểm, đa phần là việc ông không thích được nổi tiếng theo kiểu Jawaharlal Nehru của Ấn độ. Nhưng là vì người nối dõi của cựu triều An nam, theo truyền thống ông là bậc phụ mẫu, là vị bổn sư và là quan toà của cả quốc gia. Người Pháp cho rằng Bảo Đại cần hành động dứt khoát hơn; mỗi khi ông làm thế, thường có sự hưởng ứng rộng rãi đầy ấn tượng.

Chính phủ Nehru của Ấn độ, theo sau là chính phủ Thakin Nu của Miến điện, Soekarno của Indonesia và ngay cả Elpidio Quirino của Philippines vẫn từ chối theo chân những cường quốc dân chủ ở phương Tây trong việc công nhận chính quyền Việt nam Cộng hoà của Bảo Đại. Họ xem ông là một bù nhìn của Pháp. Nhưng Bảo Đại cũng đã có quan điểm riêng trong cuộc chiến về ý thức hệ đầy quan trọng của đời mình, rất giống với quan điểm nóng nảy về lực lượng thứ ba của Pandit Nehru.

Ví dụ như vừa rồi, Bảo Đại đã kể với phóng viên tạp chí TIME về ấn tượng của ông về Hồ Chí Minh vào năm 1946, khi cả hai nhà lãnh đạo đang hợp tác với người Pháp để thiết lập một chính phủ Việt nam mới.

"Ban đầu," Bảo Đại nhớ lại, "chúng tôi đều tin rằng chính phủ của Hồ thực sự là một chính thể quốc gia... Tôi gọi Hồ là Anh và ông ấy gọi tôi là Em..".

"Nhưng rồi tôi thấy ông ấy đang phải chiến đấu với chính bản thân mình. Ông ấy đã nhận ra rằng Cộng sản không là giải pháp tốt nhất cho quốc gia chúng tôi. Nhưng đã quá muộn. Ông ấy đã không thể cưỡng lại lòng trung thành của chính mình với Chủ nghĩa Cộng sản."

-------------------------------------------------------------
* Đã có một cố gắng bất thành trong việc thiết lập quan hệ giữa hai nước trong những năm 1830s, khi Tổng thống Andrew Jackson gửi Phái viên Edmund Roberts từ New Hampshire đến để soạn thảo một hiệp ước với Hoàng đế Minh Mạng. Robert đã báo cáo rằng: "Những nghi lễ đầy xấc xược đưa ra trước khi ký hiệp ước... đã không cho tôi lựa chọn nào ngoại trừ việc huỷ bỏ việc liên lạc dài dòng... vì thói lừa lọc và quanh co của những vị quan hầu cận của Hoàng đế." Robert bị bắt phải 1) Bái năm lạy, 2) Xin được "đặc cách chiếu cố," 3) thay đổi một câu trong bức thư của Tổng thống Jackson gửi cho Hoàng đế từ "Tôi cầu xin Chúa" thành "Tôi cầu xin cho các ngọc hoàng thượng đế." Ông đã từ chối.

Những cuộc xâm lăng của Trung quốc xảy ra giữa những năm 213 trước Công nguyên và 186 sau Công nguyên. Từ năm ấy cho đến Thế kỷ thứ 10 người Trung quốc thống trị nước này. Sau đấy người An nam đã lật đổ ách thống trị của Trung quốc; lại bị xâm chiếm lần nữa trong một thời gian ngắn trong Thế kỷ thứ 15. Những nhà truyền giáo và thương gia Pháp (theo chân người Bồ đào nha và Đức) đã đến Đông Dương vào Thế kỷ thứ 17. Năm 1802, một công ty Đông Ấn của Pháp đã giúp Nguyễn Ánh lên ngôi, ông là vị vua đầu tiên của dòng họ Bảo Đại.

(còn tiếp)
Nguồn: Time Magazine

Suy ngẫm
Cao hơn nữa, lịch sử cần phải được nhìn nhận như một bộ môn khoa học. Tại sao vậy? Bởi tri thức của con người gắn liền với lịch sử. Từ việc đơn giản như dùng đũa ăn cơm, tới phức tạp như điều hành một nhà nước, tất cả đều xuất phát từ những bài học lịch sử. Cuộc sống của con người quá ngắn ngủi để trải nghiệm mọi thứ trên đời, do đó chúng ta buộc phải dựa vào những tri thức "đã biết" - đó là lịch sử - để giải quyết những vấn đề tương lai.

Chuyện gì sẽ xảy ra, nếu tri thức lịch sử đó không được kể cho thế hệ sau, hoặc tệ hơn là bị bóp méo, xuyên tạc? Nếu nó không được truyền tải lại cho thế hệ sau, đơn giản là tri thức đó sẽ mất - thế hệ sau sẽ phải tự mày mò lặp lại lịch sử để tự rút kinh nghiệm. Còn nếu lịch sử bị bóp méo, thế hệ sau sẽ phải trả giá vì theo đuổi những bài học "sai lầm". Do đó, cũng giống như các bộ môn khoa học khác - lịch sử cần sự trung thực.
Danh sách Top 10


Ủng hộ X-cafe
Nhập vào số tiền bạn muốn ủng hộ và nhấn nút Paypal Donate:
$