Nhà sử học Dương Trung Quốc: Chuyển đổi cơ bản hay là…(I)
Nhà sử học Dương Trung Quốc
- Trong đời sống đương đại đầy thăng trầm và náo động này, có một sự kiện mà “dư âm” của nó còn đọng lại trong những ai vốn nặng lòng với quốc sử. Đó là hội thảo về “Các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam” mà theo nhà sử học Dương Trung Quốc: Liệu đã có một chuyển đổi cơ bản hay chỉ là sự rộ lên của những nhận thức mới trên một lĩnh vực rất nhạy cảm- sử học. Bài viết này cho Thư Thăng Long- Hà Nội, như tác giả tự nhận “là một thu hoạch nhỏ của một người đã theo dõi và can dự vào một quá trình”…
Thời điểm lịch sử và đất Thanh Hoá- “quý hương”
Có một yếu tố “tâm linh” về thời điểm cuộc hội thảo này được tổ chức, đó là cách đây đúng bốn thế kỷ rưỡi (450 năm) đã có một sự kiện đặc biệt: Mùa đông năm 1558, vâng mệnh triều đình (nhà Lê) chúa Nguyễn Hoàng vào Nam mở cõi.
Thanh Hoá là “quý hương”(vùng đất Hà Trung), nơi hiện có Gia Miêu ngoại trang là quê hương của các chúa, các vua Nguyễn, và rất đông đảo những thế hệ người dân xứ Thanh tham gia vào công cuộc Nam tiến vĩ đại của dân tộc liên tục nhiều thế kỷ tiếp theo...Trên vùng đất này đã từng có một di tích kiến trúc hoành tráng, do chính vị vua khởi triều là Gia Long xây dựng để ghi nhận vùng đất phát tích ra các chúa và triều Nguyễn cũng mới “biến mất” hoàn toàn cách đây đúng ba thập kỷ.
Đó là lý do vì sao sự đánh giá về các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn lại diễn ra ở Thanh Hoá, do UBND tỉnh Thanh Hóa chủ động đề nghị Hội Sử học VN phối hợp đồng tổ chức cho dù chúng ta biết rằng nói đến sự nghiệp của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn, không thể không nói đến vùng Thuận Hoá, xứ Quảng và lục tỉnh Nam Bộ trong đó Phú Xuân- Huế đã trở thành thủ phủ Đàng Trong và kinh đô của Vương triều Nguyễn cho đến giữa thế kỷ XX (1945).
Sự đánh giá lại của đời sống đương đại dường như cũng đáp ứng lòng mong mỏi của người dân đất Thanh Hoá- “quý hương”. Họ vẫn tự hào mảnh đất này là nơi sản sinh ra vị vua khai sáng triều Lê (từng đựoc tôn vinh là “vị tổ trung hưng thứ hai” sau Ngô Vương quyền theo đánh giá của Phan Bội Châu).
Sự đánh giá công bằng, khách quan của đời sống đương đại sẽ làm sáng tỏ vai trò của các chúa Nguyễn, chúa Trịnh và các vị vua triều Nguyễn vốn một thời mang nặng mặc cảm gắn liền với những biến động tiêu cực như chia cắt Đàng Trong-Đàng Ngoài, thù địch và tiêu diệt “cách mạng” Tây Sơn, đàn áp khởi nghiã nông dân và cuối cùng là “cõng rắn cắn gà nhà”, bán nước rồi làm tay sai cho thực dân đô hộ. Bối cảnh chính trị của cuộc cách mạng “phản đế- phản phong” cùng lập trường đấu tranh giai cấp và cải tạo xã hội chủ nghĩa đã kéo dài sự đánh giá một sắc màu tiêu cực về nhà Nguyễn.
Lịch sử trung đại đầy bi kịch, ẩn trắc và tất yếu
Cái căn cốt nhất của sự đánh giá vị thế các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn là việc nhận thức lại về một thời kỳ lịch sử mang tính chất bản lề với hai nội dung quan trọng. Đó là sự hoàn thiện lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, gắn liền với quá trình mở mang bờ cõi (Nam tiến) và xác lập chủ quyền dân tộc, với cả một tầm nhìn lớn ra đại dương của ông cha chúng ta.
Những đội Hoàng Sa được các chúa Nguyễn lập, tấm bản đồ “Đại Nam Nhất thống toàn đồ” vẽ dưới thời vua Minh Mạng là những bằng chứng góp phần vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.Vai trò của các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn và triều Nguyễn cho đến nửa đầu thế kỷ XIX đã để lại một di sản thiêng liêng mà thời đại ngày nay chúng ta đang kế thừa là không gian lãnh thổ của một quốc gia thống nhất.
Đó còn là quá trình chuyển tiếp từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, đặc biệt, từ nửa cuối thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX qua thế kỷ XX. Đây là thời kỳ mà nước Việt chúng ta từng bước thoát dần ra khỏi “thế giới Trung Hoa” truyền thống, tiếp cận và giao thoa với nhiều nền văn hoá ở phía Nam (chịu ảnh hưởng của văn hoá hải đảo Đông Nam Á và Ấn Độ), tiếp xúc với văn minh phương Tây, đương đầu với chủ nghĩa thực dân phương Tây để rồi trở thành thuộc địa của Pháp.
Đây cũng chính là giai đoạn lịch sử bi kịch, đầy ẩn trắc. Bên cạnh những yếu tố tiêu cực dễ thấy, kết cục bằng một thời kỳ mất nước, thì hàng loạt những tác động khách quan vào sự phát triển của dân tộc, nghiễm nhiên như là sự chuẩn bị từng bước cho công cuộc hội nhập vào trào lưu phát triển của thế giới hiện đại sau này. Trong đó có cả những hệ tư tưởng chính trị hiện đại cũng như các phương thức sản xuất tiến tiến hơn, tạo cơ sở để Việt Nam hội nhập với thế giới ngoài Trung Hoa (đầu thế kỷ XX) cho đến hội nhập với toàn cầu mà thời đại chúng ta đang chứng kiến.
Về lý thuyết, sự đánh giá dừng lại ở thế kỷ XIX tức là thời kỳ Việt Nam (Đại Nam) còn là một quốc gia tự chủ (vì triều Nguyến còn tồn tại đến 1945). Nó đặt ra một loạt những vấn đề lịch sử hệ trọng như vì sao chúng ta không có được một cuộc cải tổ như Nhật Bản? Mất nước có phải là một tất yếu?
Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân bên cạnh bản chất một nền cai trị của chủ nghĩa thực dân, có những thúc đẩy sự tiến bộ do tác động của những giá trị của một nền văn minh đang phát huy thế mạnh đối với toàn cầu. Trả lời những vấn đề lịch sử này cũng góp phần đánh giá toàn diện và biện chứng hơn các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn.
Về thực tiễn, rõ ràng, không nghiên cứu và nhìn nhận trên một tinh thần khách quan khoa học giai đoạn lịch sử này, chúng ta không thể nhận thức được chính mình, những di sản mà lịch sử đương đại đang kế thừa hay đang khắc phục. Người ta thường dễ xúc cảm bởi sự công bằng thì giá trị ấy cũng đang là một nhu cầu của xã hội, vì một nguyên lý là không công bằng với quá khứ thì cũng không thể công bằng với hiện tại.
Có phải là sự đột phá trong nhận thức lịch sử?
“Lịch sử diễn ra một lần còn nhận thức lịch sử là một quá trình”. Sự đánh giá các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn ở thời đại này do vậy, là sự chín muồi của một quá trình nhận thức, để chuyển từ nhận thức của giới sử học tới nhận thức của xã hội. Nó không thể tách rời với quá trình đổi mới của đất nước, cũng có nghĩa là sự đổi mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng cầm quyền, bắt đầu từ đổi mới tư duy kinh tế với một khẩu hiệu hành động: “Dám nhìn thằng vào sự thật, nói đúng sự thật”.
Giới sử học Việt Nam không giấu diếm những thuộc tính mang “tính thời đại” của mình với đặc trưng là đội ngũ các “sử gia công chức”. Chúng ta rất hay nói đến tính khách quan của lịch sử, hay nhắc đến câu chuyện “ngụ ngôn kinh điển” về ba anh em sử gia phương Bắc từng thay nhau nhận cái chết để không thay đổi sự thật. Đã là ngụ ngôn thì đó cũng chỉ là sự mong muốn, mang tính lý tưởng mà thôi.
Sử học là một khoa học, nhưng nó cũng không thể không mang màu sắc chính trị. Thời đại nào, ở đâu và ai cầm bút viết sử cũng vậy. Chỉ có điều chính trị biết phục tùng quy luật, căn cứ vào tính chân thực trong nhận thức quá khứ, đó sẽ là nền chính trị bền vững và trường tồn, cho dù đạt tới tiêu chí đó không dễ dàng. Và ngược lại, nếu bất chấp quy luật, duy ý chí thì chỉ có thể đạt đựoc những mục tiêu trước mắt nhưng sẽ không bền vững. Sử học bao giờ cũng là sự phản chiếu nền chính trị đương thời.
Trong nhận thức ấy, xin đừng trách nền sử học một thời đã từng lên án nhà Nguyễn với những đánh giá mà ngày nay ta thấy thiếu sự công bằng. Cũng như xin đừng lên án sử nhà Nguyễn gọi Tây Sơn là giặc, sử nhà Lê gọi nhà Hồ hay nhà Mạc là “nguỵ triều” hay “nhuận triều”...
(Ai lên thăm ngôi đền Thượng ở Lào Cai thờ Đức Thánh Trần ngay gần biên giới đến nay vẫn thấy có những người bên kia biên giới sang cúng lễ vì một thời, trong tâm thức người Trung Hoa vẫn gắn bó với cái gốc tích Hán tộc mà coi các triều Nguyên hay Thanh là nỗi nhục, và Đức Thánh Trần đã từng đánh bại quân Nguyên. Nhưng bây giờ tâm thức “Đại Hán” đã thay bằng “Đại Trung Hoa” nên họ lại rất tự hào về hai triều đại này, cứ xem phim Trung Quốc thì thấy…)
Rõ ràng, nhận thức lịch sử cũng thay đổi cùng thời gian, mà động cơ hay động lực thay đổi chính là do đời sống đương đại đòi hỏi. Suốt thời nước ta bị Pháp đô hộ, thì Quốc sử quán của nhà Nguyễn vẫn tiếp tục viết Đại Nam thực lục để ghi nhận và bảo vệ chế độ của mình.
Còn sử gia người Pháp (mà đôi khi ta “vơ đũa cả nắm” là sử gia thưc dân) đương nhiên nhìn nhận sự cai trị của người Pháp là một công cuộc khai sáng văn minh. Những người viết sử yêu nước từ cụ Phan Bội Châu (Việt Nam phong quốc sử) đến Nguyễn Ái Quốc (Diễn ca Lịch sử nước ta) đều coi đó là vũ khí tuyên truyền và tập hợp lực lượng cách mạng, lên án đế quốc và phong kiến.
Nhà giáo dạy sử nổi tiếng là Trần Trọng Kim trong “Việt Nam sử lược” nhắc đến những điểm sáng trong sách của ông như “đề cao vai trò của Quang Trung và nhà Tây Sơn” vào thời điểm nhà Nguyễn tuy không còn là một triều đại tự chủ nhưng vẫn hiện diện trong bộ máy cai trị thuộc địa. Nhưng rồi chúng ta cũng biết rằng, trong vòng xoáy của những biến cố chính trị, chính tác giả cuốn sách có giá trị này cũng lựa chọn một thế đứng cho mình…
Chính vì thế phải thấy sự nhận thức lịch sử phản ảnh trong chủ đề đánh giá các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn cũng phản ảnh đời sống chính trị của đất nước. Nó vừa là kết quả nhận thức lịch sử, trước hết của giới sử học, vừa là những thay đổi trong nhận thức của toàn xã hội, bắt nguồn từ nhu cầu của chính đời sống hiện tại, của một thời đại lịch sử mới- hội nhập để phát triển.