Tranh chấp hải phận biển Đông và chủ quyền HS-TS: thực trạng và phương cách giải quyết - Diễn đàn X-cafe
Diễn đàn X-Cafe


Tranh chấp hải phận biển Đông và chủ quyền HS-TS: thực trạng và phương cách giải quyết


Bài tham luận của Nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn trong buổi hội luận "Hoàng Sa-Trường Sa-Biển Đông, thực trạng và giải pháp" ngày 22/09/2008. Xin mời độc giả viếng thăm trang nhà của ông Trương Nhân Tuấn tại www.thongluan.org.
Lời Tác giả: Bài này sẽ không nói, hay sẽ chỉ đề cập sơ lược, về lịch sử chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì lẽ đã có nhiều tác phẩm hay bài nghiên cứu cống hiến vào việc này. Hiện nay mọi người có thể tham khảo một cách dễ dàng các tác phẩm, các bài viết này trên mạng internet hay trong các nhà sách. Chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được thiết lập một cách rõ rệt và đầy đủ. Bài viết nhỏ này chỉ nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát về tình trạng tranh chấp hiện nay giữa Việt Nam và các nước, gồm Trung Quốc, Mã Lai, Phi Luật Tân, Brunei và Đài Loan về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, về hải phận biển Đông; đồng thời thử phác họa một giải pháp phân chia (hay một thái độ) có lợi nhất cho Việt Nam, được chấp nhận bởi cộng đồng thế giới.

Cách thức tiếp cận của chúng tôi trước hết chia vấn đề thành nhiều phần độc lập với nhau, có thể giải quyết riêng rẽ cho từng trường hợp một. Việc tranh chấp giải quyết bằng phương tiện hòa bình, trên căn bản luật quốc tế về biển 1982 và Qui tắc ứng xử biển Đông 2002. Bài viết này gồm hai phần:

- Phần 1: Tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Bài toán Trung Quốc. Phân chia hải phận biển Đông (từ cửa vịnh Bắc Việt cho tới ngoài khơi giữa đảo Hải Nam và các tỉnh miền Trung Việt Nam)

- Phần 2: Tranh chấp giữa các nước về chủ quyền các đảo Trường Sa :
- Giữa Việt Nam và Trung Quốc
- Giữa Việt Nam và Phi Luật Tân
- Giữa Việt Nam và Mã Lai
- Giữa Việt Nam và Đài Loan, nếu việc giải quyết có lợi hơn cho Việt Nam trong trường hợp Trung Quốc và Đài Loan đứng chung một bên.


Hiệu lực các đảo Trường Sa theo luật Biển 1982. Các trường hợp chồng lấn, cách giải quyết vấn đề chồng lấn. Các phương án.

Phần 1: Tranh chấp Việt Nam – Trung Quốc về chủ quyền Hoàng Sa

Tìm hiểu lịch sử tranh chấp tại Hoàng Sa là tìm hiểu lịch sử xâm lăng của Trung Quốc tại một vùng đảo đã thuộc về Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước.

Ta có có thể chia ra làm ba thời kỳ chính: 1909-1954 là thời kỳ Pháp thuộc. Thời kỳ 1954-1975 Việt Nam Cộng Hòa và từ 1975 đến hôm nay thời kỳ CHXHCNViệt Nam. Các thời điểm quan trọng: năm 1946 Trung Quốc chiếm nhóm An Vĩnh. Năm 1974 dùng quân sự xâm chiếm toàn bộ Hoàng Sa.

Về phương diện bằng chứng lịch sử, Trung Quốc đã không đưa ra được bất kỳ bằng chứng nào để chứng minh chủ quyền của họ ở quần đảo Hoàng Sa ngoài những sử liệu bị sửa đổi, những lý lẽ mơ hồ qua những địa danh bịa đặt hoặc thay đổi.

1/ Có thể giải quyết tranh chấp Hoàng Sa bằng một trọng tài quốc tế?

Đây sẽ là việc rất khó thực hiện trong thời điểm hiện tại. Đã hai lần trong quá khứ Trung Quốc từ chối đề nghị của Pháp quốc việc đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa ra một trọng tài phân xử năm 1932 và năm 1947.

- Thời điểm 1932 về trước, lý lẽ của Trung Quốc đưa ra để tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa với Pháp là vì Việt Nam trước kia là chư hầu của Trung Quốc.

Lý lẽ này không vững vì vì hai lý do: Hiệu quả hiệp ước 1874 và tập quán quốc tế.

Hiệp ước 1874 (và hiệp ước 1884 sau đó) tuyên bố chấm dứt quan hệ thuợng quốc – chư hầu giữa Việt Nam với Trung Quốc. Việt Nam là một nước độc lập (khoản II) thần phục nước Pháp.

Tập quán quốc tế không công nhận các lý lẽ tương tự (thuợng quốc – chư hầu). Trường hợp tranh chấp Anh và Pháp về chủ quyền các đảo nhỏ Minquiers và Ecréhous thuộc vùng biển Normandie. Pháp đưa ra lý do là các lãnh chúa vùng này trước kia thần phục Pháp do đó các đảo này thuộc Pháp. Tòa án bác bỏ lý do này và chủ quyền các đảo thuộc về Anh.

- Năm 1947 chính phủ Tưởng Giới Thạch từ chối đề nghị của Pháp việc đưa ra một trọng tài phân xử việc Trung Quốc chiếm trái phép các đảo Hoàng Sa. Trung Quốc từ chối đề nghị này. Việc này cũng dễ hiểu vì Trung Quốc không có lý lẽ mới. Trung Quốc chiếm các đảo Hoàng Sa đã vi phạm các qui ước của Hội Nghị Caire 1943.

- Trong những lần tranh cãi với Pháp, Trung Quốc cũng đưa ra lý lẽ là công ước 1887 đã nhượng các đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc vì các đảo này ở phía đông của kinh tuyến Paris 105° 43’. Nhưng Trung Quốc đã diễn giải sai điều ước này của công ước 1887. Công ước 1887 chỉ phân định biên giới giữa Bắc Kỳ và các tỉnh Hoa Nam (Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam) mà thôi. Nó không có ảnh hưởng sang Trung Kỳ hay các tỉnh khác của Trung Quốc.

Cũng có lần Trung Quốc tuyên bố bằng công hàm ngoại giao là các đảo Hoàng Sa tạo thành biên giới phía cực nam của Trung Quốc (tức không bao gồm Trường Sa).

Tóm lại, từ 1932 trở về trước Trung Quốc chỉ đưa ra lý do thuợng quốc - chư hầu để dành Hoàng Sa với Pháp.

Đến năm 1949 đưa ra một số lý lẽ do việc áp dụng sai và diễn giải sai các qui ước của Hội Nghị Caire 1943 và công ước 1887.

Điểm ghi nhận là năm 1949 Trung Quốc công bố bản đồ « chín gạch » xác định « nội hải » của Trung Quốc. Lý lẽ đưa ra biện luận cho việc này là vùng biển và các đảo trong vùng thuộc về Trung Quốc vì các đảo này do người Trung Quốc « khám phá ». Lý lẽ này càng không đứng vững vì không nước nào ghi nhận sự « khám phá » của Trung Quốc tại đây.

Nhưng từ khi ông Hồ Chí Minh lập nước Việt NamDCCH thì các lý lẽ về chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa cũng như biển Đông lại mạnh hơn.

Theo tài liệu của bộ ngoại giao Trung Quốc công bố, ngày 15 tháng 6 năm 1956, ông Ung Văn Khiêm, lúc đó là thứ trưởng bộ ngoại giao, tuyên bố : « theo những tài liệu mà Việt Nam hiện có, những quần đảo Tây Sa (Xisha) và Nam Sa (Nansha), trên quan điểm sử học, thì thuộc về Trung Quốc ». Tài liệu này cũng ghi thêm một chi tiết khác, ông Lê Lộc, chủ tịch lâm thời Châu Á Sự Vụ, cũng có mặt lúc đó, đã nói thêm rằng: « trên quan điểm lịch sử, các quần đảo Xisha và Nansha đã thuộc về Trung Hoa từ thời nhà Tống »

Tiếp theo, ngày 14-9-1958, ông Phạm Văn Đồng đại diện quốc gia Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) gởi công hàm công nhận những đòi hỏi của Trung Quốc về vấn đề lãnh hải.

Nhưng về phương diện pháp lý, những bằng chứng này cũng không có giá trị vì VNDCCH đã « cho » Trung Quốc cái mà VNDCCH không có.

Tóm lại, không có lý do gì mà Trung Quốc lại đưa việc này ra một tòa án quốc tế phân xử. Trung Quốc có rất ít xác suất để thắng trong khi tầm quan trọng của Hoàng Sa và Trường Sa lại quá lớn. Trung Quốc áp dụng chiến thuật « tầm ăn dâu » lần hồi chiếm đảo, lấn biển của Việt Nam mà Việt Nam không làm được gì. Việt Nam vừa yếu, vừa há miệng mắc quai, tuyên bố của người ta rồi làm sao nói ngược lại là của mình? Đôi lúc Trung Quốc cũng nhượng bộ vì Việt Nam phản đối mạnh, có thể làm liều.

Vì thế Trung Quốc chăm chú củng cố thế lực của mình. Từ 1949 đến nay Trung Quốc luôn leo thang vũ trang. Những năm gần đây, nại cớ là để « thống nhất Đài Loan », Trung Quốc đẩy mạnh việc hiện đại hóa quân đội của họ, nhất là hải quân. Những khám phá gần đây về căn cứ bí mật tại Tam Á, cực nam đảo Hải Nam, cho thấy tham vọng của Trung Quốc tại vùng Đông Nam Á rất lớn.

Họ sẽ chiếm biển Đông cũng như các đảo Hoàng Sa (đã xong) và Trường Sa bằng vũ lực hoặc bằng áp lực. Chúng ta nghiên cứu Trung Quốc là cũng để thử tiên đóan thời điểm mà Trung Quốc tấn công Việt Nam là khi nào và các áp lực này thể hiện như thế nào?

Mặt khác, ta cũng nhận thấy là phía Việt Nam cũng không muốn đưa ra tòa án quốc tế để phân xử. Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng về việc này. Một tòa án phân xử chỉ có thể thành hình nếu có đồng thuận của hai bên, nhưng ít nhất phải có một bên lên tiếng yêu cầu trước. Tại sao Việt Nam không lên tiếng?

Giả thuyết có thể là lãnh đạo Việt Nam trong quá khứ đã có những ký kết mật với Trung Quốc, nhượng các đảo này cho Trung Quốc. Việt Nam lâm vào thế kẹt vì không thể hủy bỏ một « mật ước » (vì nó chưa công bố, mà chưa công bố thì làm sao hủy bỏ? Nhưng muốn hủy bỏ cũng không dễ vì việc gì cũng có luật của nó).

Như thế sẽ không có nhiều hy vọng vấn đề Hoàng Sa được giải quyết bằng một trọng tài quốc tế, là phương pháp công bằng nhất, có lợi nhất cho dân tộc Việt Nam.

Ta thấy rõ rệt, trong cuộc tranh chấp có 3 bên: một bên Trung Quốc, một bên Đảng CSVN và một bên là dân tộc Việt Nam. Trung Quốc sẽ vì quyền lợi của nước họ. Đảng CSVN cũng vậy, họ vì quyền lợi riêng tư của họ. Thực tế trong quá khứ làm cho chúng ta không thể hy vọng đảng CSVN sẽ vì quyền lợi tổ quốc trong tương lai.

Hiện nay Trung Quốc đã xây dựng lại một số đảo Hoàng Sa, cho xây phi trường, làm công sự chiến đấu, làm cơ sở cho tầu ngầm. Mặt khác, Trung Quốc cũng đã khai thác tài nguyên trong vùng biển Hoàng Sa, mặc dầu vùng này còn đang trong vòng tranh chấp, hải phận chưa được phân định. Tệ hơn, vì do cẩu thả, kỷ thuật kém cỏi, các dàn khoan của Trung Quốc luôn bị hư hỏng làm chảy dầu ô nhiễm biển Đông. Nhưng phía chịu thiệt hại nhiều nhất là người dân Việt Nam. Nhiều lúc dầu tràn lan rộng nhiều trăm câu số, từ Thanh Hóa cho đến Phan Thiết, gây ô nhiễm cho bờ biển Việt Nam và làm thiệt hại cho ngư dân Việt Nam. Nhà cầm quyền Việt Nam chỉ lên tiếng chiếu lệ.

Ta thấy tình trạng Hoàng Sa để càng lâu càng khó nhưng trước mắt phía Việt Nam hoàn toàn bế tắt, không có giải pháp. Nhà nước CSViệt Nam đào nhiệm từ lâu, vào ngày 14-9-1958.

2/ Bài toán giữ nước cho các thế hệ Việt Nam tương lai.

Vừa sau khi tuyên bố lập quốc năm 1949 thì Trung Quốc cũng cho công bố tấm bản đồ « 9 gạch », giống như cái « lưỡi bò », tuyên bố chủ quyền của họ ở tại biển Đông, chiếm 80% diện tích biển Đông. Nhiều nơi đường vạch chỉ cách khoảng 50-100km bờ biển Việt Nam, Brunei, Sarawak và Phi Luật Tân.

Một lý do ngớ ngẩn mà Trung Quốc đưa ra trước quốc tế chứng minh biển này thuộc Trung Quốc đó là xưa nay người ta gọi đó là biển Trung Quốc (mer de Chine). Nói vậy thì biển Ấn Độ là của Ấn Độ, vịnh Mexico là của Mễ, biển Na Uy là của Na Uy, biển Groenland là của Groenland v.v… Đương nhiên các nước trong vùng phản đối mạnh. Vì thế biển này được mang nhiều tên khác nhau: Việt Nam thì gọi là biển Đông, Phi gọi là biển Tây, Mã gọi là biển Bắc.

Nguyên nhân của việc đòi hỏi phi lý này đến từ tham vọng bành trướng của Trung Quốc. Nếu có một cái nhìn khái quát về lịch sử Trung Quốc ta có thể kết luận rằng dân tộc Hán là một dân tộc mà chủ nghĩa bành trướng có từ trong xương trong máu.

Mỗi thời họ có một chủ trương, một phương pháp bành trướng khác nhau.

Tưởng Giới Thạch có tuyên bố về « không gian sinh tồn » của Trung Quốc như sau : « le territoire de l’Etat chinois est délimité par les besoins de son exitance et par les bornes de sa culture », lãnh thổ của Trung Quốc định nghĩa theo họ Tưởng là được xác định bằng dấu ấn văn minh của dân tộc này cũng như bất kỳ những gì cần thiết để dân tộc này hiện hữu. Như thế « không gian sinh tồn » bao gồm hầu hết đất đai, tài nguyên các nước Đông Nam Á. Các học giả Tây Phương gọi Trung Quốc là một « Empire sans voisin », một đế quốc không có nước láng giềng. Gọi vậy vì Trung Quốc có khả năng « đồng hóa » rất mạnh.

Tàu Mao hay Tàu Tưởng ta thấy họ có cùng một chủ trương. Mục tiêu trước mắt của họ là biển Đông và toàn thể vùng Đông Nam Á. Phương pháp của họ là mua chuộc kinh tế, vận động (hay gây nhiễu loạn) chính trị và áp lực quân sự.

Chủ trương rõ rệt nhất của Trung Quốc trong những thập niên qua là không bao giờ muốn Việt Nam thống nhất, giàu mạnh, hòa giải dân tộc. Họ muốn dân tộc Việt Nam luôn chia rẻ, hận thù lẫn nhau. Việt Nam yếu Trung Quốc mới có thể thực hiện ước mộng bành trướng của mình.

Trước sự đào nhiệm của nhà nước CSVN, trước áp lực liên tục về mọi mặt của Trung Quốc, bài toán giữ nước của chúng ta, những người Việt tay trắng (hay trắng tay) không có tất sắt, chỉ còn trí tuệ và tấm lòng. Trong lúc vấn đề Hoàng Sa càng để lâu càng có lợi cho phía Trung Quốc.

Vấn đề Hoàng Sa không thể « giữ nguyên trạng ». Chỉ cần một hai thập niên nữa, với sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt, Trung Quốc không những chiếm thêm Trường Sa mà còn làm chủ cả biển Đông. Để giữ được một tư thế pháp nhân sau này sau này, một mặt phía Việt Nam phải thường xuyên khiếu nại chủ quyền của mình và phản đối mọi hành động của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Đây là những yêu cầu tối thiểu nhất đến nhà cầm quyền Việt Nam hôm nay. Mặt khác, bằng mọi cách, vận động chính trị, ngoại giao, kinh tế… làm thế nào để các nước công nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại Hoàng Sa, hoặc ít ra ủng hộ Việt Nam đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa ra trước một tòa án quốc tế. Nếu nhà nước Việt Nam hiện tại muốn chuộc bớt lỗi lầm của đảng CSVN trong quá khứ, muốn lập công trước quốc dân, thì phải làm cho bằng được những việc đó.

3/ Phân định hải phận từ cửa vịnh Bắc Việt đến ngoài khơi Đà Nẵng

Hải phận trong vịnh Bắc Việt đã được phân định theo Hiệp Ước phân định Vịnh Bắc Bộ ngày 25 tháng 12 năm 2000. Kết quả của việc phân định đã làm cho Việt Nam thiệt hại trên 11.000mk² biển. Có hai nguyên nhân đưa đến thiệt hại to tác này:

(1) Không tôn trọng tinh thần của công ước 1887. Công ước này đã phân định vịnh Bắc Việt, ranh giới là đường kinh tuyến đông Paris 105° 43’. Nhà cầm quyền CSVN từ lâu đã chủ trương việc này vì nó phản ảnh thực tế lịch sử giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tập tài liệu « Sự Thật Về .. » do nhà XB Sự Thật năm 1979 đã xác định việc này. Nhưng không biết vì lý do nào, những nhà lãnh đạo Việt Nam sau này, đã phủ nhận lập trường có lợi cho Việt Nam và chấp nhận yêu sách của Trung Quốc.

(2) Nguyên nhân thứ hai do việc phân định không tôn trọng luật quốc tế về biển 1982. Ta thấy mọi giới điểm xác định đường biên giới đều lấn sang Việt Nam. Hai bên không phân chia theo lối xác định đường trung tuyến như các điều ước của luật biển 1982 ấn định, việc này đã nhượng cho Trung Quốc vũng Oanh Ca, là vùng nước giữa vịnh, là nơi các chuyên gia quốc tế xác nhận triển vọng có mỏ dầu khí quan trọng. Điểm bất bình thường khác, các đảo của Việt Nam trong vịnh như đảo Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ thì không được xem là đảo như định nghĩa của luật biển 1982, chúng không những không có vùng ZEE mà còn lãnh hải 12 hải lý cũng không được tôn trọng. Đây là trách nhiệm của đảng CSViệt Nam, họ sẽ phải trả lời trước quốc dân và trước lịch sử về việc nhượng biển phi lý cho Trung Quốc.

Như thế khởi điểm cho việc phân định hải phận biển Đông vùng Hoàng Sa là từ cửa vịnh Bắc Việt cho đến vùng biển giữa đảo Hải Nam và các tỉnh miền Trung Việt Nam. Trên tinh thần luật biển 1982, mỗi bên có quyền mở rộng vùng biển ZEE của nước mình đến 200 hải lý tính từ đường cơ bản. Trường hợp vùng biển phân định có chiều rộng nhỏ hơn 400 hải lý thì việc phân chia sẽ dựa trên nguyên tắc « lấy đường trung tuyến » giữa hai bờ biển, ở đây là đảo Hải Nam và bờ biển các tỉnh miền Trung của Việt Nam.

Nhưng khó khăn cho phía Việt Nam là Trung Quốc đã công bố bản đồ lãnh hải năm 1996, xác định vùng biển Hoàng Sa, đòi hỏi ZEE 200 hải lý cho các đảo ở đây. Đây là việc không thể chấp nhận cho Việt Nam, một mặt Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam mà Trung Quốc xâm lăng bằng bạo lực, mặt khác các đảo ở đây đều nhỏ hơn các đảo Bạch Long Vĩ và Cồn Cỏ rất nhiều, chúng phần lớn chỉ là các rạng san hô, bãi cát nhấp nhô trên mặt biển. Các đảo Bạch Long Vĩ và Cồn Cỏ không có lãnh hải và ZEE thì các đảo này đương nhiên không thể có.

Để giải quyết tình trạng này có hai trường hợp : 1/ phân chia hải phận và bỏ qua sự hiện hữu của các đảo Hoàng Sa. 2/ Giữ nguyên trạng biển Đông ; chờ đợi một giải pháp quốc tế cho Hoàng Sa.

Trường hợp 1 chỉ có thể thực hiện nếu Trung Quốc đồng ý. Trường hợp 2 chỉ có thể thực hiện nếu Trung Quốc không khai thác bừa bãi trong vùng biển.
Nhưng không có dấu hiệu gì cho thấy Trung Quốc sẽ giải quyết bằng các phương cách như thế. Tình trạng họ đang khai thác bừa bãi ở vùng biển này cho ta thấy việc đó. Vì thế Việt Nam cần phải « quốc tế hóa » vấn đề Hoàng Sa. Quốc tế hóa có nhiều ý nghĩa, mỗi người dân có thể thực hiện trong khả năng của mình. Về phía nhà cầm quyền thì phải vận động cho các nước công nhận chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, hoặc ít nhất, phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc tại đây. Sau đó là đưa nội vụ ra trước một tòa án quốc tế.


Phần 2: tranh chấp giữa các nước về chủ quyền các đảo Trường Sa

Những tranh chấp này cũng có thể giải quyết riêng rẻ từng trường hợp một, nhưng các nước có cùng quyền lợi (hay cùng bị một đe dọa) có thể đứng chung một bên để giải quyết với bên kia mạnh hơn.

Quần đảo Trường Sa – Spratleys, ngoài tên Việt Nam và tên quốc tế, còn được gọi qua nhiều tên khác nhau: Nansha Gunto, tức Nam Sa Quần Ðảo (Trung Hoa), Kalayaan (Phi Luật Tân), Sinnan Gunto, tức Tân Nam Quần Ðảo (Nhật Bản)… Trường Sa cũng có một vài tên gọi ít người biết là South Sandy islands, Freedomland, Kingdom of Humanity. Những nhà nghiên cứu thềm lục địa gọi vùng nầy là « The Reed bank Area ».

Ðây là một tập hợp nhiều đảo (île), hòn (îlot), đá san hô (récif), bãi ngầm (haut-fond), dải cát (banc de sable), bãi san hô (caye)... trải dài từ vĩ tuyến 6° đến 12° vĩ độ Bắc và từ kinh-tuyến 111° đến 118° kinh độ Ðông. Chưa có một cuộc nghiên cứu sâu rộng về quần đảo Trường Sa vì thế số lượng chính xác các bãi ngầm, bãi cạn, cồn nổi, cồn chìm, đá lớn, đá nhỏ, dải cát… chưa được xác định rõ rệt. Ðây là một quần đảo tọa lạc trên một vùng biển có diện-tích rất lớn, chiều Bắc Nam dài hơn 500 Km, chiều Ðông Tây dài hơn 1.000 km, chiếm khoảng 160.000 km2. Khoảng cách giữa các đảo đôi khi khá lớn. Tâm-điểm của quần đảo cách đều bờ biển hai nước Việt Nam và Phi Luật Tân : cách Palawan 400 km, cách Cam-Ranh 450 km, cách Sabah 500 km, cách Yu-lin (Hải Nam) 1.100 km, cách Hồng-Kông 1.400 km, cách Tân Gia Ba 1.500 km và cách Cao Trung (Ðài Loan) 1.700 km. Chỉ khoảng 15 đảo (iles) ở đây là có cây cỏ thực vật và giếng nước ngọt, có thể cho loài người trú ngụ. Hầu hết các đảo nầy rất nhỏ, lớn nhất diện tích không quá 43 hectares, phần lớn có diện tích vài trăm mét vuông đến vài ngàn mét vuông. Ðộ cao trung bình so với mặt biển từ 2 đến 6 mét, đa số không có cây lớn. Quần đảo nầy, cũng như quần đảo Hoàng Sa, đều do san hô cấu tạo thành.

1/ Tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc

Năm 1958, Trung Quốc cho công bố bản đồ xác định lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, bao gồm tất cả các đảo Đài Loan, quần đảo Senkaku (Điếu Ngư), Pescadores (Bành Hồ), Pratas (Đông Sa), Macclesfield Bank (Trung Sa), Paracel (Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt-Nam) và Spratley (Nam Sa, tức Trường Sa của Việt Nam). Ông Phạm Văn Đồng gởi công hàm công nhận tuyên bố này của Trung Quốc.

Tháng 3 năm 1988, Trung Quốc cho tàu đổ bộ vào chiếm một số rạng đá nhỏ gồm rạng đá Chữ Thập (Recif Croix de Feu – Fiery Cross), đá Kennan (Chihua), đá Gát Ma… bắn chìm 3 tàu Việt Nam, gây thiệt mạng 74 chiến sĩ. Nam 1992 chiếm thêm các đá Ba Đầu và đá Lạc. Năm 1995 chiếm đá Vành Khăn. Tổng số đảo chiếm đóng là 9.

Nhìn chung các « đảo » do Trung Quốc kiểm soát thực sự chỉ là những rạng san hô nhỏ bé, có cái bị ngập nước, có cái lấp ló trên mặt nước, không có cái nào có thể gọi là « đảo » theo như định nghĩa của Luật Biển 1982. Ðây chỉ là những hòn đá. Phần 3 của điều 121 Luật biển có ghi: « Les rochers qui ne se prêtent pas à l'habitation humaine ou à une vie économique propre, n'ont pas de zone économique exclusive ni de plateau continental. (Những bãi đá (cồn đá) mà người ta không thể sinh sống, hoặc tạo một nền kinh tế tự tại thì không có vùng kinh tế độc quyền cũng như không có thềm lục địa).

Nhưng thái độ của Trung Quốc hết sức ngang ngược. Họ không hề có một chứng tích gì về chủ quyền của Trung Quốc ở Trường Sa. Năm 1992 Trung Quốc ký với Công ty Crestone của Hoa Kỳ, cho thăm dò khai thác một lô rộng 25.500 km2 trên thềm lục địa Việt Nam, cách đường cơ bản 84 hải lý và cách Hải Nam 570 hải lý. Ngày 10/6/1994 Trung Quốc tuyên bố lô Thanh Long, phía Tây khu vực Tu Chính, cách đảo Hòn Hải (nằm trên đường cơ bản của Việt Nam) 90 hải lý cũng thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Lý do của Trung Quốc là vùng này là vùng phụ cận của quần đảo Trường Sa.

2/ Việt Nam với Đài Loan

Đài Loan chiếm đảo Ba Bình từ năm 1956 ( tài liệu TH Dân Quốc nói vào năm 1949). Đây là đảo lớn nhất Trường Sa, có cây cối và nước ngọt. Việc đáng ghi nhận, tháng 2 năm 1992, Trung Quốc ra Luật Lãnh Hải Trung Quốc (Chinese Territorial Waters Law) qui định rõ các đảo và quần đảo nói trên thuộc Trung Quốc. Ngày 21 tháng 5 cùng năm, Đài Loan ra luật lãnh hải có nội dung tương tự. Trong vụ đánh chiếm các vị trí của Việt Nam tại bãi Chữ Thập, Trung Quốc đã được quân Đài Loan đóng tại đảo Ba Bình giúp đỡ về vật chất như nước uống.

Như thế lập trường về biển Đông của Đài Loan là lập trường của Trung Quốc.

3/ Tranh chấp giữa Việt Nam và Phi Luật Tân

Lý ra Phi Luật Tân không có thẩm quyền gì với các đảo Trường Sa. Nước này bị ràng buộc do hiệp ước 1898 ký kết giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha. Hiệp ước này qui định Phi được giao cho HK và HK xác định vùng biển của đảo quốc này, theo đó vùng biển của Phi không có một hòn đảo nào thuộc Trường Sa. Tham vọng của Phi bắt đầu từ năm 1951 khi tổng thống xứ này là ông Quirino rằng quần đảo Spratly (tức Trường Sa) thuộc về Phi ở gần nước Phi. Lý lẻ này không được luật pháp quốc tế chấp nhận, có nhiều trường hợp đã xảy ra trên thế giới (như quần đảo Malouines thuộc Anh nhưng nó ở cận vùng biển của Á Căng Đình).

Từ năm 1968 đến 1975, Phi cho quân đi chiếm một số đảo có cây cối và nước ngọt như các đảo Thị Tứ, Loai Ta,Vĩnh Viễn, Song Tử Đông…

Năm 1979, theo một nghị quyết do TT Marcos ký, toàn bộ quần đảo Trường Sa là lãnh thổ của Phi, ngoại trừ một vài đảo, đặt tên là Kalayaan.

Đến năm 1980, Philippines đã chiếm lĩnh 8 đảo đá, xây dựng 2 sân bay nhỏ, 3 căn cứ lục quân, và khoanh vùng biển 410.000 km2 ở miền Đông của Biển Đông là lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Philippines Vùng đòi hỏi của Phi được xác-định qua đa-giác mà các đỉnh được xác-định qua tọa-độ :

- 7° 40’ Bắc – 116° 00’ Ðông
- 7° 40’ Bắc – 112° 10’ Ðông
- 9° 00’ Bắc – 112° 10’ Ðông
- 12° 00’ Bắc – 118° 00’ Ðông
- 10° 00’ Bắc – 118° 00’ Ðông.

Hiện nay Tổng Thống Aroyo dự trù sẽ thông qua một đạo luật mới, trước tháng 5 năm 2009, nhằm mở rộng vùng biển của nước này ra đến các quần đảo Trường Sa.

Phi cũng đã ký kết một hiệp ước với Trung Quốc nhằm nghiên cứu và thăm dò vùng biển năm 2004, gián tiếp công nhận sự có mặt hợp pháp của Trung Quốc tại vùng biển này. Đến năm 2005 thì Việt Nam cũng nhảy vào ký kết hiệp định thăm dò vùng biển với Phi và Trung Quốc. Điều này cho thấy sự thất thế của Việt Nam trước những liên minh giữa Trung Quốc và các nước khác.

Tuy vậy, vấn đề tranh chấp giữa Việt Nam và Phi không quá gay gắt, tất cả đều có thể giải quyết. Các đảo của Phi hiện nay đều thuộc Việt Nam và Việt Nam có đủ cơ sở bằng chứng để thắng kiện Phi nếu việc này ra trước một tòa án quốc tế.

4/ Tranh chấp Việt Nam và Mã Lai:
Năm 1983 Mã Lai lên tiếng dành chủ quyền Trường Sa, năm 1993 chiếm đảo Hoa Lau, Kỳ Vân và Kiệu Ngựa của Việt Nam. Mã Lai cho đổ đá xây dựng đảo Hoa Lau này thành một đảo nhân tạo, có sân bay quan trọng.

5/ Đề nghị phương hướng giải quyết

(Chú ý: bài này đã công bố tại :
http://www.thongluan.org/vn/modules....ticle&sid=3097, dưới đây chỉ tóm tắt lại. Mời độc giả X-cafevn.org tham khảo bài viết nói trên để biết thêm chi tiết)

Việt Nam phải làm các việc sau :

1/ Việt Nam tôn trọng các công ước quốc tế mà Việt Nam có ký kết. 2/ Vận động quốc tế ủng hộ lập trường về biển của Việt Nam tại biển Đông. 3/ Trong trung hạn là khai thác vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam đã được quốc tế công nhận (hay không phản đối). 4/ Về dài hạn là củng cố quốc phòng, liên minh chiến lược với bạn bè quốc tế có cùng chung quyền lợi để đối trọng với Trung Quốc. 5/ Tiến đến việc đưa vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa ra tòa án quốc tế.

1/ Việt Nam cần chinh phục cảm tình các nước bằng một thái độ gương mẫu của một quốc gia biết tôn trọng và có trách nhiệm với cộng đồng thế giới. Việc này biểu hiện qua việc tôn trọng các bộ luật, các tiêu chuẩn quốc tế mà Việt Nam có ký kết. Trước tiên là Luật Quốc Tế về Biển 1982 và Qui Tắc Hành Sử Biển Đông 2002, hai công ước quốc tế mà Việt Nam long trọng ký kết. Nội dung của Qui Tắc Hành Sử Biển Đông 2002 yêu cầu các bên không dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp, các bên tránh làm các việc có thể thay đổi « nguyên trạng » tình hình các đảo, ngưng khảo sát và khai thác v.v… Tôn trọng nội dung của nó là Việt Nam khôn khéo sử dụng công pháp quốc tế để bảo vệ mình trước sự bành trướng hung hãn của Trung Quốc. Nhưng Việt Nam cũng nên đứng đắn tôn trọng các tiêu chuẩn về nhân quyền mà bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền định nghĩa. Việt Nam nên chứng minh rằng mình có nhận thức khác với Trung Quốc về vấn đề nhân quyền. Việc này rất có lợi vì nó phù hợp với nguyện vọng của người dân và bạn bè Tây Phương.

2/ Vận động quốc tế công nhận đường cơ bản của Việt Nam.

Hệ thống đường cơ bản của Việt Nam công bố vào tháng 6 năm 1977, được xác định bằng các đường thẳng nối 12 điểm cơ bản từ A0 đến A11, trước khi công ước Montégo Bay 1982 được ký kết. Điểm bắt đầu A0 là điểm xác định chung với Kampuchia sau này, trong vịnh Thái Lan và điểm chấm dứt A11 là đảo Cồn Cỏ, ở cửa vịnh Bắc Việt. Dầu vậy hệ thống đường cơ bản của Việt Nam phù hợp với bộ luật biển 1982. Vào thời điểm đó đã có trên 100 nước công bố luật biển của mình, trong đó có đến 45 nước lấy đường thẳng làm đường cơ bản.

Hệ thống đường cơ bản của Việt Nam, ở một số điểm thì cách bờ quá xa. Thí dụ các điểm A1 cách bờ 56 hải lý, A3 cách 52 hải lý, A4 cách 53 hải lý, A6 cách 74 hải lý… Những điểm này rõ ràng « không bình thường », nhưng chiếu theo tinh thần điều 7 của bộ luật biển 1982 thì không hề mâu thuẩn. Mặt khác, tập quán quốc tế cho thấy có nhiều trường hợp đường cơ bản còn cách xa bờ hơn cả Việt Nam. Chỉ nói các nước trong vùng, trường hợp Mã Lai, đường cơ bản nưóc này có nơi cách bờ đến 85 hải lý. Trường hợp Miến Điện, nước này vạch một đường cơ bản dài 220 hải lý, có nơi cách bờ đến 120 hải lý. Riêng Thái Lan thì đường cơ bản cách bờ có nơi đến 60 hải lý. Như thế thì đường cơ bản của Việt Nam không phải là một trường hợp đặt biệt, phải đặt lại vấn đề.

Hệ thống đường cơ bản của Việt Nam vì thế phù hợp với luật biển 1982 và tập quán quốc tế. Tuy nhiên vào thời điểm 1977, do thái độ thù nghịch của Việt Nam đối với thế giới, đã có 10 nước gởi công hàm phản đối Việt Nam về đường cơ bản của Việt Nam. Trong đó có các nước Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Úc, Mã Lai, Tân Gia Ba… Nhưng tình hình hôm nay thuận lợi hơn. Việt Nam mở cửa giao thiệp với bạn bè năm châu, không còn là « mũi nhọn xung kích » hung hăng của quốc tế cộng sản do Liên Xô lãnh đạo. Hiện nay Việt Nam đã có quan hệ khá tốt với Hoa Kỳ. Việc quan hệ này sẽ đem lợi lâu dài cho Việt Nam, nhất là mở đường cho Việt Nam có thể khai thác những vùng biển mà từ trưóc đến nay đã bị Trung Quốc cản trở.

Tháng 6 năm 2008 HK và Việt Nam có ra thông cáo chung, theo đó HK « tôn trọng và ủng hộ việc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam ». Sau đó hai tập đoàn ExxonMobil và PetroVietNam đã ký kết việc thăm dò và khai thác vùng vũng Tu Chính – Vũng Mây, là vùng năm 1992 Trung Quốc cho phép hãng Crestone (HK) khai thác. Như thế ta có thể đoán rằng Hoa Kỳ công nhận « lãnh thổ » của Việt Nam với hệ thống đường cơ bản 1977. Nếu không thì vấn đề khai thác của ExxonMobil đã không được xúc tiến.

Việt Nam vì thế mới mạnh dạn phản đối Trung Quốc và dám tuyên bố sẵn sàng dùng mọi biện pháp để bảo vệ các tập đoàn khai thác hợp pháp trên lãnh thổ của Việt Nam. Trung Quốc tức giận lắm nhưng không làm gì được vì tập đoàn khai thác ExxonMobil là của Hoa Kỳ chứ không phải là BP của Anh, dễ bắt nạt. Anh Quốc vì còn nhiều quyền lợi ở Hồng Kông, không dám đương đầu vì sợ thiệt hại kinh tế.

Ngoài ra ý nghĩa lơ lững của sự « ủng hộ » của Hoa Kỳ cũng khiến cho Trung Quốc không dám làm bậy.

Theo tình hình hiện nay, chúng ta có thể lạc quan cho rằng không còn mấy nước còn lý do để phản đối hệ thống đường cơ bản của Việt Nam.

Đối với Thái Lan thì cả hai nước đều có hệ thống đường cơ bản tương đồng, vì thế khó mà phản bác lẫn nhau. Vùng biển giữa hai nước có một vùng chồng lấn khoảng 6.500km². Theo tin trong nước thì Việt Nam nhượng cho Thái Lan 70%, Việt Nam 30%. Nhưng việc tương nhượng này phải được đền bù xứng đáng. Thái Lan có rút lại công hàm phản đối của mình hay chưa?

Đối với Mã Lai thì hệ thống đường cơ bản của nước này có nơi cách bờ biển đến 85 hải lý, vì thế cũng không có lý do phản đối hệ thống đường cơ bản của Việt Nam. Vùng chồng lấn giữa hai nước hiện nay đã được giải quyết theo cách “cộng đồng khai thác”. Mã Lai không còn lý do để làm khó Việt Nam.

Các nước như Anh, Nhật Bản, Pháp, Đức, Úc… không có thiệt hại gì do hiệu quả của đường cơ bản Việt Nam. Việc chống đối từ năm 1977 là do nguyên nhân ý thức hệ hơn là kinh tế. Hiện nay thời thế thay đổi, Việt Nam đã thay đổi và đang trở thành đối tác tốt với các nước này. Việc rút lại các công hàm phản đối chỉ còn là một vấn đề của ngoại giao.

3/ Khi đã có được ủng hộ của các nước về quan điểm hệ thống đường cơ bản, việc này đương nhiên dẫn tới việc công nhận các vùng biển cũng như thềm lục địa của Việt Nam. Bây giờ Việt Nam mới có thể cho đấu thầu khai thác dầu khí trong vùng hải phận kinh tế độc quyền của mình và ưu tiên cho Hoa Kỳ hay các nước đã nhìn nhận hệ thống đường cơ bản của Việt Nam. Đây có lẽ là việc mà Việt Nam đang thực hiện.

Việt Nam cũng nên thiết lập một hồ sơ kéo dài thềm lục địa, đến 350 hải lý, phù hợp với tinh thần của công ước Biển 1982, sau đó nộp cho Commission on the Limits of the Continental Shelf thuộc Liên Hiệp Quốc, trước tháng 5 năm 2009. Ở điểm này Việt Nam có lợi hơn các nước khác trong vùng vì thềm lục địa của Việt Nam lài, là phần kéo dài của lục địa.

Việc làm trên cũng nhằm “vô hiệu hóa” ảnh hưởng các đảo Trường Sa do Trung Quốc chiếm đóng. Việt Nam có lý do để đòi hỏi các đảo này không được hưởng các qui chế đã ấn định trong luật biển 1982. Trường hợp các đảo Cồn Cỏ, Bạch Long Vĩ… không được gì cả là thí dụ.

Đối với Phi và Mã Lai, Việt Nam có đầy đủ hồ sơ chứng minh các đảo mà các nước này chiếm đóng tại Trường Sa là của Việt Nam. Giải pháp cũng sẽ là một trọng tài quốc tế hoặc là một trao đổi mà các bên đều có lợi.

Phần biển Việt Nam do đó sẽ lớn hơn tất cả các nước trong vùng, vì thuận lợi địa lý như chiều dài, do hệ thống đường cơ bản, do thềm lục địa mở ra thuận lợi không có hố sâu chặn lại như các nước khác… Đương nhiên là sẽ không quan trọng bằng nếu như Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam. Nhưng trước mắt Việt Nam có thể khai thác vùng biển của mình đồng thời ngăn chận được tham vọng vô lý của Trung Quốc.

Việc phản đối hay đe dọa của Trung Quốc chắc chắn sẽ có nhưng không còn quan trọng. Lý lẽ của Trung Quốc sẽ là Việt Nam khai thác trên một vùng có chồng lấn với thềm lục địa của các đảo Trường Sa mà Trung Quốc đang đòi chủ quyền. Nhân việc này Việt Nam nên đề nghị Trung Quốc đưa ra một tòa án phân xử. Việc này hoàn toàn bất lợi cho Trung Quốc vì họ không có bằng chứng nào chứng minh chủ quyền của họ ngoài các tuyên bố không có giá trị của các lãnh tụ CSViệt Nam trong quá khứ.

Nếu Trung Quốc khai thác ở Trường Sa thì nước này không tôn trọng luật biển 1982 và Qui Tắc Hành Sử 2002. Trung Quốc không có lý do gì để kéo dài thềm lục địa của họ ra đến đây. Các đảo họ chiếm của Việt Nam thì đang trong vòng tranh chấp, vả lại, các đảo này không thể có vùng kinh tế độc quyền hay thềm lục địa. Việt Nam cần phải liên minh chặt chẽ với Phi, có thể nhượng bộ nước này về chủ quyền ở một số đảo, để thắt chặt liên minh chống Trung Quốc.


4/ Về vấn đề quốc phòng, trước hết là các đảo Trường Sa vẫn còn do Việt Nam kiểm soát thì phải củng cố thêm quân sự. Bộ Quốc Phòng thường xuyên ủy lạo, thăm viếng các chiến sĩ trú đóng tại các đảo. Phải cho các binh sĩ này hưởng một ngạch lương đặc biệt, xứng đáng với sự hy sinh và gian khổ của họ.

Riêng về sự lớn mạnh về quân sự của Trung Quốc, nhất là về phương diện hải quân, Việt Nam là nước nên lo ngại hơn ai hết.

Về phía bắc, Trung Quốc tiếp giáp với Nga, không dễ dàng bành trướng. Phía tây là núi non hiểm trở, sa mạc cằn khô, khí hậu khắc nghiệt. Ở đó có các xứ Trung Á vốn thuộc vùng ảnh hưởng của Nga, ngoài ra còn có Ấn Độ, xứ có thể đối trọng với Trung Quốc, phía tây nam. Phía đông là Đại Hàn và Nhật Bản, hai đồng minh của Hoa Kỳ. Vấn đề bành trướng của Trung Quốc không đặt ra. Chỉ có phía nam, toàn vùng biển Đông và khu vực Đông Nam Á là không gian bành trướng của Trung Quốc. Vị trí của Việt Nam đối với Trung Quốc cực kỳ quan trọng. Không đặt được Việt Nam vào vòng ảnh hưởng của mình thì Trung Quốc sẽ không trở thành một cường quốc đúng nghĩa. Việt Nam vì thế là mục tiêu chính để cho Trung Quốc vũ trang. Vấn đề Đài Loan chỉ là một cái cớ.

Giải pháp cho Việt Nam phải là liên minh chiến lược với các nước có cùng mối lo ngại về sự trổi dậy của Trung Quốc. Việt Nam thực sự mạnh, có liên minh chiến lược với các cường quốc, chắc chắn sẽ « đóng khung » Trung Quốc.

Trung Quốc nên hiểu rằng, nếu chuốc thù gây oán với Việt Nam thì Trung Quốc sẽ vô cùng bất lợi. Việt Nam sẽ luôn luôn là ác mộng, sẽ vĩnh viễn là trở ngại cho mọi phát triển của Trung Quốc trong tương lai. Việc này sẽ đưa Trung Quốc về thời trước 1979. Những hăm dọa qua mọi hình thức đều không có ý nghĩa. Hàng ngàn năm nay, Việt Nam chưa bao giờ « sợ » Trung Quốc cả. Vì thế, Trung Quốc cần thay đổi thái độ, phải tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải lấy lòng Việt Nam. Đây là một thái độ khôn ngoan mà Trung Quốc cần có. Bởi vì Trung Quốc cần Việt Nam mà Việt Nam không hề cần Trung Quốc. Có ý thức như vậy thì Trung Quốc mới hy vọng xưng hùng xưng bá với các nước được.

5/ Vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa chỉ nên giải quyết bằng con đường pháp lý, qua một tòa án quốc tế. Nhưng đó sẽ là việc về lâu dài. Thời gian sẽ không còn là kẻ thù của Việt Nam nữa nếu các điều kiện trên được thực hiện.

Kết luận: Dầu muốn dầu không lãnh đạo CSVN nên ý thức rằng chỉ có “đi” với HK mới giữ được Hoàng Sa và Trường Sa, mới có thể khai thác những gì thuộc về Việt Nam tại biển Đông mà không bị Trung Quốc gây hấn. Bước đầu của ông Nguyễn Tấn Dũng rất đáng được khích lệ. Nhưng chưa đủ.

Việt Nam nên noi gương Đại Hàn, Nhật Bản… để học thái độ đối xử của họ đối với đồng minh HK ra sao. Làm đồng minh HK là một việc rất khó. Quan hệ VNCH và HK ngày xưa không phải là quan hệ đồng minh. Tình trạng căng thẳng Trung Quốc và HK hiện đang âm ỉ, chắc chắn sẽ bộc phát công khai trong vòng 1 thập niên. HK sẽ xem Việt Nam là một đồng minh tốt nếu Việt Nam hội đủ một số điều kiện. HK cần Việt Nam, như HK cần Nhật Bản và Đại Hàn. HK chỉ đòi hỏi Việt Nam phải tôn trọng những quyền cơ bản của người dân và chế độ độc tài công an trị phải được thay thế bằng một chế độ thật sự dân chủ. Chỉ có một chế độ mà trong đó mọi người dân, bất kỳ chính kiến và nguồn gốc, đều có quyền phát biểu, công cuộc giữ nước và dựng nước mới thành công.

Suy ngẫm
Chế độ Toàn Trị có thể xem là chế độ Độc Tài mà đã tiến thêm một bước dài trên con đường độc tài. Thay vì đóng cửa, xoá bỏ những tổ chức xã hội dân sự (như một số chế độ độc tài quân sự đã làm), chế độ Toàn Trị thay thế chúng bằng các tổ chức xã hội dân sự giả hiệu có vẻ giống như trong các chế độ tự do dân chủ, nhằm ngăn cản bất cứ một hành động độc lập nào ngoài vòng kiểm soát của họ xảy ra trong xã hội. Chính vì thế chế độ Toàn Trị còn tồi tệ và độc tài hơn rất nhiều so với những chế độ độc tài thông thường. Không giống như những chế độ độc tài thông thường, chế độ Toàn Trị luôn kiểm soát mọi mặt của cuộc sống trong xã hội. Nó không những buộc con người trong chế độ phải sống như những nô lệ (của nhà nước Toàn Trị) mà còn buộc họ phải sống thường xuyên trong những sự giả dối. Trên hết nó làm cho toàn xã hội băng hoại đến mức độ việc quay trở lại với tự do và dân chủ là gần như không thể.