1. Giới thiệu
Ngày nay Việt Nam đứng trước một ý đồ xâm lấn khổng lồ của Trung Quốc. Để so sánh, có thể nói là ý đồ và những hành động xâm lăng của họ đối với Hoàng Sa, Trường Sa chỉ là một phần nhỏ của ý đồ này. Ý đồ đó là thực hiện ranh giới “lưỡi bò”, chiếm khoảng 75% Biển Đông, để lại trung bình khoảng 5% cho mỗi nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam.
2. Ý đồ lưỡi bò của Trung Quốc
Ý đồ bành trướng có một không hai trong lịch sử hải dương này đe doạ trầm trọng kinh tế, giao thông, quốc phòng và nền độc lập của Việt Nam, không chỉ cho thế hệ chúng ta mà còn cho muôn vàn thế hệ sau. Có thể nói là ý đồ này nguy hiểm không kém gì bất cứ ý đồ xâm lăng nào của Trung Quốc trong 1000 năm qua:
• Ngày nay, có lẽ tương quan lực lượng giữa Việt Nam và Trung Quốc nghiêng về Trung Quốc hơn trong quá khứ.
• Ngày nay, vũ khí hiện đại có nhiều khả năng sói mòn yếu tố con người hơn trong quá khứ.
• Trong chiến tranh trên biển, Việt Nam sẽ không có một số ưu thế thuần tuý.
• Nếu Trung Quốc chiếm đóng toàn bộ Việt Nam, chúng ta có thể đánh đuổi họ. Nếu họ chỉ chiếm đóng một phần, nhất là phần có ít dân cư, thì chúng ta khó giành lại hơn.
• Để thực hiện ý đồ này, Trung Quốc có thể dùng vũ khí nhu cũng như vũ khí cương, và họ đã chứng tỏ là họ sử dụng chiến lược tằm ăn rỗi. Những yếu tố này có thử thách riêng của chúng cho việc chống trả.

"Lưỡi bò", ranh giới trên biển mà Trung Quốc vạch ra cho mình
Tham vọng chiếm 75% Biển Đông của Trung Quốc được thể hiện trên bản đồ lần đầu tiên vào năm 1947, bằng ranh giới lưỡi bò. Năm 1992, Trung Quốc ký hợp đồng thăm dò vùng Tư Chính – Vũng Mây với công ty Crestone. Năm 2007, Trung Quốc quy định là tất cả bản đồ Trung Quốc phải vẽ ranh giới lưỡi bò này. Cũng năm 2007, Trung Quốc áp lực BP phải ngưng hợp tác với Việt Nam trong hai vùng dầu khí Mộc Tinh, Hải Thạch. Năm 2008, Trung Quốc vẽ ranh giới lưỡi bò vào bản đồ rước đuốc Olympic và Paralympic. Cũng năm 2008, Trung Quốc áp lực ExxonMobil không được hợp tác với Việt Nam trong vùng biển hợp pháp của Việt Nam. Một số sự kiện này được phân tích ở:
Đánh giá yêu sách của TQ với ExxonMobil và BP
Những sự kiện trên cho thấy ý chí, sự kiên trì, tích cực, gian hùng và leo thang của Trung Quốc trong việc thực hiện ý đồ lưỡi bò.
Thế nhưng, còn quá ít chúng ta biết về, quan tâm về, hay hành động về ý đồ đó. Các kênh thông tin vẫn chưa đề cập nhiều tới vấn đề này. Năm 2007, phát ngôn viên BNG Việt Nam vẫn còn đặt việc sự kiện BP vào trong khung cảnh tranh chấp Trường Sa, trong khi tranh chấp này không liên quan tới hai vùng Mộc Tinh, Hải Thạch. Những cuộc biểu tình ở Việt Nam và khắp thế giới trong năm vừa qua phần lớn cũng chỉ đề cập tới Hoàng Sa, Trường Sa. Trong khi đó, ý đồ lưỡi bò không chỉ là xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa.
3. Chúng ta cần làm gì?
Trước ý đồ này, chúng ta phải làm gì? Câu trả lời đầu tiên là, mặc dù các biện pháp chống trả phải khác với trong quá khứ, chúng ta phải chống trả với một sự tích cực không kém tổ tiên ta đã chống những cuộc xâm lăng trong quá khứ. Chống trả có thể bao gồm phương cách nhu, nhưng không được nhu nhược.
Tất nhiên, cơ bản và về lâu về dài Việt Nam phải có nền kinh tế và quốc phòng vững mạnh. Những điều này đòi hỏi về yếu tố con người và xã hội. Nhưng, mặc dù nguy cơ ở Biển Đông nhắc nhở chúng ta phải chỉnh đốn những vấn đề này, chúng là những vấn đề của bất cứ quốc gia nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cụ thể về Biển Đông, chúng ta cần có ý chí và chiến lược.
3.1. Cần một tư duy Biển Đông
Để xây dựng một ý chí quốc gia về Biển Đông, chúng ta phải nâng cao ý thức và kiến thức về Biển Đông, phải xây dựng một tư duy Biển Đông. Ngày xưa Trung Quốc không có tư duy hải dương. Sau khi họ bị các nước khác tấn công từ biển và sau khi bị Nhật thôn tính một số đảo, tư duy hải dương của Trung Quốc đã ra đời. Nhờ có tư duy này, ở Biển Đông Trung Quốc vượt trội ta về ý thức, trí tuệ, tính nhất quán và sự tích cực. Trong khi đó nói chung chúng ta vẫn chỉ nhắc tới Hoàng Sa, Trường Sa là cùng.
3.2. Cần một chiến lược ngoại giao
Là nước nhỏ, trong chiến lược của chúng ta phải có ngoại giao. Tuy không nên đặt niềm tin vào việc nếu Trung Quốc đánh chiếm một số đảo từ ta thì sẽ có nước nào đó đánh Trung Quốc, phải nhìn nhận là ngoại giao có trọng lượng trên bàn cân “đánh hay không” của Trung Quốc. Chúng ta phải tăng tối đa trọng lượng này. Trong chiến lược ngoại giao của ta phải có quyền lợi gì cho các nước khác, vì động cơ của nước nào cũng là quyền lợi của họ chứ không phải là chính nghĩa của ta. Tốt nhất là chiến lược ngoại giao của chúng ta có khía cạnh giúp những nước khác giành cho họ những quyền lợi không phải của ta.
3.3. Cần sử dụng pháp lý
Là nước nhỏ, cơ sở để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam phải dựa trên pháp lý. Nếu chúng ta không bảo vệ được chủ quyền trên trên diện pháp lý thì khó có thể bảo vệ chủ quyền trong những lãnh vực khác. Pháp lý phải là nền tảng cho đấu tranh ở Biển Đông. Việt Nam cần các chuyên gia luật quan tâm về và tham gia vào việc bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông.
Trong lãnh vực pháp lý, vấn đề chủ quyền chia làm ba phần:
3.3.1. Chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa trước công hàm Phạm Văn Đồng
Thật ra trong phạm trù này cần phân biệt vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa và chủ quyền đối với Trường Sa, vì lý lẽ và ưu thế của Việt Nam khác nhau trong hai trường hợp này. Theo những gì tôi biết về lý lẽ của Trung Quốc và của Việt Nam, pháp lý sẽ nghiêng về Việt Nam; các lý lẽ của Trung Quốc hầu như chỉ có giá trị tuyên truyền. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh chưa đưa ra Toà Án Công Lý Quốc Tế, tuyên truyền cũng có tác dụng của nó.
3.3.2. Chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa sau công hàm Phạm Văn Đồng
Dù muốn hay không, công hàm Phạm Văn Đồng là một phần không tách rời được của lý lẽ về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. Theo hiểu biết hạn hẹp của tôi, công hàm Phạm Văn Đồng không có chức năng pháp lý làm cho Việt Nam phải mất chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa vào tay Trung Quốc. Chúng ta cần có một đội ngũ luật học nghiên cứu những trường hợp estoppel hay tương tự trong công pháp quốc tế để đánh giá một cách thật sự khoa học và chính xác công hàm này. Trong thời gian đó, không thể làm lơ trước sức mạnh tuyên truyền khi Trung Quốc sử dụng công hàm này. Chúng ta phải chống lại tuyên truyền này một cách thuyết phục hơn tuyên truyền của Trung Quốc, và phải tránh vô tình góp sức cho tuyên truyền của họ.
3.3.3. Chủ quyền đối với các vùng biển không thuộc về Hoàng Sa hay Trường Sa
Cần tách vấn đề chủ quyền đối với những vùng biển này ra khỏi tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa. Có nhiều lý do:
• Vì đó là điều hợp lý.
• Để cho Trung Quốc không thể dùng tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa để nguỵ trang cho ý đồ lưỡi bò của họ.
• Để cho chúng ta có thể sử dụng ưu thế pháp lý, ngoại giao của chúng ta đối với những vùng biển này và bảo vệ chúng trong khi Hoàng Sa, Trường Sa còn bị tranh chấp.
• Nếu chủ quyền trên những vùng biển này đã được giải quyết thì sức ép trên các đơn vị Trường Sa mà Việt Nam đang giữ và trên các đơn vị chưa ai chiếm đóng sẽ giảm xuống rất nhiều.
Tôi có viết về những nguyên tắc liên quan tới các vùng biển không thuộc về Hoàng Sa hay Trường Sa ở những URL sau:
Thử tìm giải pháp cho Biển Đông
Bài “Thử tìm giải pháp cho Biển Đông”
4. Kết luận
Ngày nay Việt Nam đứng trước một sự đe doạ khổng lồ. Khác với trong quá khứ, sự đe doạ này tiến triển rất chậm, qua nhiều thập niên, có thể nói là cả thế kỷ. Nhiều khi sự đe doạ này rất nhẹ nhàng, dường như không có, nhiều khi có những động thái phi bạo lực, tương đối ít khi tiến tới bằng bạo lực. Nhưng chúng ta đừng để sự nhẹ nhàng, chậm rãi này làm chúng ta coi thường hay thờ ơ. Nếu sự đe doạ này đi tới đích của nó thì hậu quả cho đất nước sẽ vô cùng trầm trọng và có thể sẽ vĩnh viễn.
Chúng ta phải tích cực chống lại sự đe doạ này với một sự tích cực không kém gì tổ tiên ta đã chống những cuộc xâm lăng từ phương Bắc.