Trang 68/73 đầuđầu ... 18435861626364656667686970717273 cuốicuối
kết quả từ 671 tới 680 trên 724

Chủ đề: Tìm hiểu về Phật giáo - Những hỏi đáp cơ bản

  1. #671
    Thành viên chính thức
    Tham gia ngày
    Mar 2010
    Bài viết
    4,475
    Trích Anh Các Chú viết: Xem bài viết
    Cũng một câu hỏi quá ngu. Chú thấy thường người ta vào chùa để làm gì? Đấy là con người ta vào chùa thường để tu hành, kế đến là Sám hối tội lỗi, tìm cảm giác bình an. Một số người vào chùa để xin xỏ ... vơn vơn và vơn vơn. Đồng chí bác cũng đe'o ngoại lệ. Chẳng qua khi còn sống đồng chí Bác đã xua quân vào nam giết hiếp biết bao nhiêu là sanh mạng của đám Ngụy Quân, Ngụy Quyền, phe ta lẫn phe địch. Cho nên tội lỗi đấy lấy gì có thể xóa bỏ được? Vào nhà thờ thì Chúa thì đe'o có khả năng. Chỉ có Phật pháp mới có thể xóa tan những tội lỗi như thế. Đem đồng chí Bác vào chùa tức là tạo cơ hội cho đồng chí Bác hàng ngày nghe được tiếng kinh lời kệ, nương tựa Phật pháp sám hối qui y tu hành mong có ngày được làm "Người" trở lại. Ngày xưa đồng chí Bác còn ngu dại nghe lời xúi dục của đám phản động Ca tô đòi làm "Cha" cho nên mới nhận hậu quả thảm khóc này.
    Đục cái tượng đem dô chùa thì đồng chí nào nghe?

    Thế còn cái tượng đồng chí Bác người ta đem liệng cống thì sao?

  2. #672
    Thành viên chính thức
    Tham gia ngày
    Feb 2011
    Bài viết
    1,537
    Trích salsa viết: Xem bài viết
    l
    Hai câu trên chứng tỏ hiểu biết sai từ căn bản nhưng không thật sự muốn lắng nghe mà chỉ muốn cãi.
    Phật không phải muốn bể khổ = zero và muốn diệt những gì trong đời. Cái bể đời nó vẫn là đó. Phật dạy cách làm sao để sống trong bể đời mà không cảm thấy đó là bể khổ nữa.
    Hai luồng tin của đạo Phật và đạo Chúa , căn bản khác hẳn nhau. Một bên tin có đấng tạo hóa và có chúa sẽ che chở, còn triết lỳ đạo Phật cho rằng mọi sự vật được tạo ra do ngũ uẩn và dưyên khởi (=không có một đấng tạo hóa) ta không kiểm soát /control được chúng, ta chỉ có thể kiểm soát được ta , và khổ sở hay sung sứong là do cách của ta suy nghĩ và phản ứng lai với những gì quanh ta chứ không có ông Phật ông thánh nào giúp nổi.
    Cho nên thật hoài công khi dùng hai nhóm tiên đề quá khác nhau để tranh luận.


    Nói tiếp, túm lại theo Phật giáo, muốn được giải thoát (khỏi cái khổ) phải ngộ được tứ diệu đế và thuyết vô ngã, (trong đó nói nhiều thứ một trong những thứ đó là cái ta nó không có thật chì do ngũ uẩn hợp bởi duyên) .
    Ngộ được thì sẽ
    không còn thấy khổ, sẽ ung dung tự tại và đó là đang ở cảnh niết bàn rồi chứ không phải chờ chết rổi mới bay bay lên cõi trời cõi tây phuơng nào cả.
    không còn sợ chết thì gọi là thoát khỏi vòng sanh tử , chứ sanh sanh diệt diệt là cái lý của trời đất không ai thoát khỏi hết Phật cũng vậy thôi cũng ỉa chảy mà chết đó thôi.

    Cho nên tui thường chỉ viết ra hiểu biết của tui để đóng góp chứ tui không hay trả lời trả vốn , ai coi cái tui viết là rác là vô lý hay coi là thứ có thể hưởi được nói theo đạo Phật là tùy duyên.
    Tui không kết luận đạo nào đúng sai (vì tui chưa chết nên không biết) chỉ thấy hạp với triết lý Phật giáo nên sống dựa vào đó. Nhưng dùng tiên đề và niềm tin vào đạo Chúa mà tranh cãi và chỉ trích triết lý Phật giáo (hay ngược lại) thì chẳng lô gích tí nào.
    Đồng ý với bạn Christianity và Buddhism khác nhau từ căn bản . Nhưng mục tiêu của tất cả các tôn giáo đều giống nhau đó là sự cứu rỗi để trả lời câu hỏi lớn nhất của nhân loại sau sự chết là gì ? Nói như định nghĩa của bạn Phật tử không còn sợ chết , sống ung dung tự tại là đã giải thoát . Đó chỉ là một cách nhìn riêng của bạn chứ không phải của Phật giáo . Suốt cuộc đời Phật tử ăn chay niệm phật trừ bỏ những thú vui chính là để chuẩn bị cho kiếp sau , chứ không phải kiếp này . Phật tử tin rằng khi chết mà luơng tâm thanh sạch thì sẽ được đầu thai vào cảnh giới cao hơn . Còn khi chết mà luơng tâm còn bứt rứt thì sẽ phải đầu thai vào thân phận kiếp sống tồi tàn , và tệ hơn nữa là đầu thai làm ma quỉ, làm súc vật ... Cứ nhìn vào những nghi lễ khi một người Phật tử đã qua đời thì bạn sẽ thấy là đạo phật là đạo sống để chuẩn bị cho kiếp đầu thai sau .Những cái tiêu chuẩn này rất mơ hồ . Nếu nói sống ung dung tự tại trên cõi đời này và khi chết luơng tâm không cắn rứt thì những tên khủng bố Hồi Giáo đều đạt tiêu chuẩn để ít nhất là được đầu thai vào một kiếp khác khá hơn, vì khi chúng chết tất cả đều tin rằng chúng đã làm việc đại nghĩa.

    Đạo Phật cũng chỉ là một cố gắng của đức Phật giải đáp câu hỏi sau sự chết có gì mà thôi . Đức Phật là một hiền nhân nhưng Phật cũng chỉ là một người như mọi người .

    Kinh Thánh nói rõ ràng rằng

    Tất cả mọi người đều phạm tội .. và kết quả của tội lỗi là sự chết .

    Tất cả mọi người đều phạm tội tội nhiều hay tội ít không thành vấn đề , một học sinh đi thi bị rớt cho dầu dưới điểm đậu nhiều hay ít cũng không thành vấn đề , rớt là rớt . Và kết quả của tội lỗi là sự chết .

    Kinh Thánh cũng nói rõ ràng rằng :

    Tiền cộng của tội lỗi là sự chết, nhưng món quà của Đấng Tạo Hóa là sự sống đời đời món quà đó là Đấng Christ Chúa của chúng ta .

    For the wages of sin is death, but the gift of God is eternal life in Christ Jesus our Lord.

    Đã một lần tôi đi vượt biên trên biển. Biển mênh mông , sóng gió, hết dầu , hết nước, máy tàu bị hư , tàu trôi dạt vô định.

    Nếu có ai cùng đi trên chiếc ghe đó nói rằng tôi chỉ cho các bạn cách giải thoát khỏi cái biển mênh mông chết chóc này bằng cách đừng lo nghĩ hãy sống tự tại . Lời khyên đó là tốt nhưng đó chỉ là trốn tránh sự thật mà thôi . Trừ khi có một tác động từ bên ngoài như có một chiếc tàu khác đến cứu vớt , thì lo nghĩ hay không , tự tại hay không thì cũng có một số phận như nhau mà thôi .

    Chúa Jesus chính là chiếc tàu cứu vớt nhân loại thoát bể khổ vì Chúa Jesus là người duy nhất đã chiến thắng sự chết . Chúa Jesus đã trả đầy đủ tiền công của tội lỗi để ban cho nhân loại một cơ hội chiến thắng và giải thoát khỏi sự chết .

    Kinh Thánh nói Chúa Jesus là món quà mà Đấng Tạo Hóa ban cho nhân loại .

    Món quà thì không có đòi hỏi gì từ nơi người nhận .

    Hôm nay bạn có muốn đưa tay chấp nhận món quà quí giá mà Đấng Tạo Hóa ban cho hay không ?

    Kinh Thánh nói Chúa Jesus vẫn còn đang đứng gõ cửa mỗi tấm lòng của chúng ta , hy vọng bạn sẽ mở cửa đón nhận món quà của Đấng Tạo Hóa .
    Chỉnh sửa lần cuối bởi GroundCrew vào 23-06-2013 lúc 07:13 AM
    “Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo” Mikhail Gorbachev

  3. #673
    Thành viên chính thức
    Tham gia ngày
    Jun 2010
    Bài viết
    2,501
    Trích Anh Các Chú viết: Xem bài viết
    Anh khẳng định một lần nữa. Phật không hề nói "Diệt Ngã" bởi cái Ngã thật sự không hề tồn tại trong giáo lý của Phật giáo thì ai đấy bảo Diệt Ngã là diệt cái gì? Diệt cái bóng ma à? Ban đầu anh đã nói trước khái niệm về Ngã là một khái niệm của Bà La Môn giáo. Còn Phật giáo chỉ có Vô Ngã. Nếu ai đấy bảo rằng để giải thoát chỉ cần Diệt Ngã nếu hiểu đơn giản thì đâm đầu vào tường chết để được giải thoát thì có lẹ hơn không? Nào giờ anh chỉ biết Phật giáo là đạo Vô Ngã. Nếu các chú cứ bảo rằng Phật giáo là đạo Diệt Ngã hay muốn giải thoát thì phải Diệt Ngã thì vui lòng các chú trích dẫn từ kinh sách. Còn chuyện có ông thày nào đó bảo đạo Phật là đạo "Diệt Ngã" đấy là chuyện của mấy ổng không phải chuyện của anh. Các chú nên chất vấn mấy ổng. Đừng chất vớn anh. Nếu các chú nói chuyện với Anh thì các chú chỉ nên xoay quanh chuyện chất vấn những gì anh đã nói chứ đừng lôi những lời của các ông thầy nào đấy vào đây.
    Mấy ông sư là để tử học kinh kệ của Phật kêu gọi diệt ngã. Còn đ/c ACC lại nói Diệt Ngã không hề tồn tại trong giáo lý Phật. Tin các ông sư hay tin ACC, ai khả tín hơn? Ngay cả giáo lý nhà Phật cũng có nhiều ông sư và Phật tử còn nói là Phật không hề nói sát sanh là có tội. Vậy thì lấy gì chứng minh là họ nói sai? Ai dám khẳng định Phật nói "sát sanh là có tội". Ai đã nghe lời nói này từ môi miệng Phật? Kinh kệ của Phật phái nào ghi lại đáng tin hơn. Triết lý Phật, người thì nói thế này, người lại nói thế kia. Tà dâm là phạm giới, vậy mà bây giờ lại có những giáo phái, sư sãi lại tối tối ôm cô vợ? Chẳng lẽ triết lý của Phật bây giờ là cái nồi hèm?

  4. #674
    Thành viên chính thức
    Tham gia ngày
    Apr 2010
    Bài viết
    350
    Trích GroundCrew viết: Xem bài viết
    Đồng ý với bạn Christianity và Buddhism khác nhau từ căn bản . Nhưng mục tiêu của tất cả các tôn giáo đều giống nhau đó là sự cứu rỗi để trả lời câu hỏi lớn nhất của nhân loại sau sự chết là gì ? Nói như định nghĩa của bạn Phật tử không còn sợ chết , sống ung dung tự tại là đã giải thoát . Đó chỉ là một cách nhìn riêng của bạn chứ không phải của Phật giáo . Suốt cuộc đời Phật tử ăn chay niệm phật trừ bỏ những thú vui chính là để chuẩn bị cho kiếp sau , chứ không phải kiếp này . Phật tử tin rằng khi chết mà luơng tâm thanh sạch thì sẽ được đầu thai vào cảnh giới cao hơn . Còn khi chết mà luơng tâm còn bứt rứt thì sẽ phải đầu thai vào thân phận kiếp sống tồi tàn , và tệ hơn nữa là đầu thai làm ma quỉ, làm súc vật ... Cứ nhìn vào những nghi lễ khi một người Phật tử đã qua đời thì bạn sẽ thấy là đạo phật là đạo sống để chuẩn bị cho kiếp đầu thai sau .Những cái tiêu chuẩn này rất mơ hồ . Nếu nói sống ung dung tự tại trên cõi đời này và khi chết luơng tâm không cắn rứt thì những tên khủng bố Hồi Giáo đều đạt tiêu chuẩn để ít nhất là được đầu thai vào một kiếp khác khá hơn, vì khi chúng chết tất cả đều tin rằng chúng đã làm việc đại nghĩa.

    Đạo Phật cũng chỉ là một cố gắng của đức Phật giải đáp câu hỏi sau sự chết có gì mà thôi . Đức Phật là một hiền nhân nhưng Phật cũng chỉ là một người như mọi người .

    Kinh Thánh nói rõ ràng rằng

    Tất cả mọi người đều phạm tội .. và kết quả của tội lỗi là sự chết .

    Tất cả mọi người đều phạm tội tội nhiều hay tội ít không thành vấn đề , một học sinh đi thi bị rớt cho dầu dưới điểm đậu nhiều hay ít cũng không thành vấn đề , rớt là rớt . Và kết quả của tội lỗi là sự chết .

    Kinh Thánh cũng nói rõ ràng rằng :

    Tiền cộng của tội lỗi là sự chết, nhưng món quà của Đấng Tạo Hóa là sự sống đời đời món quà đó là Đấng Christ Chúa của chúng ta .

    For the wages of sin is death, but the gift of God is eternal life in Christ Jesus our Lord.

    Đã một lần tôi đi vượt biên trên biển. Biển mênh mông , sóng gió, hết dầu , hết nước, máy tàu bị hư , tàu trôi dạt vô định.

    Nếu có ai cùng đi trên chiếc ghe đó nói rằng tôi chỉ cho các bạn cách giải thoát khỏi cái biển mênh mông chết chóc này bằng cách đừng lo nghĩ hãy sống tự tại . Lời khyên đó là tốt nhưng đó chỉ là trốn tránh sự thật mà thôi . Trừ khi có một tác động từ bên ngoài như có một chiếc tàu khác đến cứu vớt , thì lo nghĩ hay không , tự tại hay không thì cũng có một số phận như nhau mà thôi .

    Chúa Jesus chính là chiếc tàu cứu vớt nhân loại thoát bể khổ vì Chúa Jesus là người duy nhất đã chiến thắng sự chết . Chúa Jesus đã trả đầy đủ tiền công của tội lỗi để ban cho nhân loại một cơ hội chiến thắng và giải thoát khỏi sự chết .

    Kinh Thánh nói Chúa Jesus là món quà mà Đấng Tạo Hóa ban cho nhân loại .

    Món quà thì không có đòi hỏi gì từ nơi người nhận .

    Hôm nay bạn có muốn đưa tay chấp nhận món quà quí giá mà Đấng Tạo Hóa ban cho hay không ?

    Kinh Thánh nói Chúa Jesus vẫn còn đang đứng gõ cửa mỗi tấm lòng của chúng ta , hy vọng bạn sẽ mở cửa đón nhận món quà của Đấng Tạo Hóa .
    1./ Đề mục này rõ ràng có tên là "Tìm hiểu về Phật giáo" mà anh nói một tí rồi cũng rao giảng đạo Chúa , là lạc đề.
    2./Tui đã nói là Phật giáo không tin có đấng tạo hóa và tui sống theo triết lý PG, mà anh còn hỏi "Hôm nay bạn có muốn đưa tay chấp nhận món quà quí giá mà Đấng Tạo Hóa ban cho hay không ? " nghĩa là sao ?
    Tui nhận thấy nhiều ngưởi theo đạo Chúa cho rằng chỉ có đạo họ là đúng, ai không theo là lầm đường lạc lối và họ có bổn phận phải chiêu hồi những em đi lạc này về với Chúa. Đó là do lòng yêu người mến Chúa của họ.
    Nhưng có lẽ họ không hiểu rằng đó là không tôn trọng tín ngưỡng người khác, là hành đông kiêu ngạo cần được nhận thấy và khắc phục.
    Ví như một người đã khẳng định không muốn ăn món ấy mà mình lai cứ cố tống vào mồm người ta bảo rằng tôi thấy ngon lắm.
    3./ Đã nói vô ngã là nền tảng của đạo Phật thì sinh diệt có nghĩa gì to tát đâu mà cho là mục đích đạo Phật cũng là " để trả lời câu hỏi lớn nhất của nhân loại sau sự chết là gì ". Đạo Phật là đạo (chữ đạo có nghĩa là con đường) để giải thoát con người trong từng sát na, sống chết sinh diệt chỉ là hiện tượng.

  5. #675
    Thành viên chính thức
    Tham gia ngày
    Feb 2011
    Bài viết
    1,537
    Trích salsa viết: Xem bài viết
    1./ Đề mục này rõ ràng có tên là "Tìm hiểu về Phật giáo" mà anh nói một tí rồi cũng rao giảng đạo Chúa , là lạc đề.
    2./Tui đã nói là Phật giáo không tin có đấng tạo hóa và tui sống theo triết lý PG, mà anh còn hỏi "Hôm nay bạn có muốn đưa tay chấp nhận món quà quí giá mà Đấng Tạo Hóa ban cho hay không ? " nghĩa là sao ?
    Tui nhận thấy nhiều ngưởi theo đạo Chúa cho rằng chỉ có đạo họ là đúng, ai không theo là lầm đường lạc lối và họ có bổn phận phải chiêu hồi những em đi lạc này về với Chúa. Đó là do lòng yêu người mến Chúa của họ.
    Nhưng có lẽ họ không hiểu rằng đó là không tôn trọng tín ngưỡng người khác, là hành đông kiêu ngạo cần được nhận thấy và khắc phục.
    Ví như một người đã khẳng định không muốn ăn món ấy mà mình lai cứ cố tống vào mồm người ta bảo rằng tôi thấy ngon lắm.
    3./ Đã nói vô ngã là nền tảng của đạo Phật thì sinh diệt có nghĩa gì to tát đâu mà cho là mục đích đạo Phật cũng là " để trả lời câu hỏi lớn nhất của nhân loại sau sự chết là gì ". Đạo Phật là đạo (chữ đạo có nghĩa là con đường) để giải thoát con người trong từng sát na, sống chết sinh diệt chỉ là hiện tượng.
    Có lẽ bạn đang overreacting. Thành thật tôi không có ý không tôn trọng tín ngưỡng của bạn, và càng không dám nghĩ là mình đã kiêu ngạo coi thường tín ngưỡng của bạn . Nhưng bạn nói có phần đúng là những tín đồ Christian khi nhận được mòn quà của Đấng Tạo Hóa thì cũng muốn chia sẽ món quà đó ra cho người chung quanh, có lẽ bạn không tin, nhưng xin nói đó chỉ là thiện ý chứ không phải là ác ý .

    Tôi nghĩ nếu bạn đã nếm được sự tốt đẹp của Phật Giáo thì bạn cũng muốn chia sẽ điều đó cho người chung quanh . Nếu có người làm điều đó cho tôi với một thiện ý, dầu tôi không có một niềm tin nhưng có lẽ tôi cũng không nỡ buông lời nặng nề .

    Dầu sao thì tôi cũng xin lỗi đã làm bạn khó chịu .
    Chỉnh sửa lần cuối bởi GroundCrew vào 23-06-2013 lúc 01:43 PM
    “Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo” Mikhail Gorbachev

  6. #676
    Thành Viên
    Tham gia ngày
    May 2010
    Bài viết
    2,542
    Để tiếp tục chương trình cho nó có liên tục anh xin giới thiệu một cuốn sách

    ÐỨC PHẬT ÐÃ DẠY NHỮNG GÌ
    Hòa thượng Walpola Rahula
    Thích Nữ Trí Hải dịch (1998)
    Nguyên tác: "What The Buddha Taught"
    (Tựa đề lần xuất bản thứ nhất, 1966: "Con đường thoát khổ")

    Anh giới thiệu bằng cách trích đăng từng chương. Không cần phải trích theo thứ tự:



    VÔ NGÃ (ANATTA)

    Cái mà người ta thường gọi là linh hồn, ngã hay cái tôi, là để ám chỉ một thực thể tuyệt đối, trường cửu trong con người, bản thể bất biến đằng sau thế giới hiện tượng hằng biến. Theo một vài tôn giáo, mỗi người có một linh hồn tách biệt như thế do Chúa tạo dựng, và linh hồn ấy sau khi chết sẽ vĩnh viễn sống trong địa ngục hay thiên đường. Số phận nó tùy thuộc vào sự phán xét của đấng sáng tạo ra nó. Theo một vài tôn giáo khác, linh hồn ấy trải qua nhiều đời sống, cho đến khi nó hoàn toàn trong sạch và cuối cùng trở thành đồng nhất với Thượng đế hay Phạm thiên Brahman, Linh hồn phổ quát hay Àtman từ đấy nó phát xuất. Linh hồn hay ngã trong con người là cái suy nghĩ, cảm giác, và nhận thưởng phạt về tất cả mọi hành vi thiện ác của nó. Một quan niệm như thế gọi là Ngã kiến.

    Phật giáo là tôn giáo độc nhất trong lịch sử tôn giáo nhân loại phủ nhận hiện hữu của một linh hồn, Ngã hay Àtman như thế. Theo giáo lý Phật, ngã kiến là một niềm tin sai lạc, không tương ứng với thực tại, và nó phát sinh những tư tưởng tai hại về "tôi" và "của tôi", dục vọng ích kỷ không biết chán, sự chấp thủ, sân hận, ác độc, kiêu căng ngã mạn, và những cấu uế ô nhiễm khác cùng nhiều rắc rối. Nó là nguồn gốc của mọi rối ren trên đời, từ những tranh chấp cá nhân cho đến chiến tranh giữa các dân tộc. Tóm lại, tất cả mọi sự tác quái trên thế gian đều bắt nguồn từ quan niệm sai lạc này.

    Có hai ý tưởng thâm căn cố đế trong tâm lý con người: tự vệ và tự tồn. Vì muốn tự vệ con người đã dựng nên Thượng đế để nương tựa, để được che chở, được an ninh bảo đảm, như một đứa trẻ nương tựa vào cha mẹ. Vì muốn tự tồn người ta đã sáng tạo ra ý tưởng về một linh hồn bất tử hay Àtman sẽ sống mãi đến bất tận. Trong ngu si, yếu đuối, sợ hãi, khát khao, người ta cần hai điều ấy để tự trấn an, tự vỗ về; vì lý do đó họ bám vào đấy một cách cuồng tín và hăng say.

    Giáo lý Phật không dung dưỡng sự ngu si, yếu đuối, sợ hãi, khát khao ấy, mà cốt làm con người sáng mắt ra bằng cách trừ khử, tiêu diệt, nhổ tận gốc những thói này. Theo Phật giáo, những ý tưởng của chúng ta về thượng đế và linh hồn là sai lạc, trống rỗng. Mặc dù những ý tưởng ấy được phát triển sâu đậm, dệt thành những chủ thuyết, tất cả đều là những dự phóng tinh vi của óc tưởng tượng được gói ghém trong một mớ danh từ triết lý và siêu hình phức tạp. Những ý tưởng này đã ăn sâu gốc rễ trong tâm lý con người, gần gũi thân thiết với họ đến nỗi họ không mong nghe, cũng không muốn hiểu một đạo lý nào ngược lại.

    Đức Phật biết rõ điều ấy, ngài dạy rằng giáo lý của ngài "đi ngược dòng" (patisotagàmi), trái ngược với những dục vọng ích kỷ của con người. Bốn tuần lễ sau khi giác ngộ, ngồi dưới một gốc cổ thụ, ngài tự nhủ: "Ta đã thực chứng một sự thực sâu xa, khó thấy, khó hiểu... chỉ những bậc trí mới hiểu thấu. Những người bị đam mê chế ngự, bị vô minh vây phủ không thể nào thấy chân lý này, vì nó ngược dòng, nó cao siêu, sâu kín, tế nhị vàkhó nghĩ bàn."

    Nghĩ thế, đức Phật đã do dự một lúc: "Có phải vô ích không nếu ta cố giảng giải cho thế gian Chân lý mà ta đã chứng nhập?" Rồi ngài so sánh thế gian như một ao sen: trong ấy có nhiều hoa còn ở dưới mặt nước, có những hoa khác chỉ vừa ló lên trên mặt nước, nhưng cũng có những bông hoa đã vươn lên khỏi mặt hồ và không còn động chạm với nước. Cũng thế trong thế gian này, trình độ phát triển của con người khác nhau. Có một số người sẽ hiểu được Chân lý. Vì thế đức Phật quyết định giảng dạy chân lý ấy[1].

    Lý Vô ngã là kết quả tự nhiên, là hệ luận của phân tích Ngũ uẩn và Duyên khởi (hay duyên sinh, paticca-samuppàda)[2].

    Trong phần thảo luận về Diệu đế thứ nhất (Khổ đế, dukkha), chúng ta đã thấy cái mà ta gọi linh hồn hay cá thể được cấu tạo bởi năm uẩn, và khi phân tích kỹ năm uẩn ta không thấy có gì đằng sau chúng có thể gọi được là Tôi, Àtman hay Ngã, hay bất cứ bản thể trường tồn bất biến nào. Ðấy là phương pháp phân tích. Ta cũng có kết quả tương tự khi xét kỹ luật duyên khởi, phương pháp tổng hợp, và theo luật này thì không có gì trên thế gian là tuyệt đối. Mọi sự vật (pháp) đều giới hạn, tương đối, và phụ thuộc lẫn nhau. Ðây là thuyết tương đối của Phật giáo.

    Trước khi thực sự đi vào vấn đề Vô ngã, ta nên có một ý niệm sơ qua về luật duyên khởi. Nguyên tắc của lý thuyết này được tóm tắt trong một công thức gồm 4 dòng:

    Cái này có, thì cái kia có (imasmim sati idamhoti).
    Cái này sinh, thì cái kia sinh (imassuppàda idam uppajjati).
    Cái này không, thì cái kia không (imasmim asati idam na hoti).
    Cái này diệt, thì cái kia diệt (imassa nirodhà idam airujjhata)[3].

    Theo nguyên tắc điều kiện tính, tương đối tính và tính hỗ tương tùy thuộc ấy, sự tiếp tục của đời sống và sự chấm dứt của nó được giải thích trong một công thức chi tiết gọi là duyên khởi, (nghĩa là sự sinh khởi có điều kiện hay duyên) gồm 12 yếu tố:

    1- Vô minh (làm) duyên (cho) hành (những hoạt động cố ý hay nghiệp) (avijjàpaccayà samkhàvà).

    2- Hành (làm) duyên (cho) thức (samkhàrapaccayà vinnànam).

    3- Thức (làm) duyên (cho) danh sắc (những hiện tượng tâm lý và vật lý) (Vinnànapaccayà nàmarùpam).

    4- Danh sắc (làm) duyên (cho) lục nhập (5 giác quan và ý thức) (Nàmarùpapaccayà salàyatanam).

    5- Lục nhập (làm) duyên (cho) xúc (động chạm, tiếp xúc) (salàyatanapaccayà phasso).

    6- Xúc (làm) duyên (cho) thọ (cảm giác) (phassapaccayà vedanà).

    7- Thọ (làm) duyên (cho) ái (khao khát ham muốn) (vedanàpaccayàtanhà).

    8- Ái (làm) duyên (cho) thủ (bám víu, giữ lấy) (Tanhapaccayà upàdànam).

    9- Thủ (làm) duyên (cho) hũu (quá trình sinh ra và trở thành) (upàdànapaccayà bhavo).

    10- Hữu (làm) duyên (cho) sinh (sự sống, sinh ra) (Bhavapaccayà jàti).

    11- Sinh (làm) duyên (cho)

    12- Lão (già) tử (chết) ưu bi khổ não (buồn lo đau đớn) (Jàtipaccayà jaràm maranam).

    Ðây là quá trình theo đó sự sống đã phát sinh, tồn tại và tiếp diễn. Nếu ta đảo ngược công thức lại, ta sẽ đi đến sự chấm dứt của quá trình:

    Vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt v.v.. cho đến khi sinh lão, tử, ưu bi khổ não... diệt.

    Cần nhớ rõ một điều rằng mỗi yếu tố trên đây đều vừa là nhân vừa là quả, nó vừa bị định đoạt bởi (paticcasamuppanna), và vừa làm điều kiện cho (paticcasamuppàda)[4]. Bởi thế chúng đều là tương đối, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan với nhau, không có cái gì là tuyệt đối hay biệt lập, do đó mà Phật giáo không công nhận có "nguyên nhân đầu tiên" như ta đã thấy trước kia[5]. Duyên khởi nên xem như một vòng tròn, chứ không nên xem là một sợi xích[6].

    Vấn đề ý chí tự do chiếm một địa vị quan trọng trong tư tưởng và triết học Tây phương. Nhưng theo luật duyên khởi, vấn đề này không phát sinh và không thể phát sinh trong triết học Phật giáo. Nếu toàn thể hiện hữu đều là tương đối, giới hạn và phụ thuộc nhau, làm sao một mình ý chí có thể được tự do? ý muốn cũng bị giới hạn như bất cứ tư tưởng nào khác. Cái ta gọi là "tự do"chính nó cũng giới hạn và tương đối. Không thể có cái gì vật lý hay tâm lý có thể tuyệt đối tự do, vì mọi sự đều tương quan và tương đối. "ý chí tự do" bao hàm ý nghĩa một ý muốn không phụ thuộc vào những điều kiện, biệt lập với nhân quả. Làm sao một ý muốn hay bất cứ cái gì thuộc về ý chí, có thể phát sinh mà không có những điều kiện, tách rời nhân và quả - khi toàn thể hiện hữu đều giới hạn và tương đối, nằm trong luật nhân quả? Lại nữa ở đây, ý niệm về ý chí tự do cũng liên quan mật thiết đến những ý tưởng về Thượng đế, linh hồn, công bằng, thưởng phạt. Không những cái gọi là tự do đã không tự do, mà ngay cả chính ý niệm về ý chí tự do cũng không thoát khỏi những điều kiện.

    Theo luật duyên khởi, cũng như theo sự phân tích con người thành năm uẩn, ý tưởng về một bản thể trường cửu bất diệt ở trong hay ngoài con người, dù gọi là Àtman, Tôi, Linh hồn, Ngã, hay cái Ta, chỉ được coi như một niềm tin sai lạc (tà tín), một bóng dáng của tâm thức. Ðây là lý thuyết Phật giáo về Vô ngã (anatta).

    Ðể tránh một sự lầm lẫn, ở đây ta nên nhắc rằng có hai loại sự thật: sự thật ước lệ, Tục đế (sammutisacca), và sự thật tuyệt đối hay Thắng nghĩa đế (paramatthasaca)[7].

    Khi ta dùng thường ngày những từ ngữ như "tôi", "anh", "linh hồn", "cá nhân" v.v.. không phải chúng ta nói dối, mà nói một sự thật thuận theo quy ước của thế gian. Nhưng sự thật tối hậu là không có "tôi" hay "linh hồn". Như kinh Mahàyànasùtràlankàra (Ðại thừa nhập Lăng già) dạy: "Một con người (pudagala) nên được xem là chỉ có trong sự giả lập (prajnapati) (nghĩa là theo quy ước thì có một cá thể hay con người), chứ không phải trong thực tại (dravya) [8].

    "Sự phủ nhận một linh hồn bất tử là đặc tính chung cho mọi hệ thống giáo lý Tiểu thừa cũng như Ðại thừa, và như vậy không có lý do gì để quả quyết rằng truyền thống Ðại thừa, một truyền thống hoàn toàn đồng quan điểm với Tiểu thừa trên vấn đề này, đã đi xa với giáo lý nguyên thủy của đức Phật." [9]

    Bởi thế, thật lạ lùng khi gần đây vài học giả (như bà Rhys Davids và những người khác)[10] đã cố - một cách vô vọng - xen ý tưởng về ngã vào trong giáo lý Phật, một điều hoàn toàn trái ngược với Phật giáo. Những vị học giả này kính trọng, ngưỡng mộ và sùng thượng đức Phật và giáo lý Ngài. Họ ngưỡng mộ Phật giáo. Nhưng họ không thể tưởng tượng được rằng đức Phật, người họ xem là tư tưởng gia sâu sắc và minh bạch nhất, lại có thể phủ nhận hiện hữu của Àtman, linh hồn hay ngã mà họ rất cần đến. Họ không biết rằng họ đang tìm sự ủng hộ của Phật cho nhu cầu này, nhu cầu một hiện hữu bất diệt - dĩ nhiên không phải trong một cái ngã nhỏ nhen cá biệt với một chữ n thường, mà trong cái Ngã với một chữ N hoa.

    Tốt hơn, người ta nên nói thật rằng họ tin vào Àtman hay Ngã, hoặc người ta có thể nói ngay rằng Phật hoàn toàn sai lầm khi phủ nhận hiện hữu của một cái Ngã. Nhưng chắc chắn không ai nên đưa vào trong đạo Phật một ý tưởng mà Phật không bao giờ chấp nhận, như chúng ta có thể thấy từ những nguyên bản Pàli còn lại.

    Những tôn giáo tin có Thượng đế và linh hồn không giấu diếm hai khái niệm ấy, trái lại còn tuyên bố chúng ra, lặp đi lặp lại nhiều lần bằng những từ ngữ hùng hồn nhất. Nếu quả tình Phật cũng chấp nhận hai ý tưởng ấy, hai ý tưởng tối quan trọng trong mọi tôn giáo, thì chắc chắn Ngài đã công khai tuyên bố chúng như Ngài đã tuyên bố những điều khác, chứ không để cho chúng bị ẩn khuất để chỉ được khám phá ra 25 thế kỷ sau khi Ngài mất.

    Người ta đâm ra nóng nảy khi nghĩ rằng qua giáo lý Vô ngã của Phật, cái Tôi mà họ tưởng tượng mình có, sẽ bị phá hủy. Ðức Phật không phải là không biết đến điều này.

    Một hôm, một vị Tỳ kheo hỏi Ngài: "Bạch đức Thế Tôn, có khi nào người ta bị dày vò bối rối vì không tìm thấy được trong mình một cái gì trường cửu?"

    Ðức Phật trả lời:

    - Quả có như vậy, này Tỳ kheo. Khi một người có ý nghĩ "Vũ trụ là Àtman, sau khi chết ta sẽ là cái ấy, trường cửu, còn mãi, kéo dài, bất biến, ta sẽ tồn tại như thế cho đến vô cùng", mà được nghe Như Lai hay một đệ tử của Như Lai giảng lý thuyết đưa đến sự phá hủy hoàn toàn mọi quan điểm tư duy... đưa đến sự dập tắt khát ái, đưa đến giải thoát, chấm dứt, Niết-bàn; người ấy sẽ nghĩ: "Thế là ta sẽ trở thành hư vô, ta sẽ bị hủy diệt, ta sẽ không còn nữa." Do vậy nó rên rỉ, lo lắng, đấm ngực than khóc, và đâm ra hoảng hốt. Như thế, này Tỳ kheo, quả có trường hợp người ta bị dày vò khi không tìm thấy được trong nó một cái gì trường cửu [11].

    Ở một đoạn khác, đức Phật dạy: Hỏi các Tỳ kheo, ý nghĩ "ta sẽ không còn tồn tại, không có gì nữa" làm cho những người ngu sợ hãi."[12]

    Những người muốn tìm một cái "Ngã" trong Phật giáo lý luận như sau: Quả thật đức Phật đã phân tích con người ra sắc, thọ, tưởng, hành, thức (Ngũ uẩn), và bảo rằng không có gì trong những thứ ấy là Ngã. Nhưng Ngài không bảo tuyệt đối không có Ngã, nơi con người hay nơi nào khác ngoài năm uẩn.

    Lập trường này không đứng vững được vì hai lẽ:

    Lẽ thứ nhất là theo giáo lý Phật, con người chỉ là năm uẩn kết hợp không là gì khác. Không có chỗ nào Phật bảo còn có cái gì khác ở trong con người, ngoài năm uẩn.

    Lẽ thứ hai là nhiều lần Phật đã bác bỏ, bằng những lời lẽ minh bạch, hiện hữu của Àtman, linh hồn hay Ngã trong hay ngoài con người, hay bất cứ ở đâu trong vũ trụ. Ðây là vài ví dụ:

    Trong kinh Pháp cú (Dhammapada) có ba bài kệ vô cùng quan trọng và cốt yếu trong giáo lý Phật : bài 5, 6, 7 chương 20 (hay những câu thơ số 277, 278, 279).

    Hai câu thơ đầu nói:

    "Tất cả hành là vô thường" (sabbe samkhàrà aniccà) và
    "Tất cả hành là khổ" (sabbe samkhàrà dukkhà).
    [hành hay hữu vi, là những gì có sinh, trú và diệt; được kết hợp do các điều kiện - Dịch giả]

    Câu thứ ba là:

    "Tất cả pháp vô ngã" (sabbe dhammà anattà) [13].

    Cần chú ý đặc biệt ở đây rằng trong hai câu đầu, chữ samkhàrà - "những sự vật có điều kiện" - đã được dùng. Nhưng trong câu thứ ba thay vì chữ samkhàra, chữ dhammà đã được dùng. Vì sao câu thơ thứ ba đã không dùng chữ hành, samkhàrà, "sự vật có điều kiện", như hai câu trước, mà lại dùng danh từ pháp, dhammà thay vào? Chính đấy là điểm quan trọng nhất của vấn đề.

    Danh từ hành, samkhàra[14] ám chỉ Ngũ uẩn, mọi sự vật và trạng thái bị giới hạn, phụ thuộc lẫn nhau, tương đối, mọi "pháp" vật lý cũng như tâm lý (sắc pháp và tâm pháp). Nếu câu thơ thứ ba nói: "Mọi hành (sự vật bị giới hạn) là vô ngã" thì người ta có thể nghĩ sự vật bị giới hạn là vô ngã, tuy nhiên có thể có một cái Ngã ở ngoài những sự vật bị giới hạn đó, ở ngoài Ngũ uẩn. Chính để tránh sự hiểu lầm mà danh từ pháp (dhammà) đã được dùng trong câu thơ thứ ba.

    Danh từ pháp có phạm vi rộng lớn hơn hành rất nhiều. Không có danh từ nào trong thuật ngữ Phật học lại có phạm vi rộng hơn chữ pháp. Nó bao gồm không những những sự vật và trạng thái có điều kiện, mà còn cả cái vô điều kiện, cái tuyệt đối, Niết-bàn; không có gì ở trong hay ở ngoài vũ trụ, tốt hay xấu, hữu vi (có điều kiện) hay vô vi (không điều kiện), tương đối hay tuyệt đối..., mà không được bao gồm trong danh từ này. Bởi vậy, thật quá rõ ràng, theo câu "tất cả pháp vô ngã" thì không có Ngã, không có linh hồn, không những chỉ ở trong Ngũ uẩn, mà còn bất cứ ở đâu ngoài ngũ uẩn hay tách biệt với ngũ uẩn[15].

    Theo giáo lý nguyên thủy, điều này có nghĩa rằng không có ngã ở trong con người (puggala) hay trong các pháp. Triết lý đại thừa cũng có một lập trường y hệt, không có một dị biệt nào về điểm đó, nhấn mạnh trên sự vô ngã của các pháp cũng như vô ngã của con người (pháp vô ngã, dhammanairàtmya và nhân vô ngã, pudgalanairàtmya).

    Trong kinh Xà dụ Alagadddùpamasutta (Trung bộ I), Phật dạy môn đệ: "Hỏi các Tỳ kheo, các ông có thể bám lấy một ngã luận (thuyết về ngã) nếu điều ấy không phát sinh sầu, bi khổ, ưu, não. Nhưng này các Tỳ kheo, các ông có thấy một ngã luận nào như thế hay không, một ngã luận mà khi chấp nhận nó, sẽ không phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, não?

    - Bạch đức Thế Tôn, nhất định là không.

    - Chính thế, hỏi các Tỳ kheo, Như Lai cũng vậy. Này các Tỳ kheo, Như Lai không thấy một ngã luận nào mà nếu chấp nhận, sẽ không phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, não."[16]

    Nếu Phật đã chấp nhận một ngã luận nào, thì chắc chắn ngài đã giảng ra đây, vì ngài bảo các Tỳ kheo hãy chấp nhận một ngã luận nếu luận thuyết đó không phát sinh đau khổ. Nhưng theo ngài, không có một thuyết nào như thế, và bất cứ một ngã luận nào, dù tinh tế và cao siêu đến đâu cũng chỉ là giả danh và tưởng tượng, sinh ra mọi vấn đề rắc rối, kéo theo những sầu, bi, khổ, ưu não.

    Tiếp theo, cũng trong kinh ấy Phật dạy:

    "Hỏi các Tỳ kheo, khi mà Ngã hay bất cứ cái gì thuộc về Ngã không thực có, thì quan điểm tư duy này: "Vũ trụ là Ngã, ta sẽ là Ngã sau khi chết, sẽ trường cửu, tồn tại, vĩnh viễn, bất biến, và ta sẽ hiện hữu như thế cho đến vô tận thời gian", quan điểm ấy có phải là hoàn toàn điên rồ chăng?"[17]

    Ở đây Phật nói rõ rằng một Àtman, hay linh hồn, hay Ngã, thì không thể tìm thấy đâu trong thực tại, và thật điên rồ để tin tưởng rằng có một chuyện như thế.

    Những người tìm kiếm một cái Ngã trong giáo lý Phật trích ra một ít ví dụ mà trước hết họ dịch sai, rồi giải thích một cách lầm lẫn. Một trong những ví dụ ấy là câu danh tiếng attà hi attano nàtho trong kinh Pháp cú (XII, 4 hay câu thơ 160), đã được dịch là "Ta là chúa tể của ta", và được giải thích rằng nó có nghĩa cái Ngã lớn là chúa tể của cái ngã nhỏ.

    Trước hết, lối dịch ấy không đúng. Attà đây không có nghĩa là ngã trong nghĩa linh hồn. Trong tiếng Pàli, danh từ attà thường được dùng như một đại danh từ, trừ số ít trường hợp được dùng theo nghĩa đặc biệt triết học để chỉ thuyết linh hồn như đã thấy ở trên.

    Theo cách dùng thông thường, như trong chương XII của Pháp cú, từ đấy câu trên được trích, và trong nhiều nơi khác, attà được dùng như một đại danh từ hay đại danh từ bất định có nghĩa "chính tôi", "chính anh", "chính nó", "chính ta", "chính người ta" v.v..[18]

    Kế đến, chữ nàtho không có nghĩa là "chúa tể", mà là "nơi nương tựa", "trú ẩn, giúp đỡû, che chở" [19]. Bởi thế Attà hi attano thật sự có nghĩa "Ta là chỗ nương của chính ta". Nó không dính dáng gì đến một cái ngã hay linh hồn siêu hình nào cả. Nó chỉ có nghĩa bạn phải nương cậy vào chính bạn chứ đừng ỷ lại vào kẻ khác.

    Một ví dụ khác về sự cố đưa ý tưởng về ngã vào giáo lý Phật là câu danh tiếng Attadìpà viharatha, attasarana anannasaranà được tách khỏi mạch văn kinh Ðại Bát Niết Bàn[20]. Câu này dịch sát ý có nghĩa: "Hãy là hòn đảo cho chính ngươi, là nơi trú ẩn cho chính ngươi, và đừng xem ai khác là nơi nương cậy"[21]. Những người muốn tìm ngã trong Phật giáo đã giải thích từ ngữ attadìpà và attasaranà là "lấy ngã làm ngọn đèn", "lấy ngã làm nơi nương tựa"[22].

    Ta không hiểu trọn ý nghĩa lời Phật khuyên A-nan (Ànanda) nếu không xét đến bối cảnh và mạch văn trong đó những lời này được thốt ra.

    Lúc ấy đức Phật đang nghỉ tại một khu làng gọi là Behuva, ba tháng trước khi Ngài mất, Bát Niết-bàn (parinirvàna). Bấy giờ Ngài đã 80 tuổi, đang lâm bệnh nặng. Nhưng Ngài nghĩ không nên chết mà không từ giã những môn đệ vốn gần gũi yêu mến Ngài. Bởi thế, một cách can đảm, cả quyết, Ngài chịu đựng tất cả đau đớn, thắng lướt cơn bệnh, và bình phục. Nhưng sức khỏe Ngài còn kém. Sau khi bình phục, một ngày kia Ngài ngồi trong bóng mát ở bên ngoài chỗ Ngài lưu trú. A-nan, vị thị giả tận tụy nhất của Phật, tiến đến đức Ðạo sư quý mến của mình, ngồi bên cạnh đức Thế Tôn và bạch:

    "Bạch đức Thế Tôn, con đã săn sóc sức khỏe đức Thế Tôn, con đã hầu hạ Ngài trong khi Ngài lâm bệnh. Nhưng khi thấy bệnh tình của Ngài, bầu trời đối với con trở nên mờ mịt, và các giác quan của con không còn sáng suốt nữa. Tuy nhiên con còn một điều an ủi nhỏ này: con nghĩ đức Thế Tôn sẽ không nhập Niết-bàn mà không để lại những lời di giáo đề cập đến đoàn thể Tăng già."

    Khi ấy đức Phật đầy từ bi và nhân ái, đã khoan hòa nói với người thị giả tận tụy thân yêu: "A Nan, đoàn thể Tăng già còn chờ đợi gì nơi ta nữa? Ta đã nói pháp (chân lý) không phân biệt cao thấp. Về phương diện chân lý, Như Lai không có gì như nắm tay khép chặt của một ông thầy (àcariyamutthi). Này A-nan, nếu người nào có ý nghĩ muốn lãnh đạo Tăng già, Tăng già phải tùy thuộc vào họ, thì dĩ nhiên họ sẽ đặt ra những chỉ dẫn. Nhưng Như Lai không có ý nghĩ ấy. Vậy thì sao Như Lai phải lưu lại những lời chỉ dẫn liên hệ đến tổ chức Tăng già? Nay ta đã già, A-nan, đã 80 tuổi. Như một chiếc xe cũ cần phải sửa chữa mới chạy được, cũng thế, thân xác của Như Lai bây giờ cũng chỉ tiếp tục điều hành nhờ sửa chữa. Bởi thế, này A-nan, hãy tự làm hòn đảo cho chính ngươi, hãy lấy chính ngươi làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác; hãy lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm nơi nương tựa, không ai khác có thể làm nơi nương tựa cho ngươi[23].

    Những gì đức Phật muốn truyền dạy A-nan thật quá rõ ràng. A-nan đang buồn sầu đau đớn. Ông nghĩ rằng mình sẽ hoàn toàn cô độc, không người giúp đỡ, không nơi nương tựa, không người hướng dẫn, sau khi đức Ðạo sư vĩ đại qua đời. Bởi thế đức Phật ban cho ông những lời an ủi, khuyên ông can đảm, tin tưởng, dạy rằng nên nương vào chính đạo và nương vào "Pháp" Ngài đã truyền, chứ đừng nương vào ai khác, vào cái gì khác. Ở đây vấn đề về một Àtman siêu hình, hay ngã, là hoàn toàn không nhằm chỗ.

    Sau đó, đức Phật giảng giải cho A-nan làm thế nào để có thể là hòn đảo hay chỗ trú ẩn cho chính mình: ấy là nhờ sự đào luyện tâm chú ý quán sát thân, cảm thọ, tâm và các pháp (4 pháp quán, xem chương kế tiếp về Quán tưởng)[24]. Ở đây cũng thế, không có một chữ nào liên hệ đến ngã hay linh hồn.

    Một tài liệu khác cũng rất thường được trích dẫn bởi những người muốn tìm Ngã trong giáo lý Phật. Một hôm đức Phật ngồi dưới bóng cây trong một khu rừng trên đường đi từ Benarès (Ba la nại) đến Uruvelà. Vào ngày ấy có 30 hoàng tử trẻ tuổi đang đi cắm trại cùng với những người vợ trẻ của họ trong cùng khu rừng ấy. Một ông hoàng chưa vợ mang theo một gái giang hồ. Trong khi những người khác đang vui đùa, thì cô ta trộm một vài đồ vật quý giá và trốn mất. Trong khi đi tìm cô ấy trong cánh rừng, trông thấy Phật đang ngồi dưới gốc cây họ hỏi Ngài có thấy một người đàn bà đi qua không. Ngài hỏi có chuyện gì, và sau khi nghe giải thích đức Phật hỏi họ: "Các ngươi nghĩ sao, hỏi những người trẻ tuổi? Ðiều gì tốt hơn cho các ngươi: đi tìm một người đàn bà, hay đi tìm chính mình?"[25]

    Ðây cũng lại là một câu hỏi rất giản dị và tự nhiên, không có lý do gì để đưa vào đấy những ý tưởng xa xôi về Ngã hay Linh hồn. Họ trả lời tốt hơn nên tìm kiếm chính mình. Phật liền bảo họ ngồi xuống và giảng pháp cho họ nghe. Theo bài pháp mà Phật đã giảng cho họ còn ghi lại trong kinh điển nguyên thủy, không có một chữ nào nói về ngã.

    Người ta đã viết nhiều về đề tài "sự im lặng của Phật", khi một du sĩ tên Vacchagotta hỏi Ngài có ngã hay không. Câu chuyện như sau:

    Vacchagotta đi đến đức Phật và thưa hỏi:

    - Thưa Ngài Cồ-đàm, có ngã hay không?

    Ðức Phật lặng im.

    - Thế thì thưa Ngài, không có ngã sao?

    Ðức Phật lại im lặng.

    Vacchagotta đứng dậy bỏ đi.

    Sau khi du sĩ (parivràjaka) rời khỏi, A-nan hỏi Phật vì sao Ngài đã không trả lời câu hỏi của Vacchagotta. Phật giải thích thái độ của Ngài như sau:

    - Này A-nan, khi du sĩ ấy hỏi: "Có ngã hay không?" , nếu trả lời: "Có" là ta đã đứng về phe các sa môn, Bà la môn chủ trương thuyết trường tồn (sassatavàda). Và này A-nan, khi du sĩ ấy hỏi: "Không có ngã hay sao?" nếu trả lời "Không" là ta đã đứng về phe các sa môn Bà la môn chủ trương thuyết đoạn diệt (uccheda vàda)[26].

    Lại nữa, này A-nan, khi du sĩ ấy hỏi: "Có ngã không?", mà ta trả lời: "Có" thì như thế có phù hợp với sự thấy biết của ta rằng vạn pháp là vô ngã hay không?"[27]

    - Bạch Thế Tôn, hẳn là không.

    - Lại nữa, này A-nan, khi du sĩ ấy hỏi: "Không có ngã hay sao?" mà ta trả lời: "Không", thì sẽ làm cho Vacchagotta đã hoang mang lại càng hoang mang thêm nữa [28]. Vì y sẽ nghĩ: "Trước kia quả thật ta có ngã, nhưng bây giờ ta không có nữa." [29]

    Bây giờ hẳn là ta phải hiểu rõ vì sao Phật im lặng. Nhưng ta sẽ còn hiểu rõ hơn nếu xét toàn thể bối cảnh và cách Phật xử trí về những câu hỏi và người hỏi - điều mà những người bàn đến vấn đề ấy hoàn toàn bỏ qua.

    Phật không phải như một máy tính tuôn ra đáp số cho bất kỳ câu hỏi nào, do bất cứ ai đặt ra, không cần suy xét. Ngài là một bậc Ðạo sư thực tiễn, đầy từ bi và trí tuệ. Ngài không trả lời câu hỏi để phô bày kiến thức và thông minh của mình, mà để giúp người hỏi trên đường đạt đến thực chứng. Khi nói với người nào Ngài luôn luôn quan tâm đến trình độ phát triển của họ, khuynh hướng của họ, cấu tạo tâm thức của họ, tính tình họ và khả năng họ để lĩnh hội vấn đề [30].

    Theo Phật, có bốn cách đáp câu hỏi:

    1. Có khi nên trả lời thẳng câu hỏi.
    2. Có câu hỏi cần trả lời bằng cách phân tích.
    3. Có khi nên trả lời bằng cách hỏi ngược lại.
    4. Và cuối cùng, có những câu hỏi nên dẹp, không đáp[31].

    Có thể có nhiều cách dẹp một vấn đề. Một cách là bảo vấn đề ấy không có giải đáp, đó là cách Phật đã có lần xử dụng với du sĩ Vacchagotta ấy, khi ông đặt những câu hỏi nổi tiếng về vũ trụ trường tồn hay không v.v..[32]. Cũng với cách ấy, Ngài đã trả lời cho Màlunkyaputta và những người khác. Nhưng Ngài không thể làm vậy về vấn đề có ngã hay không, vì Ngài đã luôn luôn thảo luận và giảng giải nó. Ngài không thể nói: "Có ngã" vì nó trái ngược với kiến giải của Ngài rằng tất cả các pháp vô ngã. Và Ngài cũng không muốn nói không có linh hồn, vì như thế là vô cớ làm cho anh chàng tội nghiệp Vacchagotta đã hoang mang càng hoang mang thêm, như chính anh ta đã công nhận[33]. Anh ta chưa đủ căn cơ để hiểu về vô ngã. Vì vậy trong trường hợp này, dẹp câu hỏi sang một bên bằng cách im lặng, là thái độ khôn ngoan nhất.

    Ta cũng đừng quên rằng Phật đã biết rõ Vacchagotta từ lâu. Ðây không phải dịp đầu tiên mà người du sĩ thắc mắc ấy đến thăm Phật. Ðấng Ðạo sư đầy trí tuệ và từ bi đã lưu tâm chú ý nhiều đến con người tìm kiếm hoang mang này. Có nhiều đoạn nói đến du sĩ Vacchagotta trong các bản kinh Pàli, ông đã từng tìm đến Phật và các môn đệ Ngài khá nhiều lần, lặp đi lặp lại nhiều lần cùng những câu hỏi ấy, rõ ràng ông rất băn khoăn, hầu như bị vấn đề kia ám ảnh[34]. Sự im lặng của Phật có lẽ đã có hiệu quả đối với Vacchagotta hơn bất cứ một sự trả lời hay thảo luận hùng hồn nào[35].

    Một vài người xem ngã có nghĩa là cái gì thường được gọi là "tâm" hay "thức". Nhưng Phật dạy rằng chẳng thà người ta nên xem thân xác vật lý của mình là "ngã" còn hơn xem tâm, ý hay thức (citta, mano,vinnàna) là ngã vì tâm, ý hay thức thì biến đổi không ngừng ngày cũng như đêm, thay đổi còn mau chóng hơn cả thể xác (kàya)[36].

    Chính cảm giác mơ hồ "có tôi" đã phát sinh ý tưởng về ngã, vốn không có cái gì tương đương trong thực tại: và thấy được chân lý ấy tức là thực chứng Niết-bàn, một điều không phải dễ dàng cho lắm. Trong kinh Tương ưng bộ Samyuttanikàya[37], có một cuộc đàm thoại khá làm sáng tỏ vấn đề về điểm này giữa thầy Tỳ kheo tên Khemaka và một nhóm Tỳ kheo. Những vị này hỏi Khemaka có thấy trong Ngũ uẩn một cái "ngã" nào hay bất cứ gì thuộc về "ngã" không. Khemaka trả lời "không". Ðoạn những Tỳ kheo bảo nếu thế thì ông ta phải là một vị La hán đã thoát khỏi mọi ô nhiễm. Nhưng Khemaka thú thật rằng mặc dù ông không tìm thấy trong Ngũ uẩn một cái ngã nào hay bất cứ gì thuộc về ngã, "tôi vẫn không phải là một La hán (Arahant) đã thoát khỏi mọi ô nhiễm bất tịnh. Này chư hiền, đối với Ngũ thủ uẩn, tôi có cảm giác rằng "có tôi", nhưng không thấy rõ "cái này là cái tôi". Rồi Khemaka giải thích rằng cái ông ta gọi là "tôi" không phải sắc, không phải thọ, không phải tưởng, không phải hành, cũng không phải thức, cũng không phải bất cứ gì ngoài chúng. Nhưng ông vẫn có một cảm giác "có tôi" đối với 5 thủ uẩn, mặc dù ông không thể thấy rõ "Ðây là cái tôi."[38]

    Khemaka nói cũng giống như mùi thơm của một bông hoa: nó không phải là mùi thơm của các cánh hoa, không phải của màu hoa, không phải của đài hoa, nhưng là mùi thơm của hoa. Ông còn giải thích thêm rằng ngay cả một người đã đạt đến những giai đoạn đầu tiên của sự thực chứng vẫn còn có cảm giác "có tôi" ấy. Nhưng về sau, khi tiến xa hơn, cảm giác ấy hoàn toàn biến mất, hệt như mùi hóa học của một chiếc áo mới giặt sẽ bay mất một thời gian sau khi ra khỏi chiếc hộp đựng nó.

    Cuộc thảo luận này ích lợi và làm sáng tỏ vấn đề đối với họ đến nỗi sau đó, như bản kinh ghi lại, tất cả mọi người, kể cả Khemaka, đều chứng quả A-la-hán, giải thoát mọi ô nhiễm, và thế là cuối cùng họ đã đánh tan được cảm giác "có tôi ".

    Theo giáo lý Phật, chấp rằng "tôi không có ngã" (tức là thuyết đoạn diệt) cũng sai lầm như chấp rằng "tôi có ngã" (thuyết trường tồn), bởi vì cả hai quan niệm đều trói buộc, đều phát sinh từ ý tưởng sai lầm "có tôi". Thái độ đúng đối với vấn đề vô ngã là không nắm giữ một quan điểm hay "kiến" nào, mà cố nhìn sự vật một cách khách quan, nhìn chúng như sự thật, không có những dự phóng của tâm thức. Phải thấy rằng cái mà ta gọi là "tôi" hay "ngã" chỉ là một kết hợp của các uẩn vật lý và tâm linh, hoạt động tương quan mật thiết lẫn nhau trong một dòng biến chuyển từng sát na, chịu chi phối của luật nhân quả, và trong toàn thể hiện hữu, không có gì là trường cửu, vĩnh viễn bất biến.

    Ở đây một câu hỏi tự nhiên đặt ra: "Nếu không có ngã, thì ai chịu những hậu quả của nghiệp (hành động)?" Không ai có thể giải đáp câu hỏi này hơn Phật. Khi một Tỳ kheo hỏi Ngài câu đó, Phật dạy: "Hỏi các Tỳ kheo, Ta đã dạy các ông thấy rõ tính duyên khởi trong mọi sự vật."[39]

    Giáo lý Phật về Vô ngã không nên được xem như tiêu cực hay hủy diệt. Cũng như Niết-bàn, đấy là Chân lý, Thực tại, và Thực tại thì không bao giờ là tiêu cực. Chính niềm tin sai lầm vào một cái ngã tưởng tượng không có thực mới là tiêu cực. Giáo lý Vô ngã xua tan bóng tối của tà tín và phát sinh ánh sáng trí tuệ. Nó không tiêu cực, như Vô Trước (Asanga) đã nói rất đúng: "Có một thực tại là Vô ngã" (nairàtmyàstità) [40].

    Ghi chú:

    [1] Mhvg. (Alutgama, 1922), p.4 ff.; MI (PTS), p.167 ff.

    [2] Sẽ được giải thích sau này.

    [3] M III (PTS), p.63, S II (PTS), pp. 28, 95 etc. Theo hình thức ngày nay: khi A có, thì B có; khi A sinh, thì B sinh; khi A không có, thì B không có; khi A diệt, thì B diệt.

    [4] Vism (PTS), p.517

    [5] Xem Chương Ba.

    [6] Vì giới hạn sách không cho phép bàn đến lý thuyết quan trọng nhất này trong Phật giáo. Một khảo luận phê phán và tỷ giáo chi tiết đề tài ấy sẽ được tìm thấy trong một tác phẩm sắp xuất bản về Triết học Phật giáo do cùng một biên giả.

    [7] Sàratha II (PTS), p.77

    [8] Mh. Sùtràlankàra, XVIII 92

    [9] H. Von Glasenapp, "Vedanta và Buddhism" vấn đề vô ngã trong The Middle Way", Feb. 1957, p.154

    [10] Xem các sách của bà Rhys Davids: Gotama the Man, Sàkya on Buddhist Origins, A Manual of Buddhism, What was the Original Buddhism, v.v..

    [11] M I (PTS), pp.136-137

    [12] Ðược trích trong MA II (PTS), p.112

    [13] Chữ Dhammà, pháp, ở đây được F.L. Woodward trong tác phẩm The Buddha Path of Virtue dịch là "all states compounded" - tất cả những gì được kết hợp- là hoàn toàn sai, từ ngữ này ám chỉ hành.

    [14] Samkhàra trong năm uẩn có nghĩa "hành" hay "những hoạt động tâm lý" phát sinh nghiệp quả. Nhưng ở đây có nó nghĩa mọi sự vật bị giới hạn hay bị kết hợp, gồm cả năm uẩn. Danh từ Samkhàra có nghĩa khác nhau tùy trường hợp.

    [15] Cf. Sabbe Samkhàra aniccà "mọi sự vật giới hạn là vô thường" Sabbe dhammà anattà "mọi pháp đều là vô ngã" M I (PTS), p.228; S II, pp., 132-133.

    [16] MI (PTS), p.137

    [17] Ibid, p.138. Nói đến đoạn này, S. Radhakrishnan (Indian Philosophy, Vol. I, London, 1940, p.485) viết "chính quan niệm sai lầm về sự tương tục vĩnh viễn của tiểu ngã mới bị đức Phật bác bỏ". Ta không thể đồng ý với nhận xét này. Trái lại ở đây đức Phật bài bác cả Ðại ngã hay linh hồn. Như ta đã thấy vừa rồi, trong một đoạn trước, đức Phật không chấp nhận một cái ngã nào, dù lớn hay nhỏ. Theo quan niệm của Ngài, mọi lý thuyết về Atman đều là sai lầm, là bóng dáng của tâm thức.

    [18] Trong bài "Vedanta and Buddhism" (The Middle Way, February, 1957), H. Von Glasenapp nói điểm này rất rõ.

    [19] Và Anàtha là không nơi nương tựa, Lokanàtha là chỗ nương của thế gian, chứ không phải là chúa tể thế gian.

    [20] D II (Colombo, 1929), p.62

    [21] Rhys Davids (Dìgha-nikàya bản dịch II, p.108) dịch: "Be ye lamps unto yourselves. Be ye a refuge to yourselves. Betake yourselves to no external refuge!" -- Hãy là ngọn đèn cho chính ngươi, chỗ nương cho chính ngươi, chớ nương tựa vào ai khác.

    [22] Dìpa đây không có nghĩa là đèn, mà nhất định có nghĩa "đảo". Dìgha-nikàyà (Trường Bộ kinh sớ giải) (DA Colombo ed., p380) bàn về chữ Dìpa ở đây nói:

    "Mahàsamuddagatam dìpam viya attànam dìpam patittam katvà viharatha". "Hãy làm một hòn đảo cho chính người, một nơi nương cậy (nghỉ ngơi) như một hòn đảo giữa bể khơi". Samsàra, sinh tử, thường được ví như một đại dương, Samsàrasàgara, và cái gì cần thiết để đựơc an ổn giữa đại dương là một hòn đảo, đất liền chứ không phải một ngọn đèn.

    [23] D II (Colombo, 1929), pp. 61-62 chỉ có câu cuối được dịch nguyên văn. Phần còn lại của câu chuyện được kể vắn tắt theo kinh Ðại Bát Niết Bàn.

    [24] Ibid p.62. Về Satipatthàna xem chương VIII về Thiền định.

    [25] Mhvg (Alutgama, 1929), pp. 21-22

    [26] Vào một dịp khác, đức Phật đã bảo chính Vacchagotta này rằng đức Như Lai không có lý thuyết nào hết, bởi vì Ngài đã thấy rõ bản chất của sự vật [M I (PTS), p. 486]. Ở đây cũng thế, Ngài không muốn liên kết với bất cứ lý thuyết gia nào.

    [27] Sabbe dhammà anattà. Chư pháp vô ngã. Ðúng y dòng đầu kinh Pháp cú, XX, 7, đã dẫn ở trên. Woodward đã hoàn toàn sai khi dịch những chữ này là "mọi sự đều vô thường" (Kindred Saying V, p.282) có lẽ vì sơ ý. Những lỗi này rất hệ trọng. Có lẽ đây là một trong những lý do vì sao người ta đã có quá nhiều cuộc luận đàm vô ích về cái im lặng của đức Phật. Chữ quan trọng nhất trong câu này, chữ anatta "vô ngã", đã được dịch là "vô thường". Những bản dịch kinh Pàli ra Anh ngữ thường có những lỗi lầm lớn nhỏ thuộc loại này khi thì vì sơ ý và bất cẩn, khi thì vì thiếu chuyên môn trong ngôn ngữ của nguyên bản. Dù sao, thiết tưởng cũng không vô ích khi nhắc lại ở đây- mà vẫn không quên ơn những bậc tiền phong trong địa hạt này- rằng, chính những lỗi lầm ấy đã gây ra nhiều tư tưởng sai lầm về Phật giáo trong những người không đọc được nguyên bản. Bởi thế ta cũng lấy làm mừng khi biết rằng cô I. B. Horner, thư ký của hội Pàli Text, đã dự định xuất bản lại những bản dịch mới có sửa chữa.

    [28] Xem Ghi chú số 33 bên dưới.

    [29] S IV (PTS), pp. 400- 401

    [30] Trí này của Phật được gọi là Indriyaparopariyattanàna, biết căn tánh chúng sinh. M I (PTS), p.70, Vibh (PTS), p.340.

    [31] A (Colombo, 1929) p.216

    [32] Ví dụ: S IV (PTS), pp. 393-395, M I (PTS), p.484

    [33] Quả vậy, vào một dịp khác trước đấy, khi Phật giải thích vấn đề sâu xa vi tế - Vấn đề vị La-hán chết rồi sẽ ra sao - Vacchagotta nói: "Thưa Ngài Cồ-đàm, ở đây tôi bị rơi vào ngu tối, tôi hoang mang. Những gì mà tôi ít tin tưởng lúc bắt đầu câu chuyện với Ngài, những gì đó bây giờ cũng đã tan biến mất." (M I (PTS) p.489). Vì vậy mà đức Phật không muốn làm cho anh ta hoang mang thêm.

    [34] Ví dụ: xem S III (PTS), pp. 257-263, IV, pp.391 f., 395 f., 398f., 400; MI, pp. 481 f., 483 f., 489 f., A V p. 193.

    [35] Bởi vì ta thấy rằng sau đó, Vacchagotta lại đến thăm đức Phật, nhưng lần này anh chàng không hỏi gì như thường lệ, mà lại nói: "Ðã lâu nay tôi mới lại đến thăm Ngài. Tôi mong Ngài Cồ Ðàm sẽ giảng cho tôi vắn tắt về Thiện và Ác". Phật dạy rằng Ngài sẽ giảng cho ông về Thiện và Ác, vắn tắt cũng như chi tiết, và Ngài đã làm thế. Cuối cùng Vacchagotta trở thành một đệ tử của đức Phật, và theo giáo lý Ngài, ông đắc quả A-la-hán, thực chứng Chân lý, Niết-bàn, và khi ấy những vấn đề ngã và các vấn đề khác không còn ám ảnh ông. M I (PTS), pp. 489-ff.

    [36] S II (PTS), p.94. Vài người cho rằng "Như Lai Tạng" hay "Tạng thức" trong Ðại thừa giáo là một cái gì tương tự "Ngã". Nhưng kinh Lăng già nói hẳn rằng đấy không phải là Ngã (Lanka, p.78-79).

    [37] S III (PTS) pp. 126 ff.

    [38] Ðiều này cũng chính là điều mà ngày nay phần nhiều người ta thường nghĩ về Ngã.

    [39] M III (PTS) p. 19; S III, p. 103.

    [40] Abhisamuc, p.31.
    Chỉnh sửa lần cuối bởi Anh Các Chú vào 23-06-2013 lúc 10:25 PM
    Anh hứa sẽ ngậm mồm cho đến cùng trên diễn đàn này để bảo vệ quyền được nói của Anh

  7. 23-06-2013, 10:18 PM
    Lý do
    Trùng

  8. #677
    Thành viên chính thức
    Tham gia ngày
    Mar 2010
    Bài viết
    4,475
    Trích salsa viết: Xem bài viết
    l
    Nói tiếp, túm lại theo Phật giáo, muốn được giải thoát (khỏi cái khổ) phải ngộ được tứ diệu đế và thuyết vô ngã, (trong đó nói nhiều thứ một trong những thứ đó là cái ta nó không có thật chì do ngũ uẩn hợp bởi duyên) .
    Ngộ được thì sẽ
    không còn thấy khổ, sẽ ung dung tự tại và đó là đang ở cảnh niết bàn rồi chứ không phải chờ chết rổi mới bay bay lên cõi trời cõi tây phuơng nào cả.
    không còn sợ chết thì gọi là thoát khỏi vòng sanh tử , chứ sanh sanh diệt diệt là cái lý của trời đất không ai thoát khỏi hết Phật cũng vậy thôi cũng ỉa chảy mà chết đó thôi.
    Cái này thì hùi đó ông Phật sống ở hoàng cung, vua cha lo hết cho ổng rùi.

    Người hầu hạ toàn là thanh niên thiếu nữ trẻ đẹp, khỏe mạnh.
    Chung quanh toàn là hột xoàn vàng bạc giàu sang chói mắt. Đồ ăn thì đủ thứ ngon lạ.

    Nói tóm lại không cho ổng thấy cảnh già lảo, chết chóc, nghèo khổ, bịnh tật. Theo như ý bác thì ổng đang sống ở niết bàn rùi còn gì vậy mà ổng cũng trốn ra ngoài.

    Bác đâu có bằng ổng sống giam trong hoàng cung. Chung quanh bác thì cảnh khổ cả đống sao bác hỏng thấy kể cũng lạ.

    Bị ép chút xíu chưa khổ lắm mà mấy ông sư la um sùm, có ông thì tự thiêu được lảo Âu lạc phong làm bồ tát.

    Không sợ chết thì bác nên coi lại chớ tui thấy người theo đạo phật sợ chết sợ khổ hơn mấy người theo tôn giáo khác à nha.

    Đâu phải hỏng sợ chết rùi kêu là giải thoát. Nói như bác thì đám khủng bố ôm bom là tụi nó đã thoát vòng sanh tử rùi đó hả.

  9. #678
    Thành viên chính thức
    Tham gia ngày
    Mar 2010
    Bài viết
    4,475
    Trong phần thảo luận về Diệu đế thứ nhất (Khổ đế, dukkha), chúng ta đã thấy cái mà ta gọi linh hồn hay cá thể được cấu tạo bởi năm uẩn, và khi phân tích kỹ năm uẩn ta không thấy có gì đằng sau chúng có thể gọi được là Tôi, Àtman hay Ngã, hay bất cứ bản thể trường tồn bất biến nào. Ðấy là phương pháp phân tích.

    Trong này tui thấy lảo ACC là cộng sản nhưng lại hiểu rành đạo phật.

    Tui cũng đồng ý đạo phật không có nói diệt ngã.

    Cho hỏi lảo người có 5 uẩn ngoài ra không có gì khác.

    Còn nhân quả là hành động, hành động thì hỏng có dính dấp gì tới thân thể hay linh hồn của con người.

    Vậy đầu thai qua kiếp sau thì cái gì chạy theo lảo? Lảo nói lảo làm quan kiếp này vì kiếp trước lảo tu nhưng có cái gì dính dô đâu để cho lảo đầu thai làm quan.

  10. #679
    Thành Viên
    Tham gia ngày
    May 2010
    Bài viết
    2,542
    Câu hỏi của chú Vĩnh Long vẫn là một câu hỏi mà ai ai khi tìm hiểu về Phật giáo cũng đều hỏi đấy là nếu mỗi con người được xem là sự kết hợp của Ngũ Uẩn và cái Ngũ Uẩn này không trường tồn vậy khi chết cái gì đi đầu thai nếu con người thật sự không có linh hồn? Từ từ rồi anh sẽ đi vào chi tiết câu hỏi của chú Vĩnh Long. Tuy nhiên anh sẽ trả lời sơ là khi chết đi rồi thì chính Nghiệp là nguyên nhân khiến con người ta được tái sanh. Và cái mà đi tái sanh trong Phật giáo gọi là Thức (hay chính xác chính là A Lại Da Thức) hoặc cũng có thể gọi là Thần Thức (anh nhớ hình như anh đã có đề cập sơ về điều này ở đầu thớt). Để đơn giản cho dễ hiểu là con người ai ai cũng đều có một dục vọng, hay đúng ra là cái lòng ham muốn được sống. Và cái dục vọng và lòng ham muốn này vô cùng mạnh mẽ. Nó sẽ như là một chủng tử (hay dễ hiểu là một hạt mầm) được gieo vào trong tiềm thức của mỗi người. Đấy là nguyên nhân của sự tái sinh. Dĩ nhiên khi đã có nhân thì sẽ có quả đấy là khi chết đi. Thể xác mất đi, con người chỉ còn lại Ý Thức này. Và khi đó cái chủng tử (hạt mầm) đã được gieo trồng từ trước nhờ vào nhân duyên nó có dịp được nẩy nở và dĩ nhiên kết quả tất yếu là nó sẽ là động lực để một con người được tái sinh. Tùy theo Nghiệp lực thế nào mà con người sẽ được tái sinh vào cõi tương ứng trong lục đạo. Dĩ nhiên một người có tu hành, hành thiện thì gieo Nhân tốt thì sẽ được Quả tốt đấy chẳng hạn như anh sẽ được làm quan là chiện bình thường . Bởi khi tu anh đã gieo trồng vào tiềm thức của mình một hạt giống tốt và kết quả anh nhận được là đương nhiên.

    Tuy nhiên muốn hiểu được tường tận thì không nên gấp các chú nhé , và trước tiên ta phải tìm hiểu rõ xem Ngũ Uẩn là gì cái đã.

    Để tìm hiểu về Ngũ Uẩn cũng như để tiếp tục chương trình chúng ta tiếp theo tới phần quan trọng nhất của Phật giáo đấy là Tứ Diệu Đế. (tạm hiểu là chân lý về 4 sư thật), Đấy là KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO, trong phần này sẽ giải thích rõ thế nào là Ngũ Uẩn

    Chân Lý thứ nhất: Khổ.

    TỨ DIỆU ÐẾ
    (Bốn chân lý cao cả)

    Chân lý thứ nhất: DUKKHA (Khổ)

    Trọng tâm của giáo lý đức Phật nằm trong Tứ diệu đế (Cattàri Ariyasaccani) mà Ngài tuyên dương ngay trong bài thuyết pháp đầu tiên[1] của Ngài cho những người bạn cũ, 5 nhà khổ hạnh ở vườn Lộc uyển (Isipatana-Sarnath ngày nay) gần Benarès (Ba-la-nại). Trong bài thuyết pháp ấy như chúng ta thấy trong nguyên bản, Tứ diệu đế (bốn chân lý cao cả) được nói một cách vắn tắt. Nhưng có vô số những chỗ khác trong các kinh điển nguyên thủy trong ấy Tứ diệu đế được giảng đi giảng lại với nhiều chi tiết hơn, và bằng nhiều cách khác nhau. Nếu nghiên cứu Tứ Diệu Ðế này qua những tài liệu và giải thích ấy, ta sẽ có được một tường thuật khá đứng đắn và chính xác về những giáo lý tinh yếu của đức Phật theo những bản kinh Nguyên thủy.

    Bốn chân lý cao cả ấy là:

    Khổ (Dukkha)[2] .
    Tập (Samudaya), sự phát sinh hay nguồn gốc của khổ.
    Diệt (Nirodha), sự chấm dứt khổ.
    Ðạo (Magga), con đường đưa đến sự chấm dứt khổ.

    Chân lý thứ nhất: KHỔ ÐẾ

    Diệu đế thứ nhất (Dukkha-ariyasacca) thường được hầu hết các học giả dịch là "Chân lý cao cả về sự khổ" và nó được giải thích là: sự sống, theo Phật giáo, chỉ là đau khổ. Cả sự phiên dịch lẫn giải thích ấy đều rất sai lạc và không làm ta thỏa mãn. Chính lối phiên dịch dễ dãi hẹp hòi và cách giải thích nông cạn về khổ đế đã khiến nhiều người lầm xem Phật giáo là yếm thế bi quan.

    Trước hết, Phật giáo không bi quan cũng không lạc quan mà hiện thực, vì có lối nhìn hiện thực về nhân sinh và vũ trụ. Phật giáo nhìn sự vật một cách như thật (yathàbhùtam).

    Phật giáo không tìm cách ru người vào ảo tưởng về một thiên đường lừa bịp, cũng không làm người ta chết khiếp vì đủ thứ tội lỗi và sợ hãi tưởng tượng. Nó cho ta biết một cách khách quan ta là gì, thế giới quanh ta là gì, và chỉ con đường đưa đến tự do hoàn toàn, thanh bình, an ổn và hạnh phúc.

    Một y sĩ có thể phóng đại về một chứng bệnh khiến người ta tuyệt vọng. Một y sĩ khác vì không biết gì, có thể tuyên bố không sao cả, không cần chữa - lừa dối con bệnh bằng một sự an ủi giả dối. Người ta có thể gọi người đầu bi quan và người sau lạc quan; cả hai đều nguy hiểm. Nhưng một y sĩ thứ ba định bệnh một cách chính xác, hiểu rõ nguyên nhân và bản chất bệnh, thấy rõ có thể chữa, nên can đảm bắt tay vào việc chữa trị, nhờ thế cứu được bệnh nhân. Ðức Phật giống như vị lương y sau cùng này. Ngài là vị lương y có trí tuệ và khoa học để trị những căn bệnh của thế gian (bhisakka hay Bhaisajyagury).

    Ðã đành Phạn ngữ dukkha trong cách dùng thông thường có nghĩa là "đau khổ", "đau đớn", "buồn" hay "sự cơ cực", tương phản với chữ "sukkha" có nghĩa "hạnh phúc", "tiện nghi", hay "thoải mái". Nhưng danh từ dukkha trong Diệu đế thứ nhất, trình bày quan điểm của đức Phật về nhân sinh và vũ trụ, có một ý nghĩa triết lý sâu sắc hơn và hàm chứa những nội dung rộng lớn hơn nhiều. Dĩ nhiên ai cũng công nhận danh từ Dukkha trong diệu đế thứ nhất rõ ràng có chứa đựng ý nghĩa thông thường của "khổ", nhưng ngoài ra nó còn bao hàm những ý nghĩa sâu sắc hơn như "bất toàn", "vô thường", "trống rỗng", "giả tạm". Bởi thế, thật khó tìm một chữ có thể bao quát toàn nội dung danh từ Dukkha kể như Khổ đế, và vì thế tốt hơn nên để vậy đừng phiên dịch, hơn là gây một ý tưởng sai lầm không xác đáng về nó bằng cách dịch dễ dãi tiện lợi thành ra "khổ" hay "đau khổ".

    Ðức Phật không phủ nhận có hạnh phúc trong sự sống khi Ngài bảo sống là khổ đau. Trái lại Ngài chấp nhận có những hình thái khác nhau về hạnh phúc, cả vật chất cũng như tinh thần, cho người thế tục cũng như cho người xuất thế. Trong kinh Tăng chi bộ (Anguttara-nikàya) một trong năm tạng kinh nguyên thủy bằng tiếng Pali, chứa đựng những bài thuyết pháp của đức Phật, có những bảng kê những hạnh phúc (sukkàni), như hạnh phúc của cuộc đời ẩn sĩ và hạnh phúc của cuộc sống gia đình, hạnh phúc của khoái lạc giác quan và hạnh phúc của sự từ bỏ thế tục, hạnh phúc của sự ràng buộc và hạnh phúc của sự giải thoát, hạnh phúc vật lý và hạnh phúc tâm linh v.v..[3] Nhưng tất cả những điều này đều bao gồm trong Dukkha. Cả đến những cảnh giới tâm linh rất thuần khiết của thiền (dhyàna, tĩnh lự), đạt được nhờ thực hành Thiền quán, hoàn toàn thoát khỏi cả đến bóng dáng của khổ đau theo nghĩa thông thường, những cảnh giới có thể gọi là hạnh phúc thuần túy cũng như cảnh giới Thiền đã vượt khỏi những cảm giác vừa lạc (sukkha) vừa khổ (dukkha) chỉ còn là Thức thuần tịnh - cả đến những cảnh giới tâm linh rất cao siêu đó, cũng được bao hàm trong dukkha. Trong một kinh Trung bộ Majjhima-nikàya (một trong năm bộ kinh nguyên thủy), sau khi ca tụng hạnh phúc tâm linh của những cảnh thiền ấy, đức Phật dạy: "Chúng đều là vô thường, khổ (dukkha), phải chịu đổi thay" (aniccà dukkhà viparimàmadhammà)[4]. Hãy để ý chữ dukkha đã được dùng đầy ý nghĩa. Nó là dukkha không phải vì có "đau khổ" trong nghĩa thông thường của danh từ, mà vì "cái gì vô thường là dukkha" (yad aniccamtam dukkham)

    Ðức Phật vốn thực tế và khách quan. Nói về đời sống và sự hưởng thụ những khoái lạc giác quan, Ngài dạy rằng người ta nên hiểu rõ ba điều:

    - sự lôi cuốn hay vị ngọt (assàda).
    - hậu quả xấu, nguy hiểm, sự bất mãn (adìnava).
    - sự giải thoát hay xuất ly (nissarana).[5]

    Khi bạn thấy một người vui vẻ, duyên dáng và đẹp đẽ, bạn thích họ, bạn bị lôi cuốn, bạn muốn thấy đi thấy lại người ấy nhiều lần, bạn rút được khoái lạc và mãn nguyện từ đó. Ðấy là một thực tại của kinh nghiệm. Nhưng sự vui hưởng ấy không trường cửu, cũng như người kia và những vẻ lôi cuốn của họ cũng không trường cửu. Khi hoàn cảnh thay đổi, khi bạn không thể thấy người ấy, khi bạn bị tước đoạt nguồn vui ấy, bạn đâm ra buồn bã, bạn có thể thiếu phải chăng, mất quân bình, đôi khi còn có thể hành động rồ dại. Ðấy là khía cạnh xấu, không đẹp ý và nguy hiểm của bức tranh (adìnava). Ðiều này cũng là một thực tại kinh nghiệm. Bây giờ, nếu bạn không có gì lưu luyến với người đó, nếu bạn hoàn toàn không dính mắc, thì đấy là tự do, đấy là giải thoát (nissarana). Ba điều này đúng cho tất cả mọi sự hưởng thụ trên đời.

    Từ đây ta thấy rõ không có vấn đề bi quan hay lạc quan, mà vấn đề là ta phải nhận rõ những khoái lạc của sự sống cũng như sự giải thoát khỏi chúng, để hiểu sự sống một cách toàn diện và khách quan. Chỉ khi ấy mới có thể gọi là giải thoát chân thật. Về vấn đề này đức Phật dạy:

    "Hỏi các Tỳ kheo, nếu sa môn hay Bà la môn nào không hiểu một cách khách quan rằng vị ngọt của khoái lạc giác quan là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thì chắc chắn họ không thể nào hiểu rõ ham muốn đối với khoái lạc giác quan, không thể nào chỉ dẫn cho người khác đi đến mục đích đó, ai theo chỉ dẫn của họ không thể hiểu được thế nào là ham muốn đối với khoái lạc giác quan. Nhưng hỏi các Tỳ kheo, Sa môn hay Bà la môn nào hiểu được một cách khách quan vị ngọt khoái lạc giác quan là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thì chắc chắn những người này sẽ hiểu được hoàn toàn thế nào là ham muốn đối với khoái lạc giác quan, có thể chỉ dẫn cho người khác đi đến mục đích ấy, và ai theo lời chỉ dẫn của họ sẽ hoàn toàn hiểu được thế nào là ham muốn đối với khoái lạc giác quan" [6].

    Quan niệm về dukkha có thể nhìn từ ba phương diện:

    - dukkha trong nghĩa khổ thông thường, gọi là khổ khổ (dukkha- dukkha);
    - dukkha phát sinh do vô thường, chuyển biến, hoại khổ (viparinàma- dukkha).
    - dukkha vì những hoàn cảnh giới hạn của sinh tử, hành khổ (samkhàra- dukkha). [7]

    Mọi thứ đau khổ trong đời như sinh, lão, bệnh, tử, phải gặp những người và hoàn cảnh trái ý (oán tăng hội), phải xa lìa những người và hoàn cảnh mến yêu (ái biệt ly), không được những gì mình ưa muốn (cầu bất đắc), buồn thương, đau khổ, tất cả những hình thức khổ thể xác và tinh thần ấy (ngũ ấm xí thạnh), những điều mà ai cũng nhận là đớn đau, khổ sở, đều được bao gồm trong dukkha theo nghĩa khổ thông thường, khổ-khổ (dukkha- dukkha).

    Một cảm giác hoan lạc, một hoàn cảnh hạnh phúc trong đời không bao giờ trường cửu bất diệt. Sớm hay muộn nó cũng thay đổi. Khi biến đổi, nó phát sinh khổ đau bất hạnh. Sự thăng trầm này được bao hàm trong dukkha theo nghĩa những khổ đau phát sinh do sự chuyển biến vô thường, gọi là hoại khổ (viparinàma- dukkha).

    Hai hình thức khổ (dukkha) trên đây thật dễ hiểu, không ai chối cãi. Khía cạnh này của Diệu đế thứ nhất thường được người ta biết đến nhiều hơn vì nó dễ hiểu; đấy là kinh nghiệm thường ngày.

    Nhưng hình thức thứ ba của dukkha là hành khổ (samkhàra - dukkha), mới chính là khía cạnh triết lý quan trọng nhất trong chân lý đầu tiên. Muốn hiểu nó, ta cần giải thích, phân tích cái mà ta gọi là một "thực thể", một "cá nhân", hay "cái tôi".

    Cái mà ta gọi "bản ngã", "cá thể", hay "tôi" theo triết lý Phật giáo, chỉ là một sự phối hợp những năng lực tâm vật lý hằng biến, có thể chia thành 5 nhóm hay uẩn (pancakkhandha). Ðức Phật dạy: "Tóm lại, năm uẩn trói buộc là dukkha"[8]. Ở một chỗ khác, Ngài định nghĩa rõ rằng "Dukkha là gì, phải nói rằng đấy là ngũ uẩn" [9]. Ðây ta cần hiểu rõ rằng dukkha và năm uẩn không phải là hai, năm uẩn chính là dukkha. Chúng ta sẽ hiểu điểm này rõ hơn, khi có một khái niệm về năm uẩn cấu tạo nên cái mà ta gọi là "thực thể" hay "ngã". Năm uẩn ấy là gì?

    NGŨ UẨN

    Uẩn thứ nhất là sắc uẩn (rùpakkhandha). Trong từ ngữ "sắc uẩn" này, bao gồm bốn đại cổ truyền (cattàri mahàbhùtàni) là đất, nước, lửa, gió (địa, thủy, hỏa, phong) và vật chất do bốn đại tạo (sở tạo sắc upàdàya-rùpa)[10]. Trong những sở tạo sắc ấy gồm có năm căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và những đối tượng ngoại giới tương đuơng với năm căn ấy (5 cảnh): hình sắc, âm thanh, mùi, vị, những vật có thể chạm xúc (sắc, thanh, hương, vị, xúc) và ý nghĩ hay tư tưởng thuộc đối tượng của tâm (pháp xứ - dharmàyatana)[11]. Như thế tất cả thế giới vật thể, thuộc nội tâm cũng như ngoại giới, đều bao gồm trong sắc uẩn.

    Uẩn thứ hai là cảm giác hay thọ (vedanàkkhandha). Uẩn này bao gồm tất cả những cảm giác vui khổ hoặc không vui không khổ, được cảm nhận do sự tiếp xúc của những cảm quan tâm vật lý (căn) với thế giới bên ngoài (cảnh). Những cảm giác này có 6 loại: những cảm giác phát sinh khi mắt xúc tiếp với những hình sắc, tai với âm thanh, mũi với mùi, lưỡi với vị, thân thể với những vật cứng mềm, và ý (mà trong triết học Phật giáo được xem là quan năng thứ sáu) với những đối tượng của ý thức hay tư tưởng, ý nghĩ[12]. Tất cả mọi cảm giác vật lý và tâm linh của ta đều bao hàm trong uẩn này.

    Ở đây ta cũng nên giải thích sơ lược về ý nghĩa bao hàm trong từ ngữ "ý" (manas) của triết học Phật giáo. Cần hiểu rõ "ý" không phải là "tâm" đối lập với vật. Ta nên luôn luôn nhớ Phật giáo không công nhận có một tinh thần đối lập với vật chất như phần đông các hệ thống triết học và tôn giáo khác chỉ là một giác quan hay cơ quan (căn, indriya) như mắt hay tai. Nó có thể được điều khiển, phát triển như bất cứ giác quan nào khác, và đức Phật thường nhắc nhở khá nhiều về giá trị của sự chế ngự và điều phục sáu căn này: sự khác biệt giữa mắt và tâm kể như những giác quan, là ở chỗ "mắt" nhận biết thế giới màu sắc và dáng hình có thể thấy, trong khi "tâm" nhận biết thế giới ý tưởng và đối tượng tâm thức. Chúng ta nhận biết được những phạm vi khác nhau nhờ những quang năng khác nhau. Ta không thể nghe màu sắc, mà thấy chúng. Ta cũng không thể thấy âm thanh mà nghe chúng. Như thế với năm sắc căn của ta - mắt, tai, mũi, lưỡi, thân - ta chỉ nhận biết được thế giới hình sắc, âm thanh, mùi, vị và những vật tiếp xúc, nhưng những thứ này chỉ là một phần của thế giới, không phải là tất cả. Còn những ý niệm và tư tưởng thì sao? Chúng cũng là một phần của thế giới vũ trụ. Nhưng chúng không thể được nhận biết bằng khả năng của mắt tai, mũi, lưỡi, hay thân, mà chúng có thể được quan niệm nhờ một quan năng khác, tức là ý. Những ý niệm, tư tưởng tuy vậy không phải biệt lập với thế giới mà năm sắc căn nhận biết. Quả vậy, chúng tùy thuộc vào, và bị giới hạn bởi những kinh nghiệm vật lý. Bởi thế mà một người mù từ sơ sinh không thể có ý niệm về màu sắc, trừ phi do loại suy từ âm thanh hay vài sự vật khác do những căn khác của người ấy cảm nhận. Những ý niệm và tư tưởng lập thành một phần của thế giới, như vậy đã được phát sinh và giới hạn bởi những kinh nghiệm vật lý và được quan niệm bởi tâm ý. Do đó mà ý (manas) cũng được xem như một giác quan (căn) (indriya) như mắt hay tai.

    Uẩn thứ ba là tưởng (sannàkkhandha) hay nhận thức, tri giác. Cũng như thọ, tưởng gồm sáu loại, tương đương với sáu căn bên trong và sáu cảnh bên ngoài, và cũng phát sinh do tiếp xúc giữa sáu căn với ngoại giới. Chính tưởng này nhận biết sự vật là vật lý hay tâm linh[13].

    Uẩn thứ tư là những tạo tác của tâm thức[14] hay "hành uẩn" (samkhàrakkhandha). Nhóm này bao gồm tất cả các hoạt động của ý chí, xấu hay tốt. Những gì thường được xem là karma (nghiệp) cũng thuộc vào hành uẩn. Ở đây nên nhắc lại định nghĩa của Phật về nghiệp: "Hỏi các Tỳ kheo, chính tư tâm sở hay ý muốn (cetanà) ta gọi là nghiệp. Khi đã muốn, người ta liền thực hành bằng thân, miệng, ý[15] muốn là sự tạo tác bằng tâm ý, hoạt động tâm linh. Công việc của nó là dẫn tâm làm những hoạt động xấu, tốt hoặc không xấu không tốt[16]. Cũng như thọ tưởng, hành gồm sáu loại liên hệ đến sáu giác quan và các đối tượng tương ứng thuộc vật lý, tâm lý[17]. Cảm giác và tri giác (thọ, tưởng) không phải là những hoạt động cố ý nên không phát sinh nghiệp quả. Chỉ những hoạt động do ý chí thúc đẩy như tác ý (manasikàra), dục (chanda), thắng giải (adhimokkha), tín (saddhà), định (samàdhi), tuệ (pannà), tinh tấn (viriya), tham (ràga), sân (patigha), vô minh (avijjà), kiêu mạn (màna), thân kiến (sakkàyaditthi) v.v.. mới có thể phát sinh nghiệp quả. Có tất cả 52 tâm sở (hoạt động tâm ý) như thế, tạo nên hành uẩn.

    Uẩn thứ năm là "thức" (vinnànakhandha)[18]. Thức là một phản ứng có căn bản là một trong sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), và đối tượng là một trong sáu hiện tượng ngoại giới tương ứng (hình sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc giác và sự vật thuộc tâm giới). Chẳng hạn, nhãn thức (cakkhavinnàna) có con mắt làm căn bản cho nó và một hình sắc thấy được làm đối tượng.thức (manovinnàna) có ý (manas) làm căn bản và một sự vật thuộc tâm giới, nghĩa là một ý niệm hay tư tưởng (pháp), làm đối tượng. Như thế thức liên quan với những quan năng khác và cũng như thọ, tưởng, hành, thức gồm sáu loại tương quan với sáu căn và sáu cảnh[19].

    Cần hiểu rõ thức không nhận ra một đối tượng. Ðây chỉ là một thứ rõ biết - rõ biết sự hiện diện của đối tượng. Khi mắt xúc tiếp với một màu sắc, màu xanh chẳng hạn, nhãn thức liền phát sinh nhưng chỉ là sự ý thức về hiện diện một màu sắc, chứ không nhận ra đấy là màu xanh. Ở giai đoạn này chưa có nhận thức. Chính tri giác (tưởng uẩn thứ ba) nhận ra màu xanh. Danh từ "nhãn thức" là một từ ngữ triết học ám chỉ cùng một ý như chữ thấy thông thường. Thấy không có nghĩa nhận biết. Các loại thức khác (nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức) cũng thế.

    Ở đây, ta cần nhắc lại rằng theo triết học Phật giáo không có một linh hồn trường cửu bất biến nào có thể được xem là "ngã" hay "linh hồn", hay "cái tôi" đối lập với sự vật, và thức (vinnàna) không nên xem là "tâm" đối lập với vật thể. Ðiểm này cần được nhấn mạnh đặc biệt, vì từ khởi thủy cho đến ngày nay vẫn có một quan niệm sai lầm rằng ý thức là một thứ ngã hay linh hồn tương tục lập thành một bản thể trường tồn.

    Một đệ tử Phật tên Sàti cho rằng đức Ðạo sư đã dạy chính cái thức này luân chuyển khắp các cõi. Phật hỏi ông ta hiểu thức là gì. Câu trả lời của Sàti rất cổ điển: "Ðấy là cái gì diễn đạt, cảm giác và kinh nghiệm kết quả của những hành động thiện ác chỗ này chỗ kia."

    Phật đã quở trách: "Này kẻ ngu kia, ngươi đã nghe ta giảng kiểu ấy cho ai vậy? Há ta đã không nhiều phen giải thích rằng do các duyên, thức sinh khởi, không có các duyên thì không có thức sinh khởi hay sao?" Và Ngài tiếp tục giảng giải chi tiết: "Thức được gọi tên tùy thuộc vào điều kiện do đấy nó phát sinh: do duyên con mắt và sắc mà thức sinh thì gọi là nhãn thức, do duyên tai và tiếng mà thức sinh thì gọi là nhĩ thức, do duyên mũi và mùi mà thức sinh thì gọi là tỷ thức, do duyên lưỏi và vị mà thức sinh thì gọi là thiệt thức, do duyên thân và xúc mà thức sinh thì gọi là thân thức, do duyên ý và pháp (tư tưởng, ý nghĩ) mà thức sinh thì gọi là ý thức.


    Phật làm sáng tỏ thêm bằng một ví dụ: Một ngọn lửa được gọi tên tùy theo nhiên liệu. Lửa được đốt bằng củi gọi là lửa củi; đốt bằng rơm gọi là lửa rơm. Thức cũng thế được gọi tên tùy theo điều kiện phát sinh ra nó.[20]

    Căn cứ điểm này, Buddhaghosa (Phật Âm), một luận sư lỗi lạc đã giải thích: "... một ngọn lửa cháy bằng củi chỉ cháy khi có củi, và sẽ tắt khi hết củi, bởi vì khi ấy điều kiện hay duyên đã thay đổi (củi đã thành tro). Ngọn lửa không quay sang cháy bằng tro và trở thành một ngọn lửa tro vân vân. Cũng thế cái thức sinh do duyên con mắt và sắc, chỉ sinh làm nhãn thức khi có các điều kiện mắt, hình dáng, ánh sáng và sự chú ý; nó sẽ chấm dứt khi các điều kiện ấy không còn, vì khi ấy điều kiện đã thay đổi. Thức ấy không quay sang lỗ tai v.v.. và trở thành nhĩ thức v.v..[21]

    Phật tuyên bố rõ ràng rằng thức tùy thuộc vào bốn uẩn kia là sắc, thọ, tưởng, hành (vật thể, cảm giác, tri giác và ý chí), không thể tồn tại biệt lập với những điều kiện này. Ngài dạy:

    "Thức có thể tồn tại với sắc làm phương tiện (rùpupàyan), sắc làm đối tượng (rùpàrammanam), sắc làm nơi nương tựa (rùpapatittham), và tìm lạc thú trong ấy (sắc) nó có thể lớn thêm, tăng trưởng, phát triển. Thức có thể tồn tại với thọ làm phương tiện, hay tưởng làm phương tiện, hay hành làm phương tiện, hành làm đối tượng, hành làm nơi nương tựa, và tìm lạc thú trong ấy, nó có thể tăng trưởng, lớn lên, phát triển. Nếu ai bảo rằng họ có thể chỉ rõ sự xuất hiện, sự ra đi, biến mất, sự sinh, tăng trưởng, phát triển của thức biệt lập với sắc, thọ, tưởng, hành, thì đấy là nói một điều không thực có."[22]

    Tóm tắt, đấy là Ngũ uẩn. Cái mà ta gọi là một "linh hồn" hay "cá thể" hay "tôi", chỉ là một tên gọi cho tiện hay một nhãn hiệu để đặt cho sự nhóm họp của năm uẩn ấy. Tất cả chúng đều vô thường, tất cả đều hằng biến. "Bất cứ gì vô thường đều là dukkha." Ðây là ý nghĩa chân chính của lời Phật dạy: "Tóm lại, Ngũ uẩn trói buộc là khổ." Chúng không còn là một, ở vào hai thời điểm tiếp nhau. Ở đây A không bằng A. Chúng luôn luôn ở trong một dòng sinh và diệt từng giây phút.

    "Hỏi các Bà la môn, giống như một dòng thác núi chảy mau và trôi xa, cuốn theo tất cả; không lúc nào, phút giây nào nó ngừng chảy, nó cứ tiếp tục chảy trôi. Hỏi các Bà la môn, đời người cũng như giòng thác núi kia."[23] Như Phật dạy Ratthapàla: "Thế gian là dòng chảy tương tục, là vô thường."

    Một sự vật biến mất, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của vật kế tiếp trong một chuỗi dài nhân và quả. Không có gì là bản thể bất biến ở trong chúng. Không có một cái gì ở đằng sau chúng mà có thể gọi là một cái ngã trường cửu (àtman), cá thể; không gì có thể được gọi là "tôi" thực sự. Ai cũng sẽ đồng ý rằng không yếu tố nào, sắc hay thọ hay tưởng, hay một hoạt động tâm linh nào thuộc hành uẩn, hay thức, không một yếu tố nào trong số ấy có thể thực gọi là "tôi"[24]. Nhưng khi năm uẩn vật lý và tâm lý này vốn tương quan với nhau, cùng hoạt động phối hợp như một bộ máy vật lý - tâm lý[25], thì khi ấy ta có một ý tưởng về "tôi". Nhưng đây chỉ là một ý tưởng sai lầm, một tạo tác của tâm thức thuộc về hành uẩn như đã nói, hoạt động ấy là một tưởng về thân gọi là thân kiến (Sakkàyaditthi).

    Năm uẩn ấy họp lại, mà ta quen gọi là một "cá thể" chính là dukkha (Samkhàra-dukkha). Không có cá thể hay "tôi" nào khác đằng sau năm uẩn ấy để chịu khổ. Như Buddhaghosa đã nói:

    "Chỉ có đau khổ, nhưng không có người khổ đau".

    Có nghiệp, nhưng không có con người tạo nghiệp[26]. Không có một người đẩy xe bất động đằng sau sự chuyển động. Chỉ có sự chuyển động. Không đúng khi nói rằng sự sống đang chuyển dịch, mà sự sống chính là chuyển dịch. Sự sống và chuyển dịch không phải là hai. Nói cách khác, không có người tư tưởng ở đằng sau tư tưởng. Chính tư tưởng là người tư tưởng. Nếu tách bỏ tư tưởng ra, ta sẽ không tìm thấy đâu là người tư tưởng. Ở đây ta không khỏi nhận xét: quan điểm Phật giáo đối lập hoàn toàn với Cogito ergo sum của Descartes: "Tôi suy nghĩ, vậy nên có tôi."

    Bây giờ, người ta có thể đặt câu hỏi: Sự sống có một khởi điểm hay không? Theo giáo lý đức Phật, khởi điểm của dòng sinh hoạt của chúng sinh thì không thể nghĩ bàn. Người tin vào sự tạo dựng của Thượng đế có thể ngạc nhiên trước giải đáp này. Nhưng nếu bạn hỏi họ: "Khởi thủy của Thượng đế là gì?" Họ sẽ trả lời không do dự: "Thượng đế không có bắt đầu" và họ lại không ngạc nhiên trước sự trả lời của chính họ. Ðức Phật dạy: "Hỏi các Tỳ kheo, dòng luân hồi sinh tử (samsàra) không có một kết thúc rõ rệt, và khởi thủy của chúng sinh lăn lộn trong vô minh, bị dục vọng trói buộc, là chuyện không thể nghĩ bàn[27]. Và về sau, nói đến vô minh, nguyên nhân chính của sinh tử, Phật dạy: "Nguồn gốc của vô minh (avijjà) không thể được quan niệm để cả quyết rằng bên ngoài một điểm nào đó, không có vô minh"[28]. Như thế không thể nói rằng không có sự sống ở bên ngoài một điểm nào nhất định.

    Tóm lại, đấy là ý nghĩa của Diệu đế về dukkha. Ðiều tối quan trọng là phải hiểu chân lý thứ nhất này một cách rõ ràng bởi vì, như đức Phật dạy: "Người nào thấy rõ được dukkha cũng thấy luôn nguyên nhân của dukkha, cũng thấy luôn sự diệt dukkha và cũng thấy luôn con đường đưa đến sự diệt dukkha" [29].

    Ðiều này tuyệt nhiên không làm cho đời của một Phật tử buồn sầu ảm đạm như vài người lầm tưởng. Trái lại phật tử chân chính là người hạnh phúc nhất trần gian. Người ấy không sợ hãi lo lắng. Họ luôn luôn bình an thanh thoát, không thể bị tai nạn hay biến chuyển nào làm cho điêu đứng đảo điên, vì họ thấy mọi sự đúng như thật. Phật không bao giờ buồn sầu u ám. Ngài thường được những người đồng thời mô tả là "luôn luôn mỉm cười" (mihita-pubbamgama). Trong hội họa và điêu khắc Phật giáo, đức Phật luôn luôn được trình bày với một sắc diện hạnh phúc, bình an, hài lòng và từ bi. Không bao giờ người ta thấy một nét đau khổ điêu đứng hay cực lòng[30]. Mỹ nghệ và kiến trúc Phật giáo, những ngôi chùa thờ Phật không bao giờ cho người ta cảm tưởng u ám buồn sầu, mà thường có không khí bình an và thanh thoát.

    Mặc dù sự sống có khổ đau, một Phật tử không nên vì vậy mà sầu khổ, mà oán hận hay thiếu kiên nhẫn. Theo Phật giáo, một trong những điều xấu xa nhất ở đời là nghịch ứng hay thù ghét. Nghịch ứng (patigha) được giải là "sự thù ghét đối với chúng sinh, đối với đau khổ và đối với những gì thuộc về khổ đau. Công việc của nó là làm căn bản cho những hoàn cảnh bất hạnh và ác nghiệp"[31]. Vậy thiếu kiên nhẫn trước khổ đau là một điều sai lầm. Sự thiếu kiên nhẫn hay oán hận trước khổ đau không làm cho đau khổ ấy tiêu tan. Trái lại, thái độ ấy chỉ tổ tăng thêm rối ren và làm trầm trọng thêm một hoàn cảnh vốn đã khó chịu. Ðiều cần thiết không phải là oán hận hay thiếu kiên nhẫn, mà phải hiểu rõ vấn đề khổ đau, xem nó đã phát sinh thế nào, làm sao xua đuổi nó, rồi tùy theo đấy mà hành động với kiên nhẫn, thông minh, quả cảm và nghị lực.

    Có hai bản kinh xưa cũ gọi là Trưởng lão kệ (Theragàthà) và Trưởng lão ni kệ (Therigàthà) chứa đầy những lời hoan hỉ của các Tăng Ni đệ tử Phật, những người đã tìm thấy an vui hạnh phúc trong đời nhờ giáo lý của Ngài. Vua xứ Kosala một hôm bạch Phật: "Khác với nhiều đồ đệ của các hệ thống tôn giáo khác thường trông hốc hác, thô kệch, xanh xao, tiều tụy ít ưa nhìn, những đệ tử Phật luôn luôn vui vẻ, thanh thoát, hồn nhiên, sung sướng, vui hưởng lạc thú đời sống tâm linh, không lo âu, bình an, thư thái." Vua thêm rằng ông tin tính chất lành mạnh đó là do ở chỗ "những vị thượng tọa này chắc chắn đã nhận chân toàn vẹn ý nghĩa giáo lý của đức Thế Tôn"[32].

    Phật giáo hoàn toàn đối lập với thái độ buồn sầu, phiền muộn, u ám, xem đấy là một trở ngại cho sự thực hiện chân lý. Trái lại, ta nên nhắc lại ở đây rằng sự vui sướng, "hỉ" (pìti), là một trong bảy yếu tố để đạt giác ngộ hay "thất giác chi" (Bojjhamgas), những đức tính cốt yếu phải được đào luyện để thực hiện Niết-bàn [33].

    Ghi chú:

    [1] Dhammacakkappavattana-sutta: "Chuyển pháp luân kinh". Mhvg. (Alutgama, 1922), p.9 ff, SV (PTS), p.420 ff.

    [2] Tác giả để nguyên danh từ dukkha trong nguyên bản thay vì dịch dễ gây hiểu lầm.

    [3] A (Colombo), 1929, p.49

    [4] Mahàdukkhakkhandha-sutta, M I (PTS), p.90

    [5] M I (PTS), p.85 ff, SIII (PTS), p.27 ff.

    [6] M I (PTS), p.87

    [7] Vism (PTS), p.499, Abhisamuc, p.38

    [8] Samkhittena pancupàdànakkhandhà dukkhà. SV (PTS) p.421

    [9] S III (PTS), p.158

    [10] S III (PTS), p.59

    [11] Abhisamuc, p.4

    [12] S III (PTS), p.59

    [13] S III (PTS), p.60

    [14] "Hành" là một danh từ nay thường dùng để diễn tả ý nghĩa rộng lớn của chữ samkhàra trong ngũ uẩn. Samkhàra ở trường hợp khác có thể chỉ bất cứ cái gì giới hạn, trong ý nghĩa này tất cả năm uẩn đều là samkhàra.

    [15] A (Colombo, 1929) p.590- Cetanàham, bhikkhave kammam vadàmi. Cetayitvà kammam karoti kàyena vàcà manasà.

    [16] Abhisamuc, p.6

    [17] SIII (PTS), p.60

    [18] Theo Phật giáo Ðại thừa, Thức uẩn có 3 phương diện: Tâm (citta), ý (manas) và thức (vijnàna) và tàng thức (Alayà vijnàna) cũng ở trong uẩn này. Một sự nghiên cứu chi tiết và tỉ giảo về vấn đề này sẽ được tìm thấy trong 1 tác phẩm xuất bản của biên giả về triết học Phật giáo.

    [19] S III (PTS), p.61

    [20] Ái tận đại kinh, Trung I ,PTS, p.256

    [21] MA II, PTS, p306-307

    [22] S III (PTS), p.58

    [23] A (Colombo, 1929), p.700. Ðiều thú vị là Hêraclite sống vào khoảng thế kỷ thứ năm trước Công nguyên cũng nói tương tự: Không bao giờ ta tắm hai lần trong cùng một dòng sông, vì luôn luôn giòng nước mới sẽ chảy đến.

    [24] Lý thuyết Anatta "vô ngã" sẽ được bàn trong chương sáu.

    [25] Buddhaghosa so sánh một con người với một động cơ bằng gỗ (dàruyanta) Vism. (PTS), pp. 594-595.

    [26] Vism (PTS), p.513

    [27] S III (PTS), p.178-179, III pp. 159,151

    [28] AV (PTS), p.113

    [29] AV (PTS), p.437. Quả thé, Phật dạy ai thấy bất kỳ chân lý nào trong bốn chân lý cũng sẽ thấy được cả ba cái còn lại.

    [30] Có một tượng Phật ở Gandhara, và cũng có ở Phúc Kiến, Trung Hoa, trình bày đức Phật như một nhà khổ hạnh tiều tụy gầy để lộ cả xương sườn. Nhưng đấy là trước khi Giác ngộ, lúc Ngài theo lối tu khổ hạnh mà sau này khi đã thành Phật, Ngài bài bác.

    [31] Abhisamuc, p.7

    [32] M II (PTS), p.121

    [33] Về "Thất Bồ đề phận" xem chương VII, về Thiền quán.
    p/s: Chú Vĩnh Long để ý cái chỗ anh bôi đậm. Vậy chúng ta đều biết cái Thức đi tái sinh và cái Thức này cũng không độc lập hoặc trường tồn như khái niệm về một linh hồn bên các chú. Bởi cái Thức này cũng nhờ nhân duyên mà được sanh ra. Để dễ hiểu là khi mất nếu ta ý thức đựợc ta thèm cỏ thì ta sẽ tái sanh thành bò . Vì vậy cái vớn đề cận tử nghiệp là một vớn đề vô cùng quan trọng với một người. Hay đúng ra trước khi mất chúng ta không nên có thái độ hoảng sợ vì vô tình chúng ta tạo ra một cái ý thức không tốt khi mất thì rất dễ đọa vào cảnh giới xấu. Bởi vậy bước chuẩn bị tâm lý và ý thức trước cái chết là một điều vô cùng quan trọng.

    Hình như đâu đó anh đã giới thiệu về vớn đề cận tử nghiệp rồi thì phải.
    Chỉnh sửa lần cuối bởi Anh Các Chú vào 25-06-2013 lúc 01:48 AM
    Anh hứa sẽ ngậm mồm cho đến cùng trên diễn đàn này để bảo vệ quyền được nói của Anh

  11. #680
    Thành viên chính thức
    Tham gia ngày
    Jun 2010
    Bài viết
    2,501
    Trích salsa viết: Xem bài viết
    2./Tui đã nói là Phật giáo không tin có đấng tạo hóa và tui sống theo triết lý PG, mà anh còn hỏi "Hôm nay bạn có muốn đưa tay chấp nhận món quà quí giá mà Đấng Tạo Hóa ban cho hay không ? " nghĩa là sao ?
    Tui nhận thấy nhiều ngưởi theo đạo Chúa cho rằng chỉ có đạo họ là đúng, ai không theo là lầm đường lạc lối và họ có bổn phận phải chiêu hồi những em đi lạc này về với Chúa. Đó là do lòng yêu người mến Chúa của họ.
    Nhưng có lẽ họ không hiểu rằng đó là không tôn trọng tín ngưỡng người khác, là hành đông kiêu ngạo cần được nhận thấy và khắc phục.
    Đạo Phật sở dĩ mà ngày nay có tới mấy trăm triệu tín hữu cũng là do Phật khi tìm ra cách giải thoát đã tin rằng triết lý của Phật đúng cho nên Phật mới chịu khó đi thuyết giảng. Nếu kết luận những người theo đạo chúa (vì họ thấy đúng) đi giảng đạo là kiêu ngạo thì hành động Phật đi thuyết giảng để thuyết phục những người tin theo Phật có phải là Phật đã kiêu ngạo không? Tại sao Phật thuyết phục bác và nhiều người tin theo Phật thì không phải là hành động kiêu ngạo, còn những người theo đạo Chúa thuyết phục bác theo đạo Chúa thì bác lại cho họ là những kẻ kiêu ngạo? Bác có công bình với chính mình, với các đạo giáo khác khi kết án này nọ không?

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Quyền Hạn Của Bạn

  • Bạn không thể mở thread mới
  • Bạn không thểstrong> trã lời
  • Bạn không thể gắn đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của bạn
  •