+ Trả lời chủ đề này
Trang 1/2 1 2 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 18

Chủ đề: Lý Tống

  1. #1
    Thành viên chính thức may4phuong is on a distinguished road
    Tham gia ngày
    May 2010
    Bài viết
    145


    2 out of 2 members found this post helpful. Did you find this post helpful? Yes | No

    Lý Tống

    Ly Tong is in a class by himself
    Barry Wain - The Wall Street Journal


    Cuộc trường chinh tìm tự do của Lý Tống
    Anthony Paul (Reader's Digest 06-1984)

    Người ta ước lượng có hơn một triệu người Việt Nam - phần lớn là các thuyền nhân vượt biển Đông – đã chạy trốn khỏi nước kể từ khi SàiGòn thất thủ cuối tháng 4 năm 1975. Hàng trăm ngàn người trong số đó đã bỏ mạng trong chuyến vượt biển của họ.

    Lý Tống, một cựu phi công phản lực trong quân đội VNCH, đã bị giam 5 năm trong nhiều trại tù cải tạo khác nhau. Trong quãng thời gian đó, ông thường thách thức những người giam giữ ông, và nhiều lần liều mạng vượt nguc tuy không thành. Sau cùng ông trốn thoát được, và trong 17 tháng, đã đi bộ, đi xe, bò, bơi qua 5 quốc gia. Cuộc trường chinh của Lý Tống là một trong những câu chuyện trốn thoát vĩ đại nhất của thời đại.

    Hôm đó là một ngày mùa hè năm 1975. Lý Tống, 27 tuổi, đang nhìn các bạn tù có gia đình xếp hàng chờ ra ngoài gặp người thân đến thăm nuôi. Nơi gặp ở ngoài hàng rào kẽm gai. Một người bạn của Lý Tống trông thấy vợ con, vui mừng quá, bỏ hàng tiến về phía hàng rào. Người lính canh gác Bắc Việt nổ súng. Bạn Lý Tống chết ngay tại chỗ, trước con mắt kinh hoàng của vợ con. Trông thấy cảnh tượng đó, Lý Tồng quyết định là mình phải trốn.

    Vài tháng sau, cơ hôi đến. Một lần đi đốn gỗ, nhân toán canh gác lơ là, Lý Tống cùng một người bạn bỏ trốn. Đến đêm thứ nhì, họ đụng phải một chốt canh. Tên lính canh hỏi giấy căn cước. Người bạn hoảng quá, khai ra chuyên trốn trại. Thế là 2 người bị bắt lại. Trên đường giải về trại, Lý Tống, không gia đình, vợ con, tự nhủ “Mình phải trốn một mình. Mình phải biến những nghịch cảnh này thành sức mạnh.”

    Đúng là Lý Tống cần nhiều sức mạnh ngay lúc này. Họ lôi anh ra trước toà án nhân dân, bắt anh phải quỳ xuống trong khi nghe đọc tội trạng. Lý Tống không chịu quỳ vá bác bỏ tất cà những lời buộc tội. Bản án dành cho anh là 6 tháng biệt giam trong thùng conex.

    Bị giam trong thùng conex là một hình phạt kinh khủng nhất ở Việt Nam. Đó là một thùng chứa hàng, bằng sắt, cao 2m4, rộng 1m3. Ban ngày nhiệt độ trong thùng lên tới trên 38C. Ban đêm trời lạnh đến độ tay chân Lý Tồng cứng lại hết. Họ còn liệng đá vào thành thùng, tạo những tiếng vang rền bên trong thùng muốn thủng màng tai, làm Lý Tống không thể ngủ được. Không khí, thức ăn – cơm trộn với muối – và phân, nước tiểu, tất cả được đưa qua vài cái lỗ nhỏ bên hông thùng.

    Sau 6 tháng biệt giam, Lý Tống được thả ra. Nhưng người ta không quên “hạnh kiểm xấu” của anh. Sau 1 năm, họ đưa anh tới một trong những trại cải tạo khủng khiếp nhất. Đó là trại 52. Những người giam cầm Lý Tống đã biết nhiều về thành tích cứng đầu của anh, nến họ càng tìm cách để bẻ gẫy ý chí của anh. Cai tù ở trại 52 đấm anh ngã và chế diễu, “Mầy không chịu quỳ thì nằm sấp vậy. Thấy thế nào?”

    Lý Tống trả lời: “Rất vinh dự! 6 người đánh 1 người như đánh 1 con vật. Vậy ai là con người, ai là con vật?

    Họ bắt anh làm 1 dàn xử tử và đào 1 hố chôn. Một cai ngục nói diễu “Tao cảm thấy hạnh phúc khi nào tao moi ruôt mày bắng con dao này”. Sau một thời gian, những tên cai ngục cũng không còn hứng thú với trò chơi này. Họ trói anh vào một cái cùm và bỏ đó trong 2 tuần.

    Khi vừa được thả ra khỏi cùm là Lý Tống bắt đầu hoạch định việc trốn trại. Để chuẩn bị cho mình quen với những gian khổ, anh từ bỏ ngay cả những tiện nghi tối thiểu trong tù. Tối lạnh anh ngủ mà không đắp chăn, Ban ngày lao động ngoài nắng, anh đề đầu trần.

    Ngày 12 tháng 7 năm 1980, anh bắt đầu tiến hành việc vượt ngục. Trại tù A30 thuộc tỉnh Phú Khánh, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 360 cây số về hướng Đông Bắc. Trong 10 ngày, anh cặm cụi dùng 1 cái đinh đề cạy lỏng thanh sắt ở cửa sổ cầu tiêu. Rồi anh chui ra, bò ngang qua sân nhà tù. Dùng một cái kéo ăn cắp từ trước, anh cắt đứt qua 2 hàng rào kẽm gai, rồi đi bộ suốt đêm đến thành phố gần nhất là Tuy Hoà. Tại đây, sau khi được một người bạn cho tiền, anh đón xe đò đi Nha Trang.

    Người lơ xe, trông thấy bộ dạng của Lý Tống, hỏi: “Anh trốn trại A30 phải không? Rắc rồi to rồi. Trạm kiểm soát ở trước mặt. Thôi đi xuống đi, lẫn vào đám đông đi bộ qua trạm gác vì họ ít khi soát giấy tất cả nhửng người đi bộ. Tôi sẽ đợi anh ở phía bên kia trạm gác.”

    Tới Nha Trang rồi, Lý Tống liên lạc được với một bạn gái ngày xưa. Cô ta cho anh quần áo, tiền, và vé xe lửa đi thành phồ Hồ Chí Minh. Tại thành phố này, Lý Tống hoà mình vào trong thế giới bí mật của những thành phần chống đối lại chế độ cộng sản. Anh mưu sinh bằng cách bán thẻ căn cước giả cho những người sống ngoài vòng pháp luật như anh. Một lần Lý Tống thử vượt biên bằng thuyền nhưng thất bại. Một ý nghĩ đến với anh: “Mình là phi công, sao không ăn cắp phi cơ?”




    Ngày xưa, phi đội của Lý Tống đã có lần đặt căn cứ ở phi trường Tân Sơn Nhất nên anh quen thuộc đường đi lối bước ở nơi này. Khi lẻn được vào phi trường, anh nhận ra là không có phi cơ nào có thể dùng được. Vì Hoa Kỳ cúp viện trợ, Việt Nam đã làm thịt một số lớn phi cơ để có phụ tùng sửa chữa cho một số nhỏ những phi cơ còn bay được.

    Lý Tống đành kết luận là chỉ còn có đường bộ là khả thi. Trong túi chỉ còn 150 đồng (7.5 đôla giá chợ đen), Lý Tống đáp xe đò đi Gò Dầu Hạ gần biên giới Cam Bốt, rồi anh vượt biên giới bằng đường bộ, theo chân đoàn người buôn lậu.

    Cam Bốt đã trải qua một cuộc nội chiến đẫm máu trong 5 năm, kết thúc hồi năm 1975. Sau đó là 3 năm diệt chủng dưới chế độ Pol Pốt, và cuộc xâm lăng của Việt Nam năm 1978-1979. Dù quân đôi chiếm đóng của Việt Nam đã bình định vùng thành thị và phần lớn các trục giao thông chính, cuộc chiến tranh du kích vẫn còn tiếp diễn ở vùng thôn quê.

    Lý Tống lấy xe đò đi Pnom Penh, thủ đô của Cam Bốt. Các trạm kiểm soát dọc đường thường xuyên chặn hành khách xét giấy tờ. Nhưng đối với Lý Tống, miễn là anh đi bộ hay là trên xe đò đông chật người, mọi việc đều trót lọt. Tới Pnom Penh, Lý Tống mua vé xe lửa đi Batdambang , một thành phố nằm ở gần biên giới Thái Lan. Nhưng một lính Cam Bốt ở bến xe nghi ngờ, nên anh lại bị bắt giữ.

    Cảnh sát giam anh trong một phòng nhỏ. Bên ngoài là một lính canh với 1 khẩu súng và 1 cây đàn. Đợi khi người lính canh dạo đàn, Lý Tống cố gắng ép người chui qua cửa sổ. Nhưng anh vừa chạy được chừng 100 mét thì lính canh phát hiện và nổ súng. Anh lại bị bắt.

    Lần này họ giải giao anh cho cảnh sát Việt Nam. Những người này tống anh vào một nhà tù nổi tiếng rùng rợn của Pnom Penh là nhà tù 7708. Cảnh sát Việt Nam nói anh sẽ bị giải giao về Việt Nam trong vòng vài tuần tới.

    Lúc này Lý Tống cảm thấy tự tin về khả năng vượt ngục của mình. Anh nhận thấy điềm yếu nhất trong phòng giam của mình là cái cửa sổ, có khung bằng gỗ với 6 song sắt. Một ngày kia, trong lúc trời còn mờ mờ sáng, lính canh ngục đang ngáy ngủ, Lý Tống dùng hết sức kéo một thanh sắt ra khỏi khung cửa sổ, rối dùng thanh đó làm đòn bẩy cậy các thanh còn lại. Sau chừng 3 giờ vật lộn, anh thoát được ra ngoài.

    Lý Tống tiếp tục đi về miền Đông Bắc của Cam Bốt, dọc theo con sông Cửu Long. Anh ngừng lại ở một làng gấn Kampong Chnang, làm nghề thợ lặn và chài lưới trong 3 tháng, kiếm được 1500 riels (chừng 75 đôla trên thị trường chợ đen), đủ đề mua 1 chiếc xe đạp, thực phẩm, quần áo. Rồi anh lại lên đường đi về hướng Bắc.

    Sau cùng Lý Tống tới được Sisophon, tỉnh lỵ cuối cùng của Cam Bốt giáp giới với Thái Lan. Bao quanh Sisophon là những ruộng luá và rừng già. Đây là nơi diễn ra những trận đánh du kích ác liệt nhất giữa Việt Nam và quân kháng chiến Khmer. Để tránh nguy hiểm, Lý Tống dẫn xe đạp đi xuyên vào rừng. Khi gặp bờ sông, anh nhờ các ngư phủ chở qua sông. Họ từ chối.

    Thái độ không thân thiện của họ làm anh lo ngại. Quả đúng như vậy. Một người lính Cam Bốt đi xe gắn máy thình lình xuất hiện chặn đường anh “Mày là thằng định đưa xe đạp qua sông phải không ? Đi theo tao.” Túng thế, Lý Tống phải đi theo. Vưà khi qua khỏi một bụi cây rậm rạp, Lý Tống vụt chạy. Tên lính xả súng bắn theo nhưng không trúng. Hắn chạy về, kêu gọi tiếp viện.

    Không bao lâu, quân lính quay trở lại. Ho gom cả dân làng ra để tham gia vào việc lùng sục. Tiếng loa kêu vang: “Bất cứ ai thấy một người đàn ông mặc áo đen, mang khăn xanh, bắt nó!”

    Lý Tống ẩn nấp trong môt bụi rậm nhưng chẳng may lại trúng một ổ kiến lớn. Sợ bị phát giác, anh phải ngồi bất động trong 6 tiếng trong khi hàng ngàn con kiến tha hồ cắn. Khi bên ngoài yên lặng rồi, anh mới có thể rũ hết kiến ra khỏi áo và người. Đêm xuống anh lại lên đường. Vận may vãn còn ở bên anh.

    Con đường tới vùng biên giới đi ngang qua nhiều hồ, suối nên Lý Tống phải bơi thường xuyên. Riết rồi anh cởi trần, giử gói quần áo trên đầu ngay cả khi đi bộ. Chính bộ dạng kỳ dị này một lần đã cứu anh. Đang khi đi dọc theo bờ sông, anh thấy đằng trước có 4 người lính Việt Nam đi về phía mình. Không thể tránh đi đâu được, anh co rúm người lại ở gần bờ sông. Khi những người lính đến gần, anh nhẩy ra, hét lên 1 tiếng “Whoooo”. Dù có võ trang, những người lính hoảng sợ, bỏ chạy.

    Lý Tống chạy về hướng ngược lại, làm sao mà lại lạc vô vùng đóng quân của quân Việt Nam. Anh nghe những người lính đang sục sạo ngoài bờ sông để tìm một “con ma”. Trườn mình từng chút một trong bóng đêm, Lý Tống từ từ rút xa khòi vùng nguy hiểm.

    Sau khi đi bộ thêm mầy tiếng nữa, Lý Tống nghĩ: “Chắc bây giờ mình phải rất gần biên giới rồi, không chừng ngay chổ này là biên giới". Qua ánh ban mai hơi ló rạng, anh bỗng chợt thấy một người lính đang rình phục kích ở trên cây. “Mình vẫn còn trên đất địch”.

    Một mối nguy hiểm lớn khác nữa ở vùng biên giới là mìn. Lúc còn trong trại cải tạo, Lý Tống đã có kinh nghiệm về việc gỡ mìn. Quân Việt Nam gài mìn ở bất cứ chổ nào mà người ta có thể tìm đến trú ẩn như cạnh gốc cây, cạnh tảng đá, trong bụi rậm. Anh nói với mình: “Không ẩn nấp vào đâu hết. Và chỉ di chuyển ban đêm.”

    Từ 2 hôm nay Lý Tống không có gì ăn. Không cả nước uống. Hơi mê sảng, anh không biết đang là lúc nào. Bỗng nhiên anh nghe tiếng chó sủa. Trong 7 năm nội chiến, dân Cam Bốt ăn sạch hết chó vì nạn đói. “Có chó là có thức ăn. Chắc chắn đây là đất Thái rồi”.

    Đúng vậy. Bò đến gần một túp lều, anh nghe thấy người ta nói chuyện bằng một thứ tiếng không phải tiếng Khmer mà cũng không phải tiếng Việt. Lắng nghe tiếng xe chạy, anh đi về hướng đường lộ. Anh vẫy một người lái xe đi ngang, nhờ họ chở tới Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế.

    Nhưng những khó khăn của Lý Tống vẫn chưa hết. Để ngăn cản làn sóng người tỵ nạn vượt sang Thái, và cũng vì Hà Nội thường gài những gián điệp vào đoàn người tỵ nạn này, cảnh sát Thái giam giữ và thẩm vấn tất cả những ai vượt biên giới Thái Miên. Trong 10 tháng trời, Lý Tống bị giam ở Aranyaprathet dù anh nhiều lần phản đối và tuyệt thực. Sau cùng, câu chuyện của anh đến tai Toà lãnh sự Mỹ ở Singapore. Họ xác nhận với phía Thái là anh là cựu sĩ quan phi công của quân đội VNCH.

    Mọi chuyện vẫn chưa xong. Thay vì đi Mỹ, Lý Tồng lại bị giao cho một đại tá Thái, là ngưòi có một mối hận thù với anh vì một chuyện liên quan đến người tỵ nạn ở trại định cư Nong Samet trước đây. Anh lại tiếp tục bị giam. Lý Tống biết là mình phải vượt ngục lần nữa.

    Từ lâu, Lý Tống đã hỏi thăm các nhân viên cứu trợ về tin tức và tình hình các nước Đông Nam Á. Anh quyết định con đường thoát của mình là phải băng qua miền Nam Thái Lan, sang Malaisia, để tới Singapore, tất cả là 2000 cây số đường qua 3 biên giới quốc gia.





    Ngày 1 tháng 2 năm 1983, Lý Tống leo qua hàng rào trại, dò dẫm lối đi qua những bãi mìn, bơi qua 5 con suối, vượt rừng, đi về hướng Aranyaprathet, 22 km về hướng Tây Nam.

    Gặp trạm kiểm soát đầu tiên trên đường, lính Thái ra lệnh cho anh dừng lại. Anh cứ tiếp tục đi. Họ nổ súng. Lý Tống chạy ra phía cánh đồng, ẩn nấp trong một lùm cỏ cao. Nhửng người đuổi theo không tìm thấy anh, họ ra lệnh phóng hoả cánh đồng.

    Trong suốt mười lăm năm trời, Lý Tống hầu như không bao giờ khóc. Thế mà giờ đây anh bắt đầu khóc. Lý Tống cầu nguyện “Lạy Thượng Đế, nếu con không còn xứng đáng để sống, nếu con không còn xứng đáng để phục vụ Ngài, xin Ngài hãy giết con bằng chính bàn tay Ngài. Đừng để con rơi vào bàn tay kẻ thù.” Đám lính cố châm lửa mãi, nhưng đám cỏ không chịu cháy nên đành bỏ đi. Lý Tống cảm tạ: “Tôi tin tưởng Thượng Đế. Tôi không thể chết được.”

    Ngày hôm sau, Lý Tống tìm đến được nhà của một người phụ nữ Thái anh quen khi cô này viếng thăm trại Nong Samet. Dù biết là nguy hiểm đến tính mạng, cô bạn vẫn giúp đở Lý Tống. Cả hai đáp xe đò đi Bangkok, giả như một cặp vợ chồng. Đến nhà ga Banhkok, cô cho anh tiền mua vé xe lửa đi miền Nam Thái Lan.

    Lý Tống xuống xe lửa ở Hat Yai, tỉnh ở cực Nam của Thái Lan. Anh biết rằng đi bộ để vượt biên giới mới có cơ thoát khỏi các nhân viên cảnh sát và di trú dầy đặc ở trạm kiểm soát. Anh men theo đường rầy cho đến khi đêm xuống, và anh thấy đèn pha, xe vận tải, các nhân viên mặc đồng phục. Biên giới Thái - Mã đây rồi.

    Anh đi vòng vào trong rừng, qua bên kia, rồii trở lại ra xa lộ. Anh đã đặt chân đến Kangar, tỉnh địa đầu của Malaysia.

    Lý Tống đáp xe đò đi Kuala Lumpur, rồi từ đó lại đáp xe đi đến vùng biên giới Malaysia - Singapore. Đến 8 giờ tối, xe dừng lại ở trạm kiểm soát cuối cùng của Malaysia, trên con đường sang Singapore, ngang qua eo biển Johore. Lý Tống xuống xe, lẩn vào bóng đêm, anh đi chừng 3,5 km về hướng Tây dọc theo bờ biển.

    Gió thổi mạnh. Cho quần áo vào 1 cái túi, cột chặt ở sau lưng, anh nhẩy xuống nước. Những ngọn đèn của Singapore lầp lánh xa xa hưóng dẫn anh. Sau chừng 3.5 km bơi trong đêm lạnh, anh tới được bờ biền Singapore. Sau khi thiếp đi trên 1 công viên ở bãi biển được vài tiếng, Lý Tống đi tới tòa đại sứ Mỹ. Anh nói với người nhân viên ở đó:

    - Tôi là người Việt Nam. Tôi vừa bơi qua eo biển từ Malaisia.

    - Trong thời tiết xấu ngày hôm qua à? Không thể được.

    - Nếu anh có thời gian, tôi sẽ kể câu chuyện của tôi cho anh nghe…

    Hôm đó là ngày 10 tháng 2 năm 1983. Lý Tống đã đi, bơi qua 3500 km đường biển, đường bộ, vượt qua 5 quốc gia, và 6 lần vượt ngục.

    *

    Sau 6 tháng trong trại chuyển tiếp, Lý Tống đáp phi cơ sang Hoa Kỳ. Anh đang sống ở Texas, vửa hoàn tất xong một cuốn sách về chuyến đi tìm tự do của mình. Anh trở lại trường học, đang nộp đơn xin học bổng để học về môn khoa học chính trị, “để chuẩn bị cho ngày đất nước tôi được tự do trở lại”, anh nói.







    Ly Tong’s Long Trek To Freedom
    Anthony Paul (Reader's Digest 06-1984)

    More than one million Vietnamese – primarily “boat people” who risked the South China Sea – are estimated to have fled their country since the end of the Vietnam war in April 1975. Hundreds of thousands have died in the attempt.

    For five years, former South Vietnamese jet pilot Ly Tong was an inmate of various prisoner-of-war camps. During that time he often defied his captors and risked his life in abortive escapes. Eventually he managed to flee overland, and for 17 months he walked, rode, swam, and crawled through five countries. His fight has become one of the great escape sagas of our time.

    The way his friend died convinced 27 year-old Ly Tong that he had to escape. It was visitors' day in the summer of 1975, and Ly Tong was watching as married prisoners queued for a 15-minute talk with their families waiting outside the camp’s barbed-wire fence. Excited by the sight of his wife and family, his friend broke line and stepped toward the fence. A North Vietnamese guard opened fire, and Ly Tong’s friend died instantly, under the eyes of his horrified family.

    A couple of months later, Ly Tong and a fellow prisoner escaped from a lightly guarded wood-choppịng detail. On their second evening at large, a roadblock guard demanded to see identification. Ly Tong's companion panicked and blurted out the story of their escape. “I must go alone”, Ly Tong told himself as they were taken back to camp. A bachelor with both parents deceased, he was responsible only for himself. “I will turn these circumstances into strength.

    And strength he needed immediately. Hauled before a "people's court," he was ordered to kneel as the charges were read. Ly Tong refused and was sentenced to "conex" imprisonment. Once simple jargon for a type of freight container, conex has become a most feared word in Vietnam prison vocabulary. The metal boxes are now used as solitary-confinement cells. For six months, Ly Tong existed in an 8-foot-high by 4 1/2-foot-wide conex. Interior daytime temperatures exceeded 100 degrees Fahrenheit. At night, plummeting temperatures stiffened Ly Tong's limbs. Stones thrown against the conex boomed like out-of-tune drums and denied him sleep. Air, food - handfuls of rice and salt- and Ly Tongs own wastes passed through the same few holes in a side of the box.

    Though he was finally released from the conex, the Communists did not forgive Ly Tong’s "bad attitude." After a year, he was transferred to one of Vietnam's worst camps.

    As stories of his defiance became legion, his continued refusal to kneel to his captors strengthened their resolve to break him. Guards at Camp 52 knocked him down and jeered, "Not on your knees here. On your face. How do you feel now?”

    "Honorable!" Ly Tong spat back. "Six men treat me like an animal. But who is the animal, who the man?”

    He was ordered to construct a scaffold and to dig a grave. "When I gut you with this knife, how happy I'll feel," one guard taunted. Eventually tiring of their sport, the guards tied Ly Tong in a yoke and left him in it for two weeks.

    As soon as he was released from the yoke, Ly Tong began planning his next escape. To toughen himself, he put aside what meager comforts camp life provided. In cold weather he would sleep without a blanket. On the hottest day, he worked without head-covering.

    Ready to Try.

    On July 12, I980, at Camp A30 in Phu Khanh Province, some 240 miles northeast of Ho Chi Minh City (Saigon), he made his move. After ten days of laboriously working a nail to loosen the bar on a toilet-hut window, he crawled out and inched his way across the prison yard. With small pilfered scissors, he broke through the strands of two barbed-wire fences, and then walked all night to Tuy Hoa, the nearest big city. There a friend gave him money, and he finally hailed a bus headed for Nha Trang.

    "You’re from A30 prison, aren’t you?” asked the conductor, spotting Ly Tong's hunted look. "Then you’ve got trouble. There’s a control post dead ahead. Get off and walk through with a crowd of local people. They seldom check all the ID cards. I'll wait for you on the road beyond."

    Once in Nha Trang, Ly Tong got in touch with an old girlfriend, who furnished him with clothes, cash and a train ticket to Ho Chi Minh City. There Ly Tong joined the new Saigon’s shadow world of Vietnamese in flight from communism’s controls. Until September 1981 he lived by selling fake identity cards, so desperately needed by "shadows" like himself. A plan to escape in a boat fell through. Then a new idea formed: I'm a pilot. Why not steal a plane?

    Ly Tong had once been based at Tan Son Nhut airport. But when he penetrated the base, he found no suitable aircraft. Cut off from U.S made spare parts, Vietnamese mechanics had kept only a handful of planes in the air by cannibalizing those on the ground.

    Reluctantly, Ly Tong concluded that he must escape overland. With just 150 dong ($7.50 on the black market), he took a bus to the Kampuchean (Cambodian) border, where he crossed by foot on smugglers' tracks.

    The country in which Ly Tong would spend the next five months had endured a bloody five-year civil war ending in 1975, followed by some three years of genocidal vengeance by Communist PolPot’s victorious forces and invasion by Vietnam in 1978-79. Although the Vietnamese occupation army had pacified main population centers and most highways, guerrilla war still raged in much of the countryside.

    "Catch Him!"

    Road-blocks constantly halted travelers, but as long as Ly Tong was on foot or in a crowded bus, he was relatively safe. It was in a bus that he reached Phnompenh, the national capital.

    There he bought a train ticket to Batdambang, close to the Thailand border, but a Kampuchean station guard took a second look at him. Once again, Ly Tong was under arrest.

    The police locked him in a small room. Outside the door a guard settled with a machine gun and a guitar. As the Kampuchean plucked out a tune, Ly Tong squeezed through the small, solitary window. But he had not run more than 100 yards when he heard warning shots and had to surrender.

    This time he was handed to the Vietnamese police, who threw him into Phnom Penh’s 7708 jail, a notorious prison camp. In a few weeks, he was told, he would be transported back to Vietnam.

    By now, however, Ly Tong had confidence in his jail breaking ability. Here the weakest spot was his dormitory window, a wooden frame with six iron bars. Before dawn one morning, with the guards drowsing, he tested the bars. After three hours of tugging – and using the first freed bar as a lever - the last bar came loose. Ly Tong crawled through.

    For the next four months, he moved northwest across Kampuchea, following the mighty Mekong River. At one river village near Kampong Chhnang, he worked for three months clearing fishing traps and earned about 1500 riels ($75 on the black market) - enough for a bicycle, food, clothes. Then it was time to move north again.

    The jungle and rice paddies surrounding Sisophon, the last major town on Ly Tong’s route to Thailand, harbor one of Asia’s nastiest guerrilla wars. To avoid danger, Ly Tong carted his bicycle into the jungle. Reaching a river, he asked some fishermen to help him cross, but they shook their heads.

    Their unfriendliness bothered Ly Tong - and for good reason. Suddenly, an armed Kampuchean soldier on a motorbike barred his way. "So you’re the man with the bike and funny accent," he said "Follow me?" As they passed a dense section of jungle, Ly Tong leaped from his bike and scrambled into the undergrowth. The soldier opened fire, missed, and then roared off in search of help.

    Soon drum-beating soldiers mustered the area’s villagers in a manhunt through the jungle. Loudspeakers blared: "Look for a man in black clothes and carrying a green towel. Catch him!"

    The bush in which Ly Tong hid covered a large ant heap. Fearful of attracting attention, he was forced to stay motionless for six hours as thousands of ants swarmed over him, repeatedly biting. When all was quiet, it took Ly Tong another hour to rid his clothes and body of them. As darkness came, he set off again. Ly Tong's luck had held.

    The Phantom.

    Now in his path lay many creeks and large ponds. So often was he forced to strip for a swim that after a while he went naked, holding his clothes in a bag on his head. His strange appearance may have saved him. As he walked along a riverbank, he saw four young soldiers coming his way speaking Vietnamese. Unable to avoid them, he crouched beside the water. When they spotted him, he leaped into the air with an unearthly yell: "WHOOOOO!" Though armed, the youths fled.

    Ly Tong ran in the opposite direction - straight into a Vietnamese camp! All around him stood two story huts housing sleeping soldiers. He could hear soldiers scouring the riverbank for a "phantom." By inching himself on his stomach through the darkness, he finally cleared the compound.

    After walking for several more hours, he thought: By now Thailand must be very close, probably under my feet already. With the sunrise came a feeling of elation, until he spotted a camouflaged sniper on a platform high in a tree. “I haven’t passed the border”. And ahead lay a great danger: mines.

    From his mine-clearing labors as a prisoner, he remembered that the Hanoi army is taught to place small anti-personnel mines wherever a man might take cover: beside a tree trunk or boulder, under a bush. “Avoid cover”, he told himself. “And move only by night”.

    For two days Ly Tong hadn't eaten. There was no water. Half crazed by thirst, he lost track of time. Then, suddenly, he heard the sound of barking. For more than seven years of famine, Kampucheans had been eating their dogs. Dog mean a food surplus he reasoned. This must be Thailand.

    And it was. Creeping to within earshot of a peasant’s hut, he could hear a language that was neither Kampuchean nor Vietnamese. Following the sound of traffic to a highway, he waved down a passing motorcyclist and asked to be taken to the Red Cross.

    Into Prison.

    But Ly Tong's troubles were not over. To deter an endless stream of refugees, and because Hanoi often "seeds" new waves of refugees with subversives, Thai police first jail and interrogate border-crossing lndochinese. For ten months, despite repeated protests and a hunger strike, Ly Tong was kept in prison in the Thai border town of Aranyaprathet. Finally, his story reached U.S. consular officials in Singapore, who confirmed Ly Tong's air-force service.

    Instead of passage to the United States, however, Ly Tong was consigned by a Thai colonel, whom he had offended during one of his protests, to a sprawling refugee settlement at Nong Samet, on the Kampuchean side of the border. It was time, yet again, to escape.

    For months Ly Tong had been studying English and questioning refugee-relief workers about conditions in countries west and south of Aranyaprathet. Now he planned to escape across south Thailand and Malaysia to Singapore – perhaps 1400 miles and three more borders.

    On February 1, 1983, Ly Tong climbed over his camp's fence, picked his way through a mine-field, swam five creeks, pushed through jungle and headed for Aranyaprathet, 15 miles to the southwest.

    The next morning, however, at the first Thai roadside checkpoint, he ignored an order to halt, and the soldiers began shooting. He managed to race ahead of them to a field where he hid in a clump of tall grass. Some minutes later, he heard soldiers run up and then the sound of a cigarette lighter, as one of them tried to set fire to the grass.

    For 15 years Ly Tong had not wept. Now, crying softly to himself, he began to pray. “With your help I have come so far. If I am no longer worthy, kill me now! Don’t let me fall into enemy hand”. When the grass failed to catch fire, the soldiers finally walked away. “I believe in God”, Ly Tong told himself. “I cannot die anymore”.

    The next day Ly Tong reached the house of a young woman he had met when she visited the Nong Samet settlement. Despite the risk to her own life, she had offered help, and now the pair set out for Bangkok by bus, passing themselves off as husband and wife. At the Bangkok railroad station, she handed him money for a train heading south.

    Ly Tong left the train at Hat Yai, Thailand's southernmost large town, reasoning that it would be better to cross the border on foot than to face guards and immigration officials at the regular check-point. He followed the railroad tracks until night fell and he saw lights, trucks, uniforms. The Malaysian border!

    Giving the immediate area wide berth, he detoured through the jungle and, doubling back to the highway, saw the sun rise on Kangar, the first town inside the border.

    Ly Tong had no trouble catching a bus to Kuala Lumpur, and then another to his last border, Malaysia-Singapore. At about 8 p.m., the bus reached the checkpoint at the Malaysian end of the causeway to Singapore, across the Johore Strait. Ly Tong slipped away into the darkness and walked about two miles west along the seaside.

    Winds whipped the channel. Tying his clothes in a bundle on his back, he entered the water. Singapore's lights beckoned, and at the halfway point of the nearly two mile swim came a fresh surge of energy. Soon there was sand beneath his feet.

    After a few hours' sleep in a seaside park, Ly Tong made his way to the U.S. embassy. "I'm a Vietnamese," he explained to an official, "and I've just swum the Strait from Malaysia."

    "In last night's weather?” said the American. "Impossible.”

    It was February 10, 1983. Behind Ly Tong were almost 2000 miles of land and water, five countries, four border crossings, a half-dozen escapes from custody.

    "If you’ve got a moment," said Ly Tong, "let me tell you my story…”

    After six months in a refugee processing center, Ly Tong flew to the United States. He is now living in Texas and has just finished a book about his escape. He hopes to qualify soon for a scholarship to study political science, "to prepare me for the day my country is free again.”

  2. #2
    Thành viên chính thức may4phuong is on a distinguished road
    Tham gia ngày
    May 2010
    Bài viết
    145


    Did you find this post helpful? Yes | No
    Trên Đường Biên Giới
    Vũ Uyên Giang

    1. 

    Vũ lơ đãng ngó qua khung cửa kính xe ra hai bên đường. Những hàng cây như nối đuôi nhau chạy vùn vụt về phía sau; từng cánh đồng ngập nước và những đám mạ mới cấy thành hàng thẳng tắp khiến anh nhớ đến con đường Quốc Lộ 4 nối liền Sàigòn - Mỹ Tho mà ngày xưa trên đường hành quân anh thường đi qua. Cũng những cánh đồng nước lấp xấp xanh rì màu mạ xa hút tầm mắt; mỗi lần gió thổi lại bồng bềnh như những gợn sóng lăn tăn cuốn trôi vào vô tận.
      
    Giòng ký ức mù xa như cơn thác lũ bủa vây con người anh. Trí nhớ thui chột sau bao nhiêu tháng năm dài trong lao tù cộng sản tưởng chừng không thể hồi phục được bỗng nhiên ùa ập kéo về tràn đầy cân não. Anh chợt cười vu vơ. Thời gian trôi đi quá nhanh, mới thoáng đó mà Vũ đã rời quân ngũ gần 10 năm. Mười năm của một đời người quả là ngắn ngủi; cái thoáng chốc với bao nhiêu đổi thay, thăng trầm như từ đen qua trắng, từ vàng sang đỏ, từ tự do dân chủ sang cộng sản chuyên chính. Cộng sản như một thứ giòi bọ rúc rỉa cơ thể con người, biến đổi con người thành những xác ma vật vờ sống dở, chết dở bên lề cuộc đời. Con người cộng sản lúc nào cũng thiển cận, ngoan cố khư khư mang trong đầu một thứ lý thuyết rỗng tuếch vay mượn, vá víu để tự lừa dối chính họ và lừa dối mọi người. Họ lúc nào cũng huênh hoang khoác lác bằng những ngôn từ đao to búa lớn "hiện thực xã hội chủ nghĩa", để cố gắng che giấu sự ngu dốt của họ. Họ không chịu mở rộng tầm mắt nhìn ra thế giới bên ngoài; để thấy rằng trong khi thế giới đã tiến triển vượt bực về mọi mặt, thì họ đi thụt lùi càng ngày càng xa về phía sau. Họ không có đủ tri thức tối thiểu để ngừng lại đúng lúc, đúng chỗ mà cứ tự đánh lừa mình bằng thứ chủ nghĩa ưu việt giật lùi; dù vẫn biết chỉ là thân phận của một thứ ếch nhái, ễnh ương nhưng khi thấy tiếng kêu uôm uôm của mình dưới đáy giếng đã vội nghĩ là mình to giống con bò, nên cố phình bụng cho to bằng bụng bò...
     
    Vũ chợt cười thích thú khi nghĩ đến mẩu chuyện ngụ ngôn của Lafontaine rất thích hợp với cộng sản. Những con người dốt nát ấy khi đã nắm được quyền lực trong tay thì mặc sức tự tung, tự tác hành động theo kiểu suy nghĩ nông cạn, thấp kém của họ. Vì vậy chỉ trong một thoáng chốc sau khi chiếm trọn Miền Nam, cộng sản đã dìm cả nước trong thảm kịch bi đát nhất lịch sử nhân loại. Đã đẩy con người đi ngược trở lại thời thời hoang dã, nghèo nàn, lạc hậu và ngu dốt cả trăm năm trước. Cái thoáng chốc ấy đã biến anh và toàn dân Miền Nam đắm chìm xuống đáy sâu vực thẳm của địa ngục đỏ...
      
    2.

    Chiếc xe du lịch màu trắng mang bảng số ngoại giao của Tòa Đại sứ Mỹ tại Bangkok vẫn lao như bay trên con đường đất đỏ hướng về phía biên giới Thái - Miên, bỏ lại phía sau một đám bụi mù mịt. Lác đác dăm ba chiếc "xảm ló" (1) chạy lọc cọc, chìm lấp trong lớp bụi đỏ do chiếc xe chở Vũ tung lên.
       
    Ram Ruong, người Trung úy sĩ quan liên lạc thuộc đơn vị 309 Tình Báo Biên Giới của Quân Đội Hoàng Gia Thái, ngồi ở băng ghế trước cạnh tài xế, có nhiệm vụ đi theo Vũ để liên lạc và phiên dịch tiếng Thái khi cần thiết, đang ngủ gà ngủ gật, đầu ngoẹo sang một bên, lắc lư theo độ nhún của chiếc xe. Ngưới tài xế Thái mắt chăm chú ngó về phía trước tay giữ chặt volant. Vũ cảm thấy mỏi nhừ cả người vì phải ngồi trên xe suốt chặng đường dài hơn 500 cây số từ thủ đô Bangkok ra quận lỵ Aranya Prathet, thuộc Tỉnh Prachin Buri, nằm về phía Đông Bắc Thái Lan. Trong phiên họp hôm qua ở Cơ quan DAO thuộc Văn phòng Tùy Viên Quốc Phòng Tòa Đại sứ Mỹ, Vũ đã nhận được lệnh đi ra vùng biên giới này để thanh lọc một số bộ đội Việt cộng mới bị bắt trong trận giao tranh giữa quân đội Thái và lực lượng Việt cộng chiếm đóng Campuchia. Nhân tiện anh cũng định đi ra mấy Trại Tị nạn đường bộ như NW.82 của Thái và Nong Chan, Nong Samit của Kháng Chiến Miên để tìm Nguyễn Bá Ruyệt (2), một người Việt tị nạn vượt thoát bằng đường bộ qua ngả Campuchia, đã bị thương cụt mất một chân vì đạp phải mìn của Khmer Đỏ. Ông David Campbell, xếp trực tiếp của Vũ dặn anh:
      
    - Ông đi ra biên giới cần phải cẩn thận và nhớ kỹ là: Quận lỵ Aranya Prathet cách biên giới Thái - Miên có 5 cây số. Ban đêm ở đó ông có thể nghe thấy tiếng pháo binh của VC départ. Nếu không muốn mất mạng, ông tuyệt đối không nên đi vào các làng Việt Nam vì gần như 100% bọn họ là thành phần dân đồn điền cao su, sang Thái từ trước năm 1945, vẫn trung thành và ủng hộ Hồ Chí Minh...
      
    Vũ mỉm cười vu vơ. Không ngờ mình đã rời quân ngũ một thời gian dài, nay lại có dịp trở ra chiến trường, nghe lại tiếng súng quen thuộc. Lòng Vũ nôn nao háo hức một cách khó tả. Anh bâng khuâng nghĩ đến những ngày sôi động trong cuộc chiến chống Cộng của quân dân Miền Nam. Nhớ từng kỷ niệm vui buồn của đời quân ngũ. Nhớ những bạn bè đồng đội từng sát cánh với nhau trên khắp các mặt trận nóng bỏng khói súng. Bao nhiêu đứa bạn của anh đã ngã xuống, lấy máu thấm mảnh đất cằn cỗi ở những điạ danh xa lạ: Tàu Ô, Xa Mát, Kà Tum, Bù Đăng, Bù Đốp, Chu Prong, Đức Cơ, Pleime... chỉ vì muốn sống tự do, chỉ vì muốn bảo vệ nhân dân miền Nam trước nanh vuốt bạo tàn của giặc cộng. Bao nhiêu thằng đã kéo lê kiếp sống buồn tủi, nhục nhằn trong những trại biến hình cải tạo của cộng sản sau khi Miền Nam bị rơi vào tay giặc thù và bao nhiêu thằng đã lang thang phiêu bạt quê người?
      
    Ngày đó đã lùi xa vào quá vãng, chỉ còn lại trong anh những dư âm xao động của một thời, một tuổi. Bây giờ anh cũng trở lại vùng chiến trường sôi động được cả thế giới chú ý đến vì sự diệt chủng của nhóm cộng sản cuồng tín Khmer Đỏ do Pôn Pốt lãnh đạo; cũng bởi sự chiếm đóng lâu dài của CSVN trên đất Campuchia và vì người dân Việt - Miên - Lào ròng rã bao nhiêu năm trời, bằng mọi cách vượt thoát khỏi thiên đường đỏ của cộng sản mặc những hiểm nguy, gian lao và khổ ải. Cả thế giới đã bàng hoàng thức tỉnh khi nhìn vào con số những người vượt thoát mỗi ngày một đông để chứng tỏ một điều là dưới chế độ cộng sản, con người chỉ mang thân phận của một thứ nô lệ mới, bị tước đoạt mọi quyền sống tối thiểu của con người. Họ đã bất chấp mọi hiểm nguy, chết chóc để chỉ kiếm tìm một hơi thở tự do trân quý chẳng thể nào có được trong thế giới cộng sản...

    Anh trở lại vùng biên giới kỳ này với danh nghĩa một viên chức của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Dưới mắt của người Thái, họ vẫn nhìn anh là một người Mỹ, viên chức của chính phủ Mỹ - "Khun Phá lẳng" (3) - họ thường gọi anh như vậy. Đôi khi mấy người Thái còn gọi anh là Khun Chanas Michay (4) theo tiếng Thái. Đối với những người Mỹ làm chung trong Tòa Đại sứ thì anh là Mr.Victor, một nhân viên Việt Nam vui tánh, nhưng hay cãi cọ, cự nự người Mỹ mỗi khi nhắc đến chiến tranh Việt Nam. Anh thường kết tội người Mỹ là thủ phạm chính giết chết cả một quốc gia Việt Nam Cộng Hòa và đẩy hàng nhiều trăm ngàn người vào những trại tập trung cải tạo của cộng sản mà điều kiện sống ở dưới mức tối thiểu nhiều chục lần. Người Mỹ đã phản bội người bạn đồng minh của họ khi bằng mọi cách ép buộc Miền Nam phải công nhận phiến cộng là một thực thể. Đã đâm sau lưng những chiến sĩ bảo vệ tự do như anh và bạn bè, đã nhẫn tâm dìm cả một dân tộc trong vòng kìm kẹp vô nhân của bọn cộng sản... Mấy người Mỹ lúc đầu còn cố tranh luận với anh; nhưng ở với nhau lâu ngày thì họ đã biết anh hay "nổi nóng" mỗi khi nhắc đến chiến tranh Việt Nam, nên chẳng ai dám khơi lại đống tro tàn này với anh nữa. Đối với đồng bào tị nạn ở các trại Sikiew, Panat Nikhom, Aranya Prathet, NW.82 hoặc Suan Plu... họ thường kêu anh là Anh Ba một cách thân mật khi có dịp tiếp xúc. Lâu ngày nên chẳng mấy ai gọi tên thật của anh...
     
    3. 

    Chiếc xe đã đi vào khu Thị trấn của quận ly Aranya Prathet. Vũ đã nhìn thấy những ngôi nhà mái ngói đỏ và nhiều cửa tiệm buôn bán sầm uất. Vũ không thể nào ngờ được một quận lỵ hẻo lánh mà phố xá buôn bán sầm uất như ở đây.  
     
    Nước Thái được lợi thế không bị chiến tranh tàn phá nên đã tiến quá nhanh, vượt qua những nước láng giềng bằng đôi hia bảy dặm. Nếu Thái không bị tệ nạn tham nhũng, bè phái đục khoét thì họ còn tiến xa hơn nhiều.

    - Đã đến Aranya Prathet rồi. Ông có muốn ngừng lại để giải khát không? Ram Ruong hỏi Vũ.

    - Thôi khỏi. Anh cho xe chạy thẳng lại văn phòng của nhân viên Tòa Đại sứ ở vùng này nhé. Còn bao xa nữa? Vũ hỏi.
      
    - Cũng gần đến rồi. Qua cái ngã tư kia quẹo trái thì đến căn cứ của "Pẹt Xảm Pẹt" (Tiếng Thái có nghĩa là 838) (5). Họ ở trong căn cứ đó. Ram Ruong trả lời.
     
    - OK. Anh cho tôi đến đó trước. Tôi cần họp với Mr.Larry về những công việc ở đây. Anh và người tài xế có thể đi chơi thăm phố xá. Khoảng 5 giờ chiều thì mình gặp nhau ở chỗ Larry. Tối mình sẽ đi ăn và nghe nhạc. Vũ nói.
      
    - "Khấp phổm" (6).

    Ram Ruong nói giọng kính cẩn vì nghe nói buổi tối được đi ăn và đi phòng trà nghe nhạc. Anh thường có thói quen ban ân sủng cho những người Thái trong toán liên lạc nên họ rất thích anh. Chiếc xe ngừng lại ở Trạm gác một trại lính. Có lẽ đây là căn cứ của đơn vị 838 mà Ram Ruong vừa nói. Người lính mặc quần áo rằn ri giơ tay chào theo kiểu nhà binh. Viên tài xế đưa cho anh ta xem tờ Sự Vụ Lệnh; sau khi nhìn sơ qua, y đứng nghiêm chào và ngoắc tay cho xe đi. 

    Xe ngừng lại ở một khu nhà vòm tiền chế. Kiểu nhà này Vũ thường nhìn thấy trong các căn cứ của Quân đội Hoa kỳ ở Việt Nam. Vũ xuống xe, xách cặp bước vào căn nhà có treo tấm bảng "Office". Larry tươi cười đón Vũ ở cửa, bắt tay Vũ thật chặt. Anh đã gặp và trò chuyện với Larry nhiều lần trong khuôn viên Tòa Đại sứ Mỹ ở Bangkok. Sau vài câu thăm hỏi xã giao thông thường, Larry đưa Vũ đến phòng họp và thuyết trình cho anh biết tình hình chiến sự ở biên giới Thái - Miên. Sau khi Larry thuyết trình xong, Vũ hỏi:
     
    - Ông có thể cho biết tình hình các trại tị nạn ở dọc biên giới và số bộ đội Việt cộng hiện ở trại nào không?
     
    - Ở ngay trong vùng này có các trại NW.82, Nong Chan, Phnom Chat, Ban Sangea, Nong Samet, Khao I Dang và Aran Jail. Trại NW.82 hiện chứa trên 1000 người Việt Nam; Trại Nong Chan, Phnom Chat, Ban Sangea và Nong Samet nằm trong vùng kiểm soát của 3 lực lượng kháng chiến Miên và ở mỗi trại có khoảng vài trăm người Việt, họ chưa được nhận là tị nạn và cuối cùng là Trại Khao I Dang chứa khoảng 20.000 người Kampuchia, tuy nhiên trại này cũng có một số người Việt đang nằm điều trị trong Bệnh xá; còn đám bộ đội cộng sản Việt nam dù đào ngũ bỏ đơn vị trốn sang Thái hay bị bắt ngoài chiến trường đều bị giam giữ trong nhà giam của Đơn vị 506 Tình Báo Biên Giới thuộc Quân đội Hoàng Gia Thái Lan. Tôi sẽ giới thiệu ông với Đại tá Tong Đen, Chỉ huy trưởng Đơn vị 506. Larry nói.

    Vừa lúc đó một người Á châu trắng trẻo bước vào phòng họp. Larry đưa anh ta đến giới thiệu với Vũ:

    - Đây là Mr.Victor, nhân viên Văn Phòng Tùy viên Quân Sự của Tòa Đại sứ Mỹ ở Bangkok. Còn đây là Trung úy Sẳng, Sĩ quan liên lạc của đơn vị 506. 

    Vũ đưa tay bắt viên sĩ quan Thái. Anh ta chắp hai tay trước ngực vái Vũ theo lối chào truyền thống của Thái Lan:
     
    - Sa wạt đi khấp (7). Sẳng nói.
      
    Vũ cũng nói với Sẳng bằng tiếng Thái: "Sa wạt đi!" (Xin chào!)
     
    -Ồ! Ông nói được tiếng Thái? 
     
    Vũ cười: "Phổm pút ba xả Thài níc nòi." (Tôi nói được một chút tiếng Thái) (8) Cả ba cùng cười. Quay sang Vũ, Larry nói:

    - Trung úy Sẳng sẽ giúp ông trong công tác thanh lọc số bộ đội VC ở Aran Jail.
     
    - Vậy thì tốt quá. Bao giờ chúng ta có thể bắt đầu được? Vũ hỏi.

    -Ngày mai được không ông? Vì bây giờ đã gần 4 giờ chiều rồi. Sẳng nói.

    - OK. Vậy đúng 9 giờ sáng mai ta sẽ gặp nhau ở đây để làm việc nhé. Trung úy có biết ở đây nhà hàng nào ngon không? Tối nay tôi xin mời quý vị đi ăn tối.
     
    - Ở đây có nhà hàng Valentine vừa nấu ăn ngon lại có nhạc sống. Ông có thích đến đó không? Mr.Larry và tôi thỉnh thoảng cũng đến đó ăn.

    - Chúng tôi nhờ sự hướng dẫn của Trung úy vậy. Ông là dân địa phương mà. Vũ nói.
     
    - Tôi cũng không phải người địa phương ở đây đâu. Nhà tôi ở Bangkok và cũng mới thuyên chuyển về đơn vị "Hà Sủn Hột" (đơn vị 506) (9) được mấy tháng thôi. Mr.Victor này! Ông đã gặp Thomy chưa nhỉ?

    - Thomy là aỉ Vũ ngạc nhiên hỏi. Larry đỡ lời:

    - Thomy là một người Việt Nam làm việc cho văn phòng chúng tôi ở đây. Để tôi gọi máy báo cho hắn biết có ông đến. 
       
    Vừa nói, Larry vừa cầm ống liên hợp của máy truyền tin gọi:
      
    "Eagle! Eagle! - Ranger. Over"
     
    Tiếng máy kêu rè rè. Trên tần số có tiếng trả lời: "Ranger! Eagle. Over"
      
    "Eagle! Anh có thể trở về main compound bây giờ không? Over."
      
    "Ranger! Không thể được vì chiếc xe đã đi chợ rồi. Tôi đâu có phương tiện đến đó. Over."
      
    "OK.Vậy anh chuẩn bị đón tiếp một người khách đặc biệt đến từ Bangkok nhé. Đó là Mr.Victor mà tôi đã nói với ông sáng nay"
      
    "OK. Nhận rõ 5 trên 5. Over."
      
    Larry gác ống liên hợp, quay sang nói với Sẳng:
      
    - Nhờ anh chở Mr.Victor đến chỗ Thomy được không? Tôi phải đi họp với Thiếu tướng Tư lệnh Sư đoàn bây giờ.

    - Dạ không trở ngại gì. Đằng nào tôi cũng đi ngang đó mà.

    - À! Ông Victor sẽ ngủ lại đây hay ở chỗ Thomy?
      
    Larry quay sang Vũ, hỏi:
     
    - Ông muốn ở lại đây hay ở nhà Thomy? Ở đây thì đã có sẵn 3 phòng dành cho khách.
     
    - Thôi để Ram Ruong và tài xế ở đây; tôi ở lại chỗ Thomy.
      
    Nói xong Vũ bắt tay Larry, nói: Vậy tối nay mình gặp lại nhau nhé.
      
    Vũ nghĩ thầm: "Ở nhà của Thomy có lẽ dễ chịu hơn vì anh có thể trò chuyện bằng tiếng Việt với hắn. 
     
    4. 

    Vũ xách hành lý leo lên xe của Sẳng. Gió từ những cánh đồng trống thổi về mát rượi. Vừa lái xe, Sẳng vừa giới thiệu cảnh vật và địa hình vùng Aran cho Vũ biết. Chỉ về phía biên giới ở hướng đông, Sẳng nói:
     
    - Mình chỉ cách biên giới có 5 cây số đường chim bay ông có biết không? Phía kia là con đường đi Sisophon, nơi đồn trú của Sư đoàn 5 Biên phòng Việt cộng. Đa số bộ đội hiện bị giam ở Aran Jail đều thuộc đơn vị này. Ngọn núi phía Bắc là Khao I Đăng, Trại tị nạn Khmer lớn nhất vùng này, có khoảng trên dưới 20000 người Miên ở trong đó. Còn phía kia là Trại NW.82 hiện đang chứa khoảng 1000 người Việt đi đường bộ. Vừa nói, Sẳng vừa đưa tay chỉ về phía trước cho Vũ thấy.

    - Có khi nào anh đi đến các trại đó không? Vũ hỏi Sẳng.

    - Có chứ. Hàng tuần tôi đến các trại để chở người tị nạn về Aran để thẩm vấn. "Hổ ná" (10) muốn đi tôi chở đi.

    Vũ phì cười: "Thôi! Anh đừng kêu tôi là Hổ ná. Cứ gọi là Victor được rồị"

    - Khấp phổm (6). Sẳng cho xe từ từ quẹo vào trong sân một ngôi biệt thự nằm bên tay trái đường, phía trước có treo một tấm biển gỗ lớn và hai hàng chữ Thái ngoằn ngoèo. Vũ hỏi Sẳng:

    - Tấm bảng đó nói gì vậy?
      
    - Ồ! Đây là căn nhà của Đại tá chỉ huy Cảnh sát "Pẹt Xảm Pẹt" (tiếng Thái là 838) (5) cho Larry thuê làm chỗ ở và làm việc của Thomy. Tấm bảng ghi tên, cấp bậc và chức vụ của Đại tá.
      
    Ngôi biệt thự khá xinh xắn và rộng rãi, tọa lạc trên một mảnh đất rộng. Chung quanh trồng khoảng 20 gốc xoài lớn, tàn lá xum xuê. Một người đàn ông trạc tuổi Vũ, da ngăm đen, mặc quần soọc, áo pull đứng chờ sẵn ở sân. Vũ đoán có lẽ đây là Thomy mà Larry đã nói đến.

    - Chào Trung úy Sẳng. Anh khỏe không? Thomy nói với Sẳng bằng tiếng Anh.

    - Hi! Thomy. I’m fine and you? Đây là Mr. Victor đến từ Bangkok
     
    Vũ xiết chặt tay Thomy, nói bằng tiếng Việt: "Chào anh. Tôi nghe Larry nói nhiều về anh, nhưng nay mới được gặp"
     
    - Chào anh Victor. Mình vào trong nhà nói chuyện nhiều hơn. 

     Sẳng đưa vali của Vũ cho Thomy.
      
    - Tôi có việc phải đi. Chiều nay tôi sẽ đến. Sẳng giơ tay chào Vũ và Thomy theo kiểu nhà binh rồi leo lên xe lái đi.  

    5.
        
    Thomy tên thật là Thạch Thom, một người Việt gốc Miên, làm việc trong văn phòng của Larry đã được gần 2 năm. Anh là cựu Đại úy và phục vụ ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I ở Đà Nẵng. Sau khi Miền Nam Việt Nam bị rơi vào tay cộng sản vì những thủ đoạn hèn hạ đánh lừa Mỹ và dư luận thế giới; trong lúc dân chúng Mỹ đã chán ngán cuộc chiến ở một vùng đất xa lạ; họ chỉ muốn chấm dứt ngay những sự hy sinh con em họ ở phần đất lạ lẫm và khốc liệt ấy vì thế mà Mỹ đã phản bội quân dân Miền Nam, nhắm mắt làm ngơ trước những khổ đau chồng chất của nhiều chục triệu quân dân Miền Nam; để cho cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

    Thomy cũng như bao nhiêu quân cán chính VNCH khác, bị tập trung cải tạo một thời gian dài. Sau khi ra khỏi nhà tù cộng sản, nhờ là người Việt gốc Miên nên anh đã đi tìm tự do bằng đường bộ vượt qua Kampuchia năm 1980. Khi sang đến Thái Lan, anh được Larry lấy ra khỏi trại và cho làm việc ở văn phòng này từ đó đến nay. Cũng nhờ gốc gác là người Việt gốc Miên, nói thông thạo tiếng Khmer, nên Thom đã móc nối với người Miên để họ về Việt Nam mang được 2 đứa con trai sang với Thom. Vì đã ở Thái hơn 2 năm, anh rất muốn đi dịnh cư ở Mỹ để 2 con có cơ hội học hành, nhưng tìm mãi chưa có người thay thế. Thomy khẩn khoản nhờ Vũ có dịp đi nhiều Trại, gặp gỡ nhiều anh em có khả năng, kiếm giúp anh một người ra làm việc thay cho anh vì anh đã có tên trong danh sách đi Hoa Kỳ vào tháng sau... Việc kiếm người ra làm việc khó khăn vì đòi hỏi kẻ ứng tuyển phải có trình độ Anh ngữ thông thạo, có khả năng về điều hành, có trí thông minh để có thể thẩm vấn tù binh VC, không tham lam và không có thành tích xấu trong quá khứ. Chính vì thế sau này Vũ đã giới thiệu nhiều anh em ra làm việc như: Nguyễn Ngọc Thuận, Vũ Ngọc Bách, Bùi Minh Ngọc, Nguyễn Văn Hồng, Tôn Thất Hồng (10),  v.v... ra làm việc ở văn phòng này.
      
    Vũ và Thom trò chuyện với nhau thật lâu. Dù mới gặp nhưng tưởng chừng như đã quen nhau từ nhiều năm trước vì cái tình "huynh đệ chi binh" và vì cùng hoàn cảnh tù đầy cải tạo, nên trò chuyện hoài không dứt. Bao nhiêu chuyện vui buồn đời quân ngũ lại được dịp trao đổi với nhau, bao nhiêu khổ ải nhục nhằn trong những trại biến hình của cộng sản lại có cơ hội tràn ra khỏi miệng, những kỷ niệm xót đắng của kiếp bại binh trong điạ ngục đỏ lại được hai người kể lại cho nhau nghe tưởng chừng không dứt. Bất chợt như nhớ ra chuyện gì, Thom nói với Vũ giọng khẩn khoản:

    - Có một chuyện này không biết ở Bangkok anh đã nghe chưa? Hiện tại trong Aran Jail có giam một Trung úy Phi công VNCH. Tay này bị Thái họ giam giữ khoảng 9 tháng nay, không cho ai tiếp xúc. Tôi cũng chưa được gặp. Người Thái cho rằng anh ta làm gián điệp cho Cộng sản Việt Nam nên biệt giam ở khu đăc biệt, bị "đeo kiềng" (11) 24 trên 24.

    - Tên anh ta là gi`? Vũ tò mò hỏi.

    - Lý Tống. Ông Đại tá Tong Đen, Chỉ huy trưởng Đơn vị 506 Tình Báo Biên Giới Thái gửi hồ sơ sang nhờ Mr.Larry gửi về Hoa Thịnh Đốn để sưu tra lý lịch của Tống. Trong đó chỉ ghi vỏn vẹn có mấy hàng: tên, cấp bậc và không có số quân. Anh nghĩ coi, có thằng lính nào lại không có số quân? Không có số quân thì làm sao sưu tra được? Vì vậy mà kết quả gửi về từ Hoa Thịnh Đốn là "Trong Quân Lực VNCH và Không Quân VNCH không có ông Đại úy nào tên Lý Tống mà không có số quân..." Vừa nói, Thomy vừa lôi trong ngăn kéo ra một xấp hồ sơ đánh máy, có bút phê bằng tiếng Thái và tiếng Anh cho Vũ coi.
      
    Vũ cầm lấy đọc. Đây là Bản Cung Từ Tù Binh do Đơn vị 506 thiết lập được dịch sang tiếng Anh. Vũ thấy kẹp chung còn có một tấm card 3x5 loại thường lưu trữ hồ sơ và sưu tra lý lịch. Anh đọc được những chi tiết sau:
     
    -True name: LÝ TỐNG
     
    -Rank: Captain

    -Unit: VNAF (Vietnam Air Force)

    -Serial Number: None
       
    Bên cạnh những hàng chữ này là bút phê bằng tiếng Thái chằng chịt, ngoằn ngoèo của Tong Đen. Vũ hỏi:

    - Sao Thomy không tìm cách cứu hắn?

    - Tôi đã tìm mọi cách mà không được. Ông Tong Đen thì giấu không cho tiếp xúc, mà Larry thì thấy kết quả sưu tra có dấu nghi ngờ nên y không interest lắm; mỗi lần họp tôi nêu việc này ra đều bị hắn gạt đi. Victor ở Bangkok, quen nhiều xếp lớn, thử can thiệp cho Tống coi. Tôi coi như hết cách.

    - Tôi sẽ cố gắng hết sức mình. À! Thomy có bản lý lịch thật chính xác của Tống không? Tôi rất cần; có nó mới nói chuyện với mọi người được.

    -Không! Tên Tong Đen giấu kỹ không cho tiếp xúc nên đâu biết lý lịch chính xác của anh ta.

    Vũ trầm ngâm suy nghĩ. Anh vẫn thường giúp đỡ các anh em cựu quân nhân ở các Trại Tị Nạn trên đất Thái khi có dịp đến các Trại, dù chẳng hề quen biết họ. Dù sao thì cũng còn chút tình đồng đội, còn chút máu lính trong người nên khi thấy các anh em trong cảnh cùng quẫn, Vũ chẳng thể làm ngơ. Huống gì anh chàng phi công này còn bị giam cầm trong nhà giam của một dân tộc khác, mà dân tộc này từ xưa vốn mang nặng một mối nợ lớn đối với dân tộc anh, đất nước anh. Sau năm 1975, món nợ này càng chồng chất thêm khi họ làm ngơ bao che, dung túng bọn hải tặc hoành hành trên vùng Vịnh Thái Lan; chỉ cần nhìn vào con số hơn 500 ngàn thuyền nhân đã vùi thây dưới biển sâu chỉ vì lũ hải tặc Thái man rợ cướp của, hiếp dâm và giết người phi tang và bọn chúng được chính quyền Thái làm ngơ mặc cho chúng cướp, giết... Con số này là do Cao Ủy Liên Hiệp Quốc thống kê ra được từ lời khai báo của những người còn sống sót vào năm 1982; còn bao nhiêu chiếc thuyền chết sạch thì lấy ai mà báo cáo số người tổn thất? Con số này đã đủ nói lên cái tộc ác ghê gớm của xứ này đối với dân tộc anh. Giờ đây một quân nhân VNCH sau bao khổ ải, gian nguy trên đường vượt thoát thiên đường cộng sản lại bị giam cầm trong tay họ thì làm sao anh ngồi im cho được? Nhưng làm thế nào để cứu anh chàng này khi trong tay chẳng có một tí manh mối nào, dữ kiện nào để dùng làm bằng chứng chứng minh anh ta là quân nhân VNCH, trong lúc đó người Thái không chịu cho tiếp xúc? Vũ chợt mỉm cười vì anh vưa nghĩ ra một phương cách may ra có thể cứu được Tống. Anh hỏi Thomy:

    - Hàng ngày anh có vào trong 506 làm việc hoặc lấy tù binh bên đó về đây làm việc không?
     
    - Có chứ. Bên 506 chuyển sang cho mình một danh sách những cán binh VC đào ngũ hoặc bị bắt làm tù binh ngoài mặt trận mà họ đang giam giữ ở đó. Mình chở về đây làm việc một vài ngày.

    -Như vậy thì được rồi. Kỳ này tôi xuống đây để thanh lọc đám cán binh VC mới bị bắt trong mấy tuần vừa qua. Tôi sẽ ở đây vài ngày; hy vọng sẽ có cách cứu Tống.

    - Như vậy thì tốt quá. Mong anh thành công. Anh có thể nói cho tôi nghe anh làm cách nào không?

    - Ồ! Cũng chẳng khó gì. Ngày mai tôi sẽ thanh lọc đám bộ đội phải không? Tôi sẽ nhắn bọn chúng về nói Tống viết cho tôi một bản lý lịch; sau đó tôi sẽ yêu cầu Larry sưu tra ở Trường Huấn Luyện Không Quân ở Hoa Kỳ nơi Tống tu nghiệp; chắc chắn những chi tiết ấy sẽ phải có. Khi đó tôi về Bangkok sẽ nói chuyện với văn phòng DAO và cấp chỉ huy của Tong Đen là ông Tướng Sud Sai Chỉ Huy Trưởng Đơn vị 309 Quân Báo để nhờ họ giúp một tay. Tôi có giao tình với họ và giúp họ nhiều chuyện, nay nhờ lại họ chắc cũng dễ...
     
    Thomy vỗ tay, reo lên:

    -Hay quá. Như vậy thì Tống có hy vọng được cứu rồi.
     
    6.
        
    Ngày hôm sau, khi phỏng vấn Bùi Văn Tranh, Hạ sĩ thuộc đơn vị súng cối 82 ly của Sư đoàn 5 Việt cộng trú đóng tại Sisophon; Vũ đã giao cho Tranh một lá thư nhỏ cầm về cho Tống. Lá thư được giấu kỹ trong gấu áo của Tranh. Vũ dặn đi dặn lại Tranh là phải tuyệt đối giữ kín không để người Thái biết và Tranh phải hứa sẽ giao tận tay cho Tống. Hàng ngày ở chung trong nhà giam Aranya Prathet, Tống thường dạy tiếng Anh cho các em bộ đội VC bị giam chung nên được các em quý mến. Vũ cũng gửi vào trong nhà giam cho các em vài cây thuốc lá Samit, vài gói kẹo bánh. Đặc biệt gửi cho Tống một cây thuốc và một bộ quần áo.
     
    Nguyên văn lá thư viết cho Tống như sau:

    "Tống,
     
    Tôi đang tìm cách cứu Tống ra khỏi nhà giam. Tống hãy viết cho tôi một bản lý lịch thật đầy đủ chi tiết nhé. Xong cứ giao cho Tranh chuyển lại cho tôi.
      
    Victor.
    20/9/82"
      
    Đa số các em bộ đội bỏ ngũ bị giam ở đây đều thuộc thành phần con em Miền Nam có cha anh bị đi cải tạo. Sau khi cộng sản chiếm Miền Nam, các em bị bắt buộc đi nghĩa vụ quân sự của bọn chúng khi còn nằm trong lứa tuổi 18 - 25; nhưng khi sang đến vùng biên giới Thái - Miên, các em đã tìm cách đào ngũ chạy sang xin tị nạn ở Thái với hy vọng các nước tự do sẽ mở rộng vòng tay nhân ái cho các em định cư ở một nước tự do nào đó. Số phận các em thật hẩm hiu vì các em đến Thái vào lúc tình thương con người đã kiệt cạn, mỏi mệt với gánh nặng tị nạn ngày một thêm đông; lòng nhân đạo của thế giới đã đã cạn khô nên không nước nào thèm dòm ngó đến các em. Trong khi Thái Lan lúc nào cũng lo sợ bị CSVN thôn tính nên họ trở thành nghi kỵ và chèn ép mọi người có gốc Việt Nam, bất kể họ thuộc thành phần nào.
     
    Người Thái đẩy đồng bào tị nạn Việt Nam vào các trại giam với nhiều lớp hàng rào kiên cố và giam trong những nhà có song sắt như nhà tù... Số bộ đội VC thì bị giam ở Aranya Prathet thuộc tỉnh Prachin Buri; còn số thuyền nhân thì bị giam ở Trại Sikiew, thuộc tỉnh Nakhorn Raschasima. Các em bộ độ VC bị chính quyền giam trong Trại Aran một thời gian dài dưới sự quản thúc nghiêm ngặt của đơn vị 506; không biết ngày nào mới được chuyển sang các Trại Tị Nạn để được hưởng sự bảo trợ của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc; khi đó họ mới có tư cách để được các Phái đoàn Di Trú của các quốc gia trên Thế Giới phỏng vấn cho đi tái định cư ở một nước thứ 3. Nhiều em được chuyển từ Aran lên Trại Transit Center Phanat Nikhom thuộc tỉnh Chonburi; nhưng nằm chờ ở đó hết năm này sang năm khác mà cũng không được nước nào nhận cho đi định cư. Thỉnh thoảng mới có một vài em được Pháp hoặc Canada nhận đi theo diện nhân đạo; còn phần lớn phải nằm chờ ở Thái nhiều năm dài.
     
    Qua sự tiếp xúc với một số em bộ đội đào ngũ ở tù chung với Tống ở Aran; cộng với sự nhận xét và ước đoán tinh tế của một Sĩ quan QLVNCH từng phục vụ lâu năm trong ngành Quân Báo, Vũ đã hiểu được một phần nào uẩn khúc và nguyên nhân chính đưa đến việc người Thái khép tội Tống làm gián điệp cho Cộng sản Việt Nam. Theo lời kể của các em thì vào ngày 25 tháng 1 năm 1982, có một người Việt tên là Lê Văn Tống vượt thoát bằng đường bộ qua ngã Kampuchia, đến Thailand. Anh đã vượt qua các "check point" (12) của nhiều lực lượng an ninh Thái để vào tận thị xã Aranya Prathet, trình diện với văn phòng Hồng Thập Tự Quốc Tế xin được hưởng qui chế tị nạn. Cơ quan này không có thẩm quyền trong việc tiếp nhận người tị nạn, nên Tống được giao qua đồn cảnh sát Thái và anh được đưa về đơn vị 506 để điều tra. Lúc đầu anh được Thượng sĩ Ạt thẩm vấn, nhưng anh không chấp nhận bị thẩm vấn bởi 1 Hạ sĩ quan Thái nên đòi gặp giới chức thẩm quyền cao hơn; vì vậy đích thân Đại tá Tong Đen xuống phụ trách thẩm vấn anh. Tong Đen là một người mập, lùn; có nước da đen; y đã từng phục vụ ở đơn vị Thái Lan trú đóng ở căn cứ Bear Cat Long Thành nên nói được tiếng Việt. Quen thói hống hách quát nạt các em bộ đội đào ngũ, Tong Đen đã đập bàn quát tháo khi tra hỏi Tống vì sao có thể vượt thoát qua các "check point" mà không bị phát giác? Ai đã dẫn đường cho Tống vượt biên giới Thái? Tại sao Tống có tờ 20 Bath (tiền Thái) trong túi, trong khi tiền này mới phát hành được một tuần? Ai đã cho Tống tiền? v.v... và v.v.
     
    Tống bình tĩnh trả lời Tong Đen từng điểm một. Anh khẳng định không có ai dẫn đường cho mình mà tự ý tìm đường vượt qua biên giới bằng cách xuyên qua rừng và băng qua ruộng trong đêm tối để sang đất Thái. Còn tiền thì anh đã đổi ở Battambang (một tỉnh nằm ở Tây Bắc trong nội địa Kampuchia) cách đây một tháng... Đây chính là điểm mâu thuẫn mà Tong Đen nghi ngờ vì đồng tiền mới được phát hành bên Thái có 1 tuần. Khi thấy Tong Đen đập bàn, quát tháo Tống liền phản đối:
      
    "Tôi là một chiến sĩ tự do, chống cộng sản. Ông cũng là một chiến sĩ tự do, chống cộng sản. Trước đây ông đã từng sang nước tôi chiến đấu chống cộng sản; ông với tôi là đồng minh với nhau, là chiến hữu với nhau. Tôi không phải là cộng sản, ông không thể coi tôi như tội phạm mà thẩm vấn, quát nạt. Tôi từ chối trả lời khi ông còn giữ thái độ đó".

    Rồi anh ngồi im mặc cho Tong Đen lồng lộn tức tối.
      
    Tong Đen liền kêu lính giải anh xuống nhà giam có song sắt và tặng cho anh cặp kiềng đeo vào chân với một sợi giây xích dài hàn dính với một cục sắt tròn nặng như tảng đá. Trong bản cung từ phúc trình cho cấp trên, y đã báo cáo Tống thuộc thành phần "Tình nghi là gián điệp của cộng sản VN, rất ngoan cố; cần giam giữ để điều tra và không phổ biến rộng rãi sang bên Cao Ủy Tị Nạn LHQ". Sau đó Tong Đen đã cố tình hại chết Tống bằng cách gửi những chi tiết sai sang nhờ Tòa Đại sứ Mỹ sưu tra lý lịch. Y đã không gửi tên thật của anh là Lê Văn Tống với đầy đủ cấp bậc, số quân, đơn vị mà chỉ gửi bút hiệu Lý Tống khi viết báo và cấp bậc Đại Úy mà không có số quân để chắc chắn với những chi tiết sai ấy, kết quả sưu tra sẽ khiến Tống không còn đường thoát. Y sẽ căn cứ vào đó để trình lên thượng cấp xác quyết Tống là gián điệp cho cộng sản VN và cũng chính vì vậy nên những người Mỹ làm việc ở Aranya Prathet như Larry, như Merle, như Stain... không ai thiết tha việc giải cứu cho Tống.
      
    Sáng sớm ngày hôm sau, Vũ đã có trong tay một bản lý lịch thật đầy đủ chi tiết do Bùi văn Tranh giấu mang sang khi được Trung úy Sẳng chở sang nhà Eagle của Thomy. Những chi tiết chính xác như sau:

    - Họ và tên thật: LÊ VĂN TỐNG

    - Bút hiệu: Lý Tống (viết bài cho các tờ báo của binh chủng Không Quân như Gió Cát, Phù Sa, Lý Tưởng...)

    - Năm sinh: 1946

    - Cấp bậc và chúc vụ: Trung úy Hoa tiêu A37, Phi đội trưởng.

    - Đơn vị: Phi đoàn 548/ Sư đoàn 2 Không quân trú đóng tại Căn cứ 20 Chiến thuật Không quân. Số quân: 66/600175

    - 1/1965 - 12/1965: Air Cadet khóa 65A (cùng khóa với anh hùng Thiếu tá Trần thế Vinh)

    - 1/1966 - 5/1966: Air Cadet/ Lackland English School ở San Antonio, Texas.

    - 5/1966 - 7/1966: Bị trả về Việt Nam vì lý do vô kỷ luật (đánh một Sinh viên Sĩ quan khóa đàn anh tên Trọng). Bộ Tư Lệnh KQ Sàigòn. Giải ngũ

    - 10/1966 - 2/1967: Thông dịch viên RMK-BRJ ở số 8 Phan Bội Châu, Qui Nhơn

    - 4/1967 - 6/1968: Phụ tá Hành chánh + Programmer PA&E Tân Sơn Nhất

    - 6/1968 - 12/1968: Sinh viên Sĩ quan Khóa 4/68 Thủ Đức.

    - 1/1969 - 6/1969: Chuẩn úy. Xin gia nhập lại binh chủng Không quân và được học Khóa 1/69 Anh Ngữ tại Trường Anh Ngữ Không quân Đồng Khánh, Chợ Lớn.

    - 6/1969 - 6/1970: Khóa 33/66 Trường Phi Hành Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang.

    - 6/1970 - 5/1973: Thiếu úy hoa tiêu L.19 và U.17 của Phi đoàn 122/ Sư đoàn 4 KQ Cần Thơ

    - 5/1973 - 4/1975: Trung úy hoa tiêu A.37/Phi đoàn 548/ Sư đoàn 2 KQ/ Căn cứ 20 KQ Chiến thuật Phan Rang.

    - 5/4/1975: Bị bắn rơi ở Phan Rang và được truy thăng "Cố Đại úy" hy sinh tại chiến trường.

    - 4/1975 - 12/7/1980: Tù binh ở các trại:
     
    Lam Sơn, Tổng Trại 6 Nha Trang
    Trại cải tạo 52, 53 Tổng Trại 5 Tuy Hòa
    - 12/7/1980: vượt ngục trốn về Sàigòn

    - 23/9/1981: Vượt biên qua ngã Gò Dầu Hạ

    - 25/9/1981: bị bắt tại ga xe lửa Nam Vang và bị giam tại Trại tù 7708 thuộc A.50 (13) ở Nam Vang

    - 7/10/1981: vượt ngục trại tù 7708, trốn đi Kampong Chnang.

    - 10/1981 - 1/1982: Đánh cá tại Đài Côn (tức Chí Lức) Lô 13B Biển Hồ

    - 20-1-1982: Rời Kampuchia bằng xe đạp, trốn sang Thái Lan.

    - 25/1/1982: Trình diện Hồng Thập Tự Quốc Tế tại Thị xã Aranya Prathet và bị chuyển giao vào Trại giam Aran. 
      
    7.

    Trên đường trở về Bangkok sau 3 ngày làm việc ở Aranya Prathet với một xấp hồ sơ dầy cộm trong cặp xách Samsonite; Vũ cảm thấy nhẹ nhõm cả người vì giải quyết mấy trăm hồ sơ trong vòng 3 ngày ngắn ngủi mà khi đi anh tưởng chừng phải làm cả 2, 3 tuần lễ mới xong; đó là nhờ có sự tiếp tay của Thomy. Hơn nữa khi được rời xa cái vùng Aran hoang vắng và chỉ có nắng như thiêu đốt anh cảm thấy dễ chịu hơn. 
      
    Nhưng cái vui nhất của anh là có được bản lý lịch đầy đủ và chính xác của Lê Văn Tống. Những chi tiết trong đó có thể giúp anh cứu được anh chàng hoa tiêu Không quân này ra khỏi lao tù tự do. Vũ ôm chặt chiếc cặp trong tay như sợ rằng bản lý lịch của Tống sẽ vụt bay theo cơn gió lộng lùa vào trong xe qua khung của kính mở hé. Anh cảm thấy sung sướng vì sắp làm được một công việc có ích, giúp cho một người chiến hữu dù chưa hề biết mặt nhau. Mặc! Đâu cần phải quen biết nhau mình mới giúp đỡ được nhau. Không biết cái chất lính trong con người của anh nó như thế nào mà mỗi khi gặp được một người cựu quân nhân, một người cựu tù nhân cải tạo dù không quen, anh vẫn có những cảm tình quyến luyến như có sự ràng buộc vô hình nào đó níu anh lại. Anh có thể ngồi nói chuyện với những người bạn mới này hàng hai ba giờ đồng hồ không dứt và anh vẫn tự động giúp đỡ trong khả năng của anh. Giúp mà không cần họ biết đến, giúp mà không cần được cảm ơn, Chỉ cần thấy các anh em vui là Vũ cảm thấy yên ổn trong lòng.
     
    Anh muốn con đường dài kia ngắn lại để anh có thể phóng vào Tòa Đại sứ Mỹ ở Bangkok trước giờ các viên chức nghỉ việc để còn đánh ngay một công điện sang Hoa Thịnh Đốn nhờ sưu tra lý lịch của Tống theo cái bản anh đang có trong tay.
      
    Anh hy vọng về đến nơi trước khi trời tối; nhưng càng mong mỏi, chiếc xe dường như càng chạy chậm hơn và con đường như càng dài thêm, xa hơn. Thời gian như cũng đồng lõa với không gian, đi nhanh hơn thường ngày làm Vũ thêm bồn chồn, mong đợi. Vũ không còn cái háo hức ngắm phong cảnh hai bên đường như thường lệ mỗi lần đi xa bằng đường bộ. 
      
    Anh ngồi im trong xe, miên man nghĩ về trường hợp Lê Văn Tống... Từ sau ngày Miền Nam bị bức tử một cách đau đớn; Quân, Dân, Cán, Chính của Việt Nam Cộng Hòa đã phải chịu trăm ngàn cay đắng, khổ ải, truân chuyên; riêng người quân nhân tên Lê Văn Tống thì lại trở thành "Cố Đại Úy" dù vẫn còn sống sờ sờ, bị giam cầm đầy ải ở nhiều nhà giam khác nhau và bây giờ lại bị kết án là gián điệp của kẻ thù ngay trên phần đất tự do... Còn nghiệt ngã nào hơn?
       
    Con đường có dài hơn, xa hơn; cuối cùng thì Vũ vẫn về đến Bangkok. Buổi tối nên thành phố rực rỡ trong ánh đèn muôn màu trông thật đẹp. Giờ này nhân viên các phòng sở đã nghỉ việc và David Campbell, xếp trực tiếp của Vũ chắc cũng đã về nhà. Thôi đành đợi đến sáng mai mới vào Tòa Đại sứ để gửi bản sưu tra vậy.

    Cách hay nhất bây giờ là về nhà tắm nước nóng cho trôi đi bụi đất biên giới, tỉnh táo sau một chặng đường dài mỏi mệt và nghỉ ngơi cho khỏe khoắn...
      
    Khoảng 8 giờ tối, Vũ gọi điện thoại cho Đại tá Prachet (tiếng Thái đọc là Pra Chệt), Tham Mưu Trưởng của Đơn vị 309 Quân Báo trò chuyện để tìm cách hỏi ông về trường hợp Lê Văn Tống. Từ ngày làm việc ở Bangkok, Vũ vẫn giữ mối giao hảo thân tình với Đại tá Prachet. Anh quen ông do sự giới thiệu của David Campbell. Trong công việc, Đại tá Prachet rất mến phục khả năng chuyên môn và những ước đoán tình hình một cách chính xác của Vũ. Nhất là sau vụ điều tra chiếc phi cơ Antonow 26 của cộng sản VN bị crash landing xuống quận Sakaeo hồi tháng 2/1982; Vũ đã phát giác ra cả một kế hoạch lớn của cộng sản VN trên đất Thái trong khi các cơ quan An ninh của Thái đã bó tay. Đại tá Prachet càng nể nang Vũ hơn và chơi thân với anh hơn; khi gặp những chuyện liên quan đến CSVN mà ông bí lối, ông thường vấn kế của Vũ. Ông tỏ vẻ mừng rỡ khi nghe Vũ gọi lại. Vũ cũng trình bày sơ lược câu chuyện "làm gián điệp" của Tống và sự hiểu lầm của Tong Đen cho ông nghe. Vũ hỏi ông: "... liệu khi anh gom đủ tài liệu chứng minh Lê Văn Tống là một cựu Sĩ quan KQ VNCH thì ông có thể can thiệp để thả Tống được không?" Ông đã sốt sắng hứa sẽ giúp hết mình trong khả năng của ông. Vũ cảm ơn và hứa sẽ có đầy đủ bằng chứng đưa cho ông. Anh gác máy điện thoại mà nghe lòng nhẹ nhõm vì ít nhất cũng đã kiếm được người ở phía Thái Lan tiếp tay. 

    Sau khi gửi tờ lý lịch của Tống về Hoa Thịnh Đốn để sưu tra; trong khi chờ đợi kết quả sưu tra, Vũ lại đi xuống các Trại Tị nạn Sikiew thuộc Tỉnh Nakhorn Ratchasima và Trại Phanat Nikhom thuộc tỉnh Chonburi để tiếp xúc với các anh em cựu quân nhân ở các Trại ngõ hầu thu thập thêm tài liệu về Tống. Trại Sikiew đúng ra là một nhà giam trực thuộc Bộ Nội Vụ để giam giữ những người Việt kiều hoạt động cho cộng sản trên đất Thái, nên nhà có song sắt và ngăn thành từng xà lim nhỏ, mỗi phòng đều có song sắt và cửa riêng. Việt kiều sinh sống trên đất Thái từ năm 1945, đa số đều theo phía Cộng sản VN, họ tôn sùng Hồ Chí Minh và trong làng đều có tượng HCM; chính vì vậy người Thái rất ghét người Việt và họ chèn ép đủ mọi cách, trẻ em bị cấm không được học hành lên cao hơn bậc tiểu học, và bị cấm nhiều nghề không được làm. Sau ngày 15-8-1981, khi chính phủ Thái ban hành chính sách "Ngăn Đe Nhân Đạo" nên tất cả các thuyền nhân cặp vào bờ biển Thái Lan đều bị tập trung vào nhà giam Sikiew và họ ngăn cấm không cho các Phái Đoàn Di Trú của các quốc gia đệ tam vào lập hồ sơ phỏng vấn. Còn Trại Panat Nikhom là một Transit Center, nơi tập trung dân tị nạn Việt, Miên, Lào, Hmong đã được thanh lọc nằm chờ lập thủ tục đi định cư ở các nước thứ ba.

    Vũ đã gặp gỡ nhiều anh em cựu quân nhân để xác nhận lý lịch của Tống như: Võ Thành Sô, Nguyễn Bảy, Hoàng Văn Mai, Vũ Đình Ngọc v.v... (14) Ngoài ra anh còn gặp được nhiều người khác hoặc là bạn học thời còn học sinh, hoặc là bạn cùng khóa Không Quân, hoặc là bạn cùng tù... Họ đã cung cấp cho Vũ nhiều tài liệu và chi tiết xác đáng về Tống để phối kiểm với bản lý lịch của Tống. Anh đã đúc kết thành một bản phúc trình đầy đủ để chứng minh Lê Văn Tống hay Lý Tống thì chỉ là một người sĩ quan Không quân VNCH.

    Khi trở về Bangkok, Vũ nhận được bản kết quả sưu tra từ Hoa Thịnh Đốn cho thấy lý lịch của Tống đúng 100%; đồng thời anh cũng được lệnh ra biên giới Aranya Prathet tạm thay Thomy đã rời Thái Lan đi định cư Hoa Kỳ. David hứa là anh chỉ phải ở đó ngắn hạn trong khi chờ kiếm người. Lâu hay mau tùy thuộc anh kiếm được người làm sớm hay trễ... Vũ nghỉ ngơi mấy ngày để thu xếp đồ đạc và trả lại ngôi biệt thự trên đường Sutvichai thuộc Quận 9 Bangkok chuẩn bị di chuyển ra Aranya Prathet. Hồ sơ Lý Tống đã được anh hoàn tất với đầy đủ chứng từ của các nhân chứng. Anh gửi 1 bản sao cho văn phòng Di trú Bangkok, cơ quan JVA, Bộ Tư Lệnh Quân Đội Thái, Đơn vị 309 Quân Báọ.. Ngoài ra anh còn sao riêng 1 bản cho Đại tá Prachet nhân dịp mời ông đi ăn tối ở trong một nhà hàng Tây sang trọng dành cho ngoại kiều trên đường Sukhumvit. Sau khi xem xong hồ sơ, Prachet nói với Vũ:

    - Đây là một hồ sơ rất đầy đủ để chứng minh về Lê Văn Tống; nhưng Mr.Victor à! Ông có nghĩ đến trường hợp VC cho một người của họ giả dạng Lê Văn Tống, hoc thuộc lòng tất cả những chi tiết của lý lịch cá nhân Lê V.Tống không? Có thể lắm chứ phải không?

    - Tôi hoàn toàn đồng ý với Đại tá. Vũ đáp. Đây mới chỉ là bước đầu, tôi chỉ đi tìm tài liệu và chứng nhân để xác nhận có một Trung úy Lê Văn Tống, hoa tiêu Ạ37 của Không Lực VNCH. Bước thứ hai, tôi phải nhờ sự giúp đỡ của Đại tá. Xin ông ra lệnh cho Đại tá Tong Đen cho chúng tôi một tấm hình của Tống. Tôi sẽ đưa cho các nhân chứng để xác minh một cách chắc chắn.

    - OK. Tôi sẽ điện cho Tong Đen ngày mai. Ông sẽ có tấm hình của Tống trong vài ngày sắp đến.

    Sau đó hai người nói chuyện vãn với nhau về đủ thứ chuyện từ tình hình chính trị thế giới cho đến những hoạt động quân sự của VC tại vùng biên giới Thái - Miên trong thời gian vừa qua và ông nhờ Vũ ước đoán tình hình trong những ngày sắp tớị.. Với những kinh nghiệm máu và sự hiểu biết về VC, Vũ đã phân tích cho Đại tá Prachet về cái thế của Thái Lan trong công cuộc đấu tranh ngăn chặn mộng bành trướng của CSVN...

    Lúc chia tay, Đại tá Prachet nắm thật chặt tay Vũ nói:

    - Tôi nghĩ rằng ông là một người quá tốt với bạn bè. Người nào được làm bạn với ông quả là có diễm phúc vì sẽ được ông giúp đỡ hết mình khi cần đến.

    Vũ cười:

    - Xin cảm ơn Đại tá. Thực ra tôi chỉ làm những gì lương tâm tôi thấy là phải, là đúng. Tôi chưa hề quen anh Tống, cũng không hề biết mặt anh ta và anh ta cũng chưa hề biết mặt tôi. Tôi chỉ thấy sự oan ức của anh nên tìm mọi cách giúp đỡ vậy thôi.

    - Hy vọng rằng sau này ông cũng coi tôi như một người bạn nhé. Cảm ơn ông về bữa ăn tối nay. Chúc ông ngủ ngon và thành công.

    - Vâng! Xin chào Đại tá. Chúc Đại tá một đêm an lành. Cho tôi gửi lời thăm bà và các cháu nhé.

    Chia tay với Prachet xong, Vũ không vội trở về nhà mà thả bộ đi dọc con đường Sukhumvit. Đây là một con đường chính nằm giữa trung tâm thành phố và là khu dành cho người ngoại quốc nên được xây cất khang trang với các cửa tiệm lớn, các quán bar, tiệm rượu, tiệm cà phê và những nhà hàng sang trọng của đủ mọi quốc gia trên thế giới. Gió vi vu thổi trên cao làm tóc Vũ bay tung. Ánh đèn đường nhòe nhoẹt hắt chiếc bóng Vũ ngả dài trên hè phố. Người qua kẻ lại vẫn tấp nập, xe gắn máy chen chúc trên đường với tiếng nổ dòn tan của đủ loại máy hòa lẫn với mùi xăng khét lẹt, tạo thành một không khí thành thị náo nhiệt. Tự dưng anh cảm thấy cô độc và lạc lõng vô cùng. Anh quay trở lại bãi đậu xe. Người tài xế của Tòa Đại sứ vẫn ngồi trong xe đọc "nắng sử" (15), thấy anh bước lại vội vàng nhẩy xuống mở cửa xe cho Vũ. Ngồi vào xe, anh ra lệnh:

    - Cặp ban! (Về nhà!)

    - Khấp phổm! (Dạ! Thưa ngàị)

  3. #3
    Thành viên chính thức may4phuong is on a distinguished road
    Tham gia ngày
    May 2010
    Bài viết
    145


    Did you find this post helpful? Yes | No
    8.

    Trung tuần tháng 10/1982, Vũ chính thức rời Bangkok lên đường đi Aranya Prathet; y hệt như ngày xưa khi còn trong quân ngũ "đáo nhậm đơn vị mớị.." vậy. Thomy đã đi Mỹ được hơn 3 tuần lễ, căn nhà Eagle bỏ trống từ ngày đó nên cỏ mọc chi chít. Vũ cho sửa sang lại ngôi biệt thự chỗ Thomy; ngay văn phòng làm việc anh cho vẽ một con chim ó trắng xòe cánh dũng mãnh và hàng chữ "White Eagle" bay bướm phía dưới; ngoài vườn anh cho trồng thêm nhiều hoa và sửa sang lại những gốc xoài. Anh lấy đám bộ đội trong nhà giam Aran ra cho đào một cái hồ có cất nhà thủy tạ phía sau vườn để chiều chiều ngồi uống rượu ngâm thơ, ngắm trăng... Mùa xoài năm ấy cây nào cây nấy nặng trĩu trái, oằn cành. Vũ cho hái được mấy cần xế đem chở ra trại NW.82 cho đồng bào tị nạn. Vũ cũng gửi cho Tống một lá thư ngắn cho biết công việc cứu Tống tiến triển khả quan và hy vọng một thời gian ngắn nữa thì Tống sẽ được thả. Tống đã gửi cho Vũ một lá thư ngắn ngỏ lời cảm ơn; có lẽ Tống nghĩ Victor và Anh Ba là hai người khác nhau nên đã viết "cảm ơn anh và anh Ba.." Nguyên văn lá thư như sau:

    "Kính Anh,

    Kính mong anh nhận lời tri ân chân thành nhất về những tình cảm quí báu và những giúp đỡ tận tụy mà anh và anh Ba đã dành riêng cho em trong những ngày tháng tại Aran Jail.

    Lý Tống"

    Một buổi chiều sau khi Vũ đến Aranya được một tuần, Trung úy Sẳng đã chở Đại tá Tong Đen đến Eaglés House gặp Vũ. Ông là một người mập, lùn nên các em trong nhà giam Aran thường kêu lén ông là Đại tá Mập. Ông có nước da đen đúa, hàm răng hô và cặp mắt lộ, cứ liếc ngang liếc dọc liên hồi. Vũ nghĩ thầm: "Đây là biểu hiện của loại người gian xảo, nham hiểm nên cần phải thận trọng trong khi tiếp xúc..." Tong Đen vừa bắt tay Vũ vừa nói:

    - Chào ông! Tôi có nghe nói nhiều về ông; đến hôm nay mới gặp mặt. Đại tá Prachet có điện cho tôi, nói ông là một người tốt, có nhiều khả năng mà Prachet phục lắm. Cái đất Aran khô cằn này thật là may mắn được ông tăng cường đến tiếp tay, hy vọng sẽ khá hơn.

    Tong Đen nói tiếng Việt rất giỏi, không hề vấp váp, ngọng nghịu như những người ngoại quốc khác nói; có lẽ vì ông tiếp xúc hàng ngày với người Việt, vì thế cấp trên đã giao cho ông phụ trách đơn vị 506 Tình Báo Biên Giới này nhiều năm qua.

    Vũ cười, đáp:

    - Cảm ơn Đại tá . Đại tá Prachet quá khen đó thôi. Thực ra tôi còn phải học hỏi nhiều ở Đại tá. Vũ khiêm nhượng.

    - Đây là tấm hình của Tống. Đại tá Prachet bảo tôi đưa cho ông.

    Vừa nói, Tong Đen vừa móc trong túi ra tấm hình bán thân của một thanh niên chụp bằng máy Polaroid. Tôi có đọc bản phúc trình của ông về Tống. Ông thật mất nhiều công quá. Hy vọng ông không uổng công.

    - Cảm ơn Đại tá. Tôi chỉ làm theo lương tâm chức nghiệp và tình đồng hương mà thôi; Đại tá ở vào trường hợp của tôi cũng sẽ làm như vậy thôi. Vâng! Tôi sẽ cho các nhân chứng nhận diện và sẽ thông báo cho Đại tá biết.

    Đầu tháng 11/1982, Vũ lại lên đường đi đến các Trại Sikiew, Phanat Nikhom để nhờ các nhân chứng trước đây đã xác nhận lý lịch Lê Văn Tống nhận diện tấm hình để xác định chắc chắn đó là người họ quen biết. Tất cả các nhân chứng sau khi xem hình đều xác nhận đúng là Lê Văn Tống mà họ đã quen biết trước kia. Vũ nhờ các nhân chứng viết thành những tờ xác nhận để đúc kết thành một phúc trình chung thẩm gửi cho các giới chức có thẩm quyền của Tòa Đại sứ Mỹ và chính quyền Thái.

    Sau khi trở lại Aran, Vũ cùng Larry đi sang Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh Thái gặp Thiếu tướng Tư lệnh Sư đoàn kiêm Tư Lệnh Yếu Khu Biên Giới để trình bày nội vụ và yêu cầu ông phóng thích Lê Văn Tống. Thiếu tướng Tư Lệnh là một người cởi mở, ông vui vẻ tiếp đón Vũ và Larry với một thái độ chững chạc, rộng lượng. Ông cũng cho biết đã nhận được những báo cáo liên quan đến việc này từ Đại tá Prachet của Đơn vị 309 Quân Báo, và rất mừng khi thấy Tống đã được chứng minh là sĩ quan QLVNCH thật. Ông ký giấy phóng thích Tống ngay trước mặt Vũ và Larry. Nhân dịp này Vũ thỉnh cầu Thiếu tướng ban lệnh cho chuyển Lê Văn Tống về Trại Phanat Nikhom để làm thủ tục định cư. Ông đã chấp thuận lời thỉnh cầu này.

    Ngay khi rời khỏi Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 2 BB, Vũ và Larry đi thẳng sang đơn vi 506 Tình báo để lãnh Tống về Eaglés House để làm một số giấy tờ thuộc Tòa Đại sứ; nhưng Đại tá Tong Đen nói bên ông còn phải hoàn tất một vài thủ tục hành chánh và sẽ cho Trung úy Sẳng chở Tống sang Eaglés House vào chiều ngày hôm sau.

    9.

    Vũ và Tống ngồi uống rượu trên balcon, nhìn xuống vườn. Bóng tối đan dầy chung quanh và ánh đèn điện vàng vọt hắt ra từ những bóng điện chung quanh nhà không đủ xua tan cái bóng đêm dày đặc ấy. Gió se se lạnh vì trời đã lập đông. Gió lạnh từ núi rừng biên giới lùa về từng cơn giá buốt... Tống súng sính trong bộ quần áo mới do Vũ mua hồi chiều ngoài chợ. Điếu thuốc lá cháy đỏ trên môi. Từng sợi khói mong manh bay lên không gian, rồi tan loãng vào thinh không. Mặt Tống hừng đỏ vì men rượu.

    - Đã quá anh Ba. Tống nói. Lâu lắm rồi em mới được ngửi mùi thơm của Cognac.

    Rồi hứng chí Tống ngâm mấy câu thơ trong bài Hồ Trường. Vũ khe khe huýt gió theo điệu sáo Tao Đàn. Hai người cùng cười ha hả sảng khoái. Tống là người Huế nhưng giọng nói đã pha lẫn miền Nam. Nhìn lên tấm hình con ó và hàng chữ White Eagle trên vách, Tống nói:

    - Kỳ thiệt anh Ba. Danh hiệu truyền tin của em là Eagle mà căn nhà anh ở cũng mang tên Eagle; rồi danh hiệu truyền tin của anh cũng là Eagle. Bây giờ em lại được anh cứu ra khỏi nhà tù của xứ tự do. Vậy là từ nay em có thể cất cánh bay cao được rồi anh Ba.

    Tống cầm ly rượu lên nói:

    - Em không biết lấy gì để cảm ơn tấm lòng tốt của anh. Xin mời anh ly rượu này để tỏ lòng tri ân anh đã cứu giúp em. Em cứ tưởng anh và Victor là hai người khác nhau, chứ đâu biết hai tên chỉ là một người.

    Vũ cười cười, cầm ly rượu khẽ cụng vào ly của Tống rồi ngửa cổ uống cạn. Anh nói:

    - Đừng nói chuyện ơn nghĩa làm gì Tống à. Mình là dân giang hồ mà Tống! Xá gì ba cái chuyện lẻ tẻ đó. Anh thấy chuyện phải làm là làm thôi, dù Tống hoặc anh em nào khác anh cũng cứu, chứ đâu cần phải nhắc đến ơn nghĩạ..

    Men rượu thấm sâu vào cơ thể khiến người Vũ ấm lên. Từng mạch máu như căng phồng, chạy rần rần khắp châu thân. Anh đứng lên ngâm một bài thơ của Nguyễn Ngọc Thuận viết ở Trại Tị Nạn Sikiew gửi ra Bangkok tặng anh:

    "MƠ THẤY VIỆT NAM"

    - Tặng N.Q.V

    Giấc mơ ta lại thấy Việt Nam
    Thấy núi rừng xương trắng rợn rùng
    Máu như mưa đổ tràn sông biển
    Bạn bè xưa hòi réo nhạc âm cung

    Ngày không mặt trời, đêm giông bão cuốn
    Thành phố đen sâu hút vực trầm luân
    Em tả tơi tóc sũng gió mưa buồn
    Ngồi hát thảm khúc ca đời lạnh buốt

    Lối cũ em đi cây sầu thắp ngọn
    Bóng âm ti từng cọng cỏ may khô
    Chân em bước đất vươn chồi nụ oán
    Mõ đầu lâu ai gõ gọi hồn xưa

    Dẫy nến nhạt soi mặt người quỷ ám
    Đêm lung linh gió rú áo cơm thôi
    Vang tiếng khóc đá rung lời nguyện xám
    Bóng cờ sao vùng vẫy giữa thây tươi

    Ta thấy xích xiềng gông khua ngục thất
    Đoàn tù đi hình sống những thây ma
    Trong đói khát nhú xanh mầm nụ chết
    Tiếng người xưa chìm khuất chút âm xa

    Biển réo ta sóng dậy đất điêu tàn
    Muôn mảnh vỡ núi tan thời hủy rã
    Và lửa cháy đã thiêu trời sắc đỏ
    Đã thiêu người tận thế Việt Nam.

    Nguyễn Ngọc Thuận
    (Sikiew, 5/8/1982)
    (16)

    Tống vỗ tay, reo lên:

    - Hay quá! Hay quá! Bài thơ hay quá anh ạ. Anh cho em xin một bản để lúc buồn thì nghêu ngao được không?

    - Được thôi. Ngày mai anh sẽ copy cho Tống một bản. Bây giờ để mừng ngày hội ngộ của anh em mình, chúng ta cùng cạn ly.

    Tống và Vũ ngồi uống cho đến khuya. Cơn say làm anh chuếnh choáng. Trên bàn lỏng chỏng những chai Cognac cạn queo nằm nghiêng ngả, lăn lóc. Bùi Minh Ngọc, người phụ tá cho Vũ mới đem từ Trại NW 82 ra đã đi ngủ từ lâu. Tống khật khưỡng bước xuống thang lầu, miệng vẫn hát: "...Ôi! Phi công danh tiếng muôn đờị.." Vũ nói theo:

    - Ê! Đi cẩn thận nghe Tống. Coi chừng té đó. Biết phòng ngủ của Tống chưa?

    - Đừng lo mà anh Ba. Em không té nổi đâu anh Ba. Em nhớ chỗ ngủ rồi. Anh Ba đi ngủ đi.

    Gió xào xạc lay động những chiếc lá xoài. Một vài con dơi bay vùn vụt dưới ánh điện vàng vọt, khua động cành lá. Gió lạnh khiến Vũ co ro. Anh khặc khừ đi vào phòng mình, ngã vật xuống giường và thiếp đi trong cơn say khướt.

    10.

    Larry và Merle chăm chú đọc hồ sơ của Tống. Thỉnh thoảng lại lấy viết đỏ gạch những đoạn cần chú ý. Vũ ngồi uống rượu, hút thuốc lơ đãng ngó trên những tấm bản đồ chi chít những ký hiệu quân sự; làm như không quan tâm lắm về vấn đề nàỵ…

    Trong toán công tác của Tòa Đại sứ Mỹ ở vùng Aran có 3 người thì Larry là xếp tổng quát và chuyên về Lào vì ông đã phục vụ trên xứ Vạn Tượng từ nhiều năm trước 1975; Merle phụ trách về Việt Nam (Merle trước đây phục vụ tại Việt Nam, nói tiếng Việt như người Việt) và Stain (người gốc Hawaii) phụ trách về Kampuchia. Hiện Stain đang đi phép thường niên nên không có mặt tại đây. Vũ không phải là nhân viên của văn phòng này mà là người trực thuộc thẳng Bangkok, xuống tăng cường cho vùng này một thời gian ngắn nên tạm thời Larry đã phối trí lại nhân sự như sau: Larry vẫn phụ trách Lào, Merle phụ trách Kampuchia và Vũ phụ trách về Việt Nam. Quay sang Vũ, Merle hỏi:

    - Victor. Ông nghĩ thế nào về Tống?

    - Theo ý kiến của tôi thì anh ta là một người quả cảm, gan dạ và tự tin. Anh ta có đầy đủ khả năng Anh ngữ và khôn khéo; vì vậy tôi đã đề nghị giữ anh ta lại cho một JOB làm ở đây thế cho Thomy tại Eaglés House. Vũ nói.

    - Tôi thì cho rằng trong câu chuyện vượt thoát của anh ta dường như có điều gì đó không ổn. Tôi vẫn nghi ngờ có một cái gì đó bí ẩn trong chuyện này. Làm sao anh ta có thể vượt thoát biên giới với bao nhiêu là check points và tiền đồn của Quân Đội Thái? Hơn nữa các Ông nghĩ coi, câu chuyện anh ta trốn đi có vẻ thêu dệt lên nhiều, làm sao anh ta có thể bò đến chân tên lính gác VC mà nó không biết? Anh ta nói khi thấy tên lính gác đứng ngay phía trên, anh phải nằm lại không dè nằm trên ổ kiến lửa và hàng trăm ngàn con kiến bò lên cắn đốt anh ta; anh vẫn cắn răng nằm im; vậy tại sao mấy con kiến không cắn thằng lính gác mà chỉ cắn anh ta thôi? Larry nói xong, hắn và Merle cười hô hố.

    Đây là nguyên văn lời khai của Tống, tự tay Tống viết bằng tiếng Anh, Vũ không phải dịch như những hồ sơ bộ đội đào ngũ hoặc dân tị nạn. Merle lại nói:

    - Tôi thì cho rằng ta không nên vội vã recommend với INS (17) về case này.

    - Nếu các anh chưa chịu tin thì tôi có cách cho các anh phải tin. Vũ nói.

    - Cách nào?

    Cả hai người cùng hỏi.

    - Người Mỹ các anh tuyệt đối tin vào cái gì? Phải chăng là máy Polygraph Test? (18) Yêu cầu các anh cho Tống lên máy đó thì sẽ rõ trắng đen đúng không? Nếu anh ta qua được cái máy, các anh phải giúp anh ta OK?

    - OK. Cứ quyết định như vậy. Ngày mai tôi sẽ nói chuyện với Bangkok, xin gửi tay chuyên viên Polygraph Test xuống. Larry nói.

    - Để tránh thiên vị, ngày mai tôi sẽ trực tiếp nói chuyện với Tống và chuẩn bị cho anh ta test. Merle nói.

    Vũ cũng biết cái nguyên tắc làm việc của người Mỹ, khi 1 người bị đưa lên máy nói sự thật thì người xếp hoặc nhân viên thụ lý nội vụ không được quyền dính vào, mà sẽ có một người khác làm việc...

    Rời Main Compound ra về mà lòng Vũ buồn rười rượi. Anh nghĩ người Mỹ không thể nào hiểu được những con người Việt Nam như Tống, như anh. Khi họ đã không chấp nhận cộng sản thì dù chết họ cũng phải lánh xa cộng sản, thì muôn đời vạn kiếp cộng sản không mua chuộc được họ. Tất nhiên người Mỹ lại càng không thể hiểu được những gian nguy của các quân nhân VNCH trong cuộc đấu tranh chống cộng. Họ chấp nhận tất cả những hiểm nguy và liều lĩnh để làm những chuyện phi thường mà lúc bình thường tưởng chừng không ai làm nổi, hoặc dám làm; và người Mỹ nếu có nghĩ đến thì chỉ là trong trí tưởng tượng phong phú của phim ảnh Hollywood mà thôi.

    Con đường tối đen như mực. Người tài xế mở đèn pha sáng rực. Gió từ cánh đồng lúa lùa vào khe cửa làm tóc anh rối tung. Vũ khẽ thở dài. Tống bước ra cổng phụ mang các loại thực phẩm, nước ngọt, sữa tươi, cà phê, thuốc lá và bánh mì mà Vũ lãnh ở Main Compound về cho anh em ở trong Eaglés House ăn.

    Vũ hỏi:

    - Tống ăn cơm chưa?

    - Chưa. Em chờ anh về ăn chung cho vui.

    - Chờ anh làm gì Tống. Nhiều khi anh ở lại họp về trễ lắm, không ăn đói thì sao? Nếu cứ sau 7 giờ tối mà chưa thấy anh về, cứ tự nhiên ăn cơm trước đi. Đừng đợi anh. Còn mấy anh em khác ăn chưa?

    - Ăn hết cả rồi. Chỉ còn mình em thôi.

    - Vậy Tống dọn cơm mình ăn đi. Vừa ăn, anh có chuyện cần bàn với Tống.

    Vũ kể cho Tống nghe về câu chuyện giữa anh với Larry và Merle tối nay. Anh cũng cho Tống biết vì hai người Mỹ đồng nghiệp không tin câu chuyện của Tống; mà không tin thì phiền lắm vì hồ sơ chuyển cho Sở Di Trú không minh bạch, khó mà được họ nhận định cư ở Hoa kỳ. Vì vậy anh phải dùng đến hạ sách là yêu cầu họ sử dụng máy Polygraph Test. Đây là một máy trắc nghiệm nhịp đập của tim như máy Tâm Động Đồ của Y khoa, để phát giác ra người ấy có nói dối hay không? Vì khi nói dối, nhịp tim sẽ nhảy loạn xạ và biểu đồ sẽ cho thấy những nét lên xuống rối loạn. Nguyên tắc để vượt qua cái máy này là giữ thật bình tĩnh, hơi thở điều hòa kể cả khi trả lời sai. Vũ chỉ cho Tống cánh qua mặt cái máy là trái với nguyên tắc; nhưng vì hoàn cảnh của Tống đáng thương hơn, anh đã vượt qua cái nguyên tắc ấy. Vũ nói:

    - Qua những chi tiết anh kể cho Tống về cái máy, chỉ cần Tống bình tĩnh đừng hốt hoảng thì sẽ vượt qua được. Nhớ là bình tĩnh, trả lời một cách dứt khoát, chắc chắn, không do dự... Anh tin là Tống sẽ past.

    - Anh yên chí đi. Em mà anh. Hơn nữa anh đã cho biết trước cách qua mặt cái máy thì sợ gì không qua được?

    11.

    Merle và lão chuyên viên về Poligraph Test mở cửa bước ra. Merle giơ hai ngón tay như chữ V cho biết buổi Test đã thành công. Vũ mừng rỡ cười, anh cũng giơ ngón tay cái lên tỏ vẻ tán đồng với Merle. Y nói với anh:

    - Chiều nay ông vào main compound sớm, mình có chuyện cần họp nhé.

    - OK.

    Hai người leo lên xe đi khỏi. Vũ bước vào phòng thấy Tống đang phì phèo điếu thuốc trên môi. Tống hỏi:

    - Kết quả ra sao anh?

    - Yên chí. Qua được rồi.

    - Vậy hả anh. Ồ! Em mừng quá.

    - Anh có đề nghị tụi mũi lõ cho em làm việc lại Eaglés House, nhưng chưa biết sao. Còn tùy thuộc vào buổi test này.

    - Ồ! Cảm ơn anh. Nếu em được ở lại đây thì tốt quá.

    - Anh cũng chỉ mong vậy. Nếu được làm lại một thời gian, sẽ giúp Tống có một số tiền đi Mỹ trong bước đầu bỡ ngỡ; và anh có người thay thế sẽ trở về lại Bangkok.

    - Vậy tối nay mình phải làm một chầu nhậu để ăn mừng chứ anh?

    - Tưởng cái gì khó khăn chứ nhậu là chuyện nhỏ. Để chiều nay anh xách trong compound về mấy chai Cognac nhậu chơi. Tống thích loại nàỏ Martell, Hennessy hay Courvoisier?

    Thứ nào cũng được mà anh. Tống cười. Có là quý rồi, em đâu dám chê.

    Vũ không thể nào ngờ được bữa tiệc rượu tối đó là lần chia tay giữa Tống với anh. Và anh cũng không thể nào ngờ được định mệnh nghiệt ngã lúc nào cũng theo đuổi để dìm Tống xuống đáy vực sâu, nhưng cái bản năng của Tống lúc nào cũng trỗi dậy để sống còn, để thoát ra ngoài hệ lụy của cuộc đời. Bản tính của Tống lúc nào cũng kiêu ngạo, nghĩ rằng mình hơn hẳn mọi người, dám làm những việc người khác không dám làm nên lúc nào cũng vùng dậy, cũng muốn vượt thoát ra ngoài những ràng buộc của khuôn thước... Tống cũng không thể nào biết được rằng những cố gắng vượt mức của Vũ để cứu Tống và cố tâm giữ Tống ở lại Aranya Prathet làm việc cho Toán Công Tác của Tòa Đại sứ Mỹ đã đi ra ngoài giới hạn của một viên chức như anh. Cái cố gắng vượt mức đó đã đưa đến những mâu thuẫn tranh cãi giữa anh và hai đồng nghiệp người Mỹ, từ đó đưa đến rạn vỡ trong giao thiệp hàng ngày. Vì tánh Vũ cũng thẳng thắn và quyết giúp bạn hữu bất chấp mọi trở ngại từ đâu đến...

    Buổi chiều, Vũ trở vào main compound lúc 3 giờ chiều thay vì 5 giờ chiều như thường lệ. Anh ngồi họp với Larry và Merle trong phòng thuyết trình. Merle cho biết kết quả Polygraph Test rất tốt, y đã đánh một công điện về Washington DC và Bangkok; đồng thời cũng gửi một bản sao sang Phòng Di Trú của Tòa Đại sứ để khi Tống gặp họ để phỏng vấn đi định cư sẽ không gặp trở ngại. Tuy nhiên ý kiến của Vũ đề nghị giữ Tống lại Eaglés House để làm việc đã bị sự chống đối mạnh mẽ của Larry và Tong Đen; còn Merle thì không có ý kiến về việc này. Quan điểm của Larry và Tong Đen là: "Tống đã bị giam ở Aran lâu ngày, đã có những lúc chịu những hình phạt nặng nề, bị đánh đập v.v..., nếu giữ Tống ở lại làm công việc phỏng vấn các đối tượng bộ đội VC bị giam giữ ở Aran thì sẽ rất khó làm việc và sẽ bị bọn chúng coi thường... Tong Đen hứa sẽ chuyển Tống lên Phanat Nikhom để làm thủ tục định cư."

    Vũ bực dọc tranh cãi với Larry và anh cũng quạt luôn cả Merle vì tên này không có ý kiến gì. Thật ra vì bực dọc mà anh gây gỗ với hai đồng nghiệp vậy thôi chứ Larry là xếp ở văn phòng này, y có toàn quyền nhận cho làm hay không. Biết là không thể nào lay chuyển nổi định kiến của một con người bảo thủ như Larry, với cương vị là Boss, y phải cứng rắn là lẽ đương nhiên. Vũ dù sao cũng chỉ là một nhân viên tăng cường nên tiếng nói không có nhiều hiệu quả. Vũ chán nản đứng dậy bỏ về Eaglés House, không quên xách theo mấy chai Courvoisier, soda và đồ hộp làm mồi nhậu. Anh nghĩ mình cũng sớm rời khỏi vùng khỉ ho cò gáy này để trở về Bangkok còn vui hơn cái miền đồng quê nắng cháy, bụi đỏ mù trời này.

    Mấy bữa nay Vũ đã mang khá nhiều anh em ra interview cho cái Job làm ở Eaglés House nhưng chưa có ai được nhận. Có lẽ đây là cái Job nhàn nhã và tiền lương cũng khá cao, có nhà ở, xe chạy có tài xế, có ăn mà việc làm thì tà tà lại có cơ hội du lịch nhiều nơị.. vậy mà kiếm được một người làm không phải là dễ vì đòi hỏi nhiều điều kiện khác nhau. Anh chàng Nguyễn Ngọc Thuận, Thiếu tá Thiết giáp, Cử nhân văn chương Anh, đã được Larry nhận cho làm; nhưng không biết gã nói gì đó với Thuận khiến anh nổi nóng, đứng dậy chỉ thẳng vào mặt Larry nói: "Ngày xưa, gặp tao mày phải gọi tao là Sir. Bây giờ dù tao có thất thế nhưng đừng có hỗn láo với taọ.." Thế là Thuận từ chối cái Job béo bở này, tự nguyện trở về Trại Sikiew nằm chờ thời gian trôi đi chậm chạp. Anh chàng thứ hai được đưa ra là Vũ Ngọc Bách, Đại úy Công Binh do Merle interview (Vũ tự nguyện đứng ngoài cuộc tuyển người vì anh không phải nhân viên của văn phòng này hơn nữa vì phỏng vấn người Việt, anh không muốn bị mang tiếng là thiên vị; trong khi đó có đôi khi tuyển người cho Tiểu ban Lào hoặc Kampuchia thì hai người kia lại nhờ anh làm giúp).

    Merle là một người Mỹ có vợ Việt Nam, đã phục vụ nhiều năm ở VN, cũng có tên Việt là Nguyễn Văn Minh, nên y nói tiếng Việt còn sõi hơn nhiều người Việt khác. Y biết đến những tiếng lóng của người Việt, biết nói lái và biết nói bóng gió xa xôị.. Nếu không nhìn vào cái mũi lõ, cặp mắt xanh lơ và mái tóc vàng hoe mà chỉ nghe tiếng nói của y thì chắc chắn người ta sẽ nghĩ là một người Việt nam đang nói chuyện. Merle quá rành, nên khi trò chuyện với Bách, khi giỡn cợt Bách sơ hở không biết y gài nên nói hớ một đôi câu để y biết được khi Bách còn ở đơn vị Công Binh VNCH, đã có vài lần lấy đồ của đơn vị về nhà xài riêng. Merle nói với Vũ: "Ông biết mà, những người làm công việc như mình thì phải trong sạch. Có máu tham ô thì không làm công việc của mình được đúng không? Vì vậy tôi phải trả anh ta về Trại NW.82" .Dĩ nhiên là đúng! Vì tham ô thì khó mà qua được máy Polygraph Test lắm, làm sao có thể làm được trong ngành này.

    Một người khác cũng được Vũ mang ra chờ interview là Bùi Minh Ngọc, Thiếu úy Không Quân VNCH cũng ở trại NW 82. Ngọc nằm chờ đã cả tuần nay, Vũ để cho phụ làm những công việc giấy tờ; vì bận rộn vụ Lý Tống nên chưa được interview. Tuần sau thì Vũ sẽ đi Trại Sikiew để chở ông Nguyễn Văn Hồng, Trung tá Sĩ quan liên lạc cạnh Bộ Tư Lệnh Quân Đội Đồng Minh ở Sàigòn trước năm 1975. Ông Hồng đến Trại Sikiew mới được mấy tháng nay, nhưng vì là Sĩ quan liên lạc nên thông thạo Anh, Pháp, Thái, Hoa vì vậy Vũ quyết định lấy ông ra thử xem có làm việc được không. Nếu có người lúc nào thì Vũ sẽ về ngay Bangkok lúc đó. Thay vì về thẳng nhà, Vũ bảo tài xế lái xe đưa anh ra phố chợ Aranya Prathet mua cho Tống mấy bộ quần áo, vài cây thuốc lá và ít đồ dùng hàng ngày. Vũ chỉ mới gặp Tống trong vài ngày ngắn ngủi, nhưng hàn huyên tâm sự thì quá nhiều. Anh có cảm tưởng như sắp phải chia tay với một người em, một người thân không biết đến bao giờ mới được gặp lại. Rồi anh tự an ủi: "Thôi thì để cho Tống lên Trại Phanat Nikhom chuẩn bị đi định cư cũng là một điều may. Biết đâu khi sang Mỹ Tống sẽ làm được nhiều điều hay, nhiều điều có ích cho tập thể người Việt hải ngoạị.." Khi về đến nhà thì trời đã sẩm tối. Mấy anh em đang ngồi đàn hát ở bàn thấy Vũ về vội chạy ùa ra để mang đồ đạc vào nhà. Tống đang ngồi hút thuốc, hí hoáy viết cái gì đó trên bàn. Vũ gọi Tâm, một em bộ đội ở Aran Jail được Vũ giữ lại Eagle 's House dọn dẹp nhà cửa:

    - Tâm à! Dọn cơm ăn đi em.

    - Dạ! Anh Ba.

    - Anh có mua thêm vịt quay, thịt heo quay, bánh bò và bánh hỏị. Tâm nhớ làm nước mắm cho ngon nghe. Chỉ trong chốc lát bàn tiệc đã được dọn ra ê hề những món ăn trên bàn. Vũ kêu mọi người im lặng để anh nói lý do bữa tiệc linh đình này:

    - Các anh em chắc muốn biết lý do bữa tiệc đặc biệt ngày hôm nay lắm phải không? Đây là bữa tiệc mừng anh Lý Tống đã chính thức thoát cảnh lao tù oan ức và cũng là để chia tay với anh Tống. Mọi người đều ồ lên ngạc nhiên. Vũ đưa tay ra hiệu im lặng rồi nói tiếp: Sở dĩ anh nói như vậy vì chiều nay đi họp, ông Tong Đen đã quyết định chuyển anh Tống lên Phanat Nikhom để làm thủ tục định cư. Vậy các em cùng nâng ly để chúc mừng và chia tay với anh Tống. Nói xong, Vũ cầm ly của mình nâng lên cụng với Tống.

    - Em xin chân thành cảm ơn anh Ba về sự giúp đỡ quý báu mà anh Ba đã dành riêng cho em. Em xin tặng anh Ba bài thơ em mới viết để tỏ lòng tri ân anh. Vừa nói, Tống vừa đưa Vũ tờ giấy nhỏ có viết bài thơ. Em xin anh Ba uống cạn ly này với em và cầu chúc anh Ba luôn khỏe mạnh. Mọi người cùng nâng ly uống cạn, và bắt đầu thanh toán các món ăn trên bàn, truyện trò vang rền. Bây giờ thì Vũ đã biết khi nãy Tống ngồi hí hoáy viết cái gì rồi. Anh mở tờ giấy ra đọc:

    YOUR KINDNESS

    I have a very hard head
    But I get a soft heart
    So it makes me hurt
    Even with a light touch
    Your kindness is something
    It's stronger but it's smooth
    It can not see
    But it feels very good
    It can not speak
    But it understands
    It moves very slow
    But it overflows very fast
    It looks like an absence
    But existencés obvious
    It sounds like a silence
    But it echós very great
    It seems like nothing
    But it means everything.


    (Thơ Lý Tống - 1982)

    Bữa tiệc kéo dài cho đến khuya. Khi mọi người đã đi ngủ, Vũ rủ Tống lên ngồi ở balcon tiếp tục uống rượu. Vũ đưa cho Tống mấy bộ quần áo, cây thuốc lá và vài trăm đồng tiền Thái để Tống dùng khi đến trại mới. Vũ nói:

    - Có một điều này anh muốn nói với Tống; nếu Tống bỏ bớt được tánh kiêu ngạo thì Tống sẽ trở thành người rất hữu dụng cho đất nước sau này. Nếu Tống tiếp tục giữ tánh đó, thì hoặc là Tống sẽ rất thành công khi có dịp nắm được những cơ hội tốt, hoặc Tống sẽ bị vấp ngã nhiều hơn, đau đớn hơn.

    - Dạ! Cảm ơn anh Ba. Em sẽ ghi nhớ lời anh Ba.

    Vũ và Tống ngồi uống rượu tâm sự cho đến khuya, khi những hạt sương xuống thật dầy, đọng ướt đẫm những chiếc lá xoài vươn vào lan can đụng cả vào tay Vũ. Anh dặn dò Tống đủ điều như một người anh dặn dò người em khi phải xa nhà. Vũ nhìn trong ánh mắt Tống có những vệt long lanh của sự cảm động vì những săn sóc của anh. Vũ đứng dậy bảo Tống:

    - Khuya quá rồi. Đi ngủ nghe Tống.

    12.

    Chiếc xe pick up màu xanh của Trung úy Sẳng rẽ vào trong sân. Vũ siết chặt tay Tống bịn rịn, anh nghe lòng buồn rũ rượi.

    - Thôi Tống đi nghe. Cố giữ gìn sức khỏe. Hy vọng có ngày gặp lại nhau.

    - Chào anh Ba em đi. Chào mấy anh em ở lại, chúc mấy anh em may mắn.

    Tống quay sang vẫy tay từ biệt các anh em đứng lố nhố trong sân; rồi leo lên xe ngồi cạnh Sẳng. Chiếc xe từ từ rời khỏi Eaglés House trong sự quyến luyến của mọi người.

    Vũ quay trở vào văn phòng, ngồi trước chồng hồ sơ dầy cộm nhưng chỉ thấy những hàng chữ nhảy múa trước mặt. Tấm lịch trên bàn cho anh biết ngày Tống rời Eaglés House là 23 tháng 11 năm 1982. Tự dưng anh cảm thấy trong lòng nôn nao bồn chồn một cách kỳ lạ. Linh tính như báo cho anh biết có chuyện bất ổn đang xảy rạ.. Anh biết không thể làm gì được trong lúc này nên gấp hồ sơ cất vào tủ, khóa lại; rồi lững thững ra vườn đứng ngắm mấy cụm hoa hồng đang trổ bông. Anh dặn dò Tâm nhớ tưới cho mấy khóm hoa cúc và mấy giò lan treo ở nhà thủy tạ, mấy gốc ớ sau hiên nhà, xong trở vào ngồi trước máy truyền tin gọi về Bangkok cho David Campbell. Anh nói với xếp là muốn trở về Bangkok càng sớm càng tốt vì không thích không khí ở đây. David cũng nói đang cần anh trở về gấp vì số người đi sang Mỹ theo diện ODP và Con lai Amerisian ngày một đông, bị ối đọng quá nhiều không có người thanh lọc. Vũ nói anh sẽ về lại BangKok trong tuần sau vì hiện tại đã có Bùi Minh Ngọc tạm thay thế anh ở Eaglés House và yêu cầu David kiếm mướn cho anh một căn nhà khác ở khu Sathorn Tai, gần American Embassy. Anh thích khu vực này vì vừa gần Tòa Đại sứ mà cũng gần cơ quan ODP ở Soi Tien Siang và Cơ Quan JVA ở 89 Wireless để dễ chạy qua, chạy lại khi cần; hơn nữa lại gần khu thị tứ dễ đi ăn nhậu, mua sắm...

    Cuối tháng 12/1982, Vũ giao lại căn nhà Eaglés House cho Bùi Minh Ngọc phụ trách, trở về Bangkok giữ nhiệm vụ Sĩ Quan An Ninh thanh lọc VC trà trộn trong số những người sang Mỹ theo diện ODP và Con Lai. Anh nói với Ram Ruong, Sĩ quan liên lạc Thái có nhiệm vụ theo anh làm Thông dịch tiếng Thái ghé lại Trại Phanat Nikhom cho anh kiếm mấy người quen, vì trên đường từ Aranya Prathet về Bangkok phải đi qua Trại này. Vũ định bụng ghé lại Trại Phanat xem Tống còn ở đó không và có cần gì thì anh giúp cho. Khi vào trong Trại, Vũ sai Chô, một người Thái làm việc cho Văn phòng Bộ Nội Vụ Thái ở Trại này, đi tìm kiếm Tống cho anh, nhưng lục hết mọi danh sách nhập Trại trong thời gian từ 23/11/82 cho đến nay không có tên Tống trong đó.

    Vũ phải sang Văn phòng Cao Ủy Tị Nạn LHQ ở Phanat do Ông Chaluay, người Thái phụ trách để nhờ ông này tìm trong danh sách người tị nạn trên đất Thái, nhưng cũng không có tên Tống. Vũ liền bảo Ram Ruong gọi điện thoại về Bangkok để truy tìm tông tích của Tống xem đang ở đâu. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, Đại tá Prachet đã báo cho anh biết một "bad news" là ngày 23/11/1982, đáng lẽ phải đưa Tống lên Phanat Nikhom, ông Tong Đen đã tráo đổi giấy tờ và kêu Sẳng đưa Tống ra Trại Phnom Samet thuộc quyền kiểm soát của Kháng chiến Miên. Những người nằm ở Trại này chưa được công nhận là tị nạn và chưa được quyền bảo trợ của Cao Ủy Tị Nạn; đó là lý do Chaluay không tìm thấy tên Tống trong danh sách của Cao Ủy.

    Vũ chợt hiểu ra ý đồ thâm độc của Tong Đen, vì thù Tống chửi y, nên y định mượn tay Kháng chiến Miên giết Tống, vì với tính bướng bỉnh, cứng đầu như Tống rất dễ bị những người kháng chiến Miên sát hại. Nghĩ như vậy nên Vũ càng lo lắng, bồn chồn. Suốt cuộc hành trình trở về Bangkok anh cứ thấp thỏm lo âu không yên... Vừa về đến Bangkok, Vũ gọi điện thoại đi khắp nơi để khiếu nại về trường hợp của Tống, về sự vô kỷ luật của Tong Đen... nhưng không đi đến đâu vì người Thái thì bênh nhau họ không muốn khơi lại vụ này, người Mỹ thì bận rộn nhiều chuyện khác hàng ngày, chẳng ai quan tâm đến Lê Văn Tống nữa. Anh chẳng biết làm cách nào để liên lạc với Tống ngoài biên giới, vì với chức vụ mới, nhiệm sở mới khiến anh bận bù đầu suốt ngày, có khi làm việc đến tận khuya. Chỉ có một mình anh mà vừa phải phỏng vấn và thanh lọc những người đi theo chương trình ODP mỗi tuần đến Thái khoảng 250 đến 300 người, phỏng vấn chương trình Con Lai cũng khoảng 200 đến 300 người một tuần, viết phúc trình, đánh máy, xong còn phải họp hành lu bu. Công việc bận rộn khiến anh không còn thì giờ làm những việc riêng tư của cá nhân mà anh vẫn thường làm là đi mua sắm những món quà gửi về Việt Nam cho cha mẹ anh. Anh đã nhiều lần yêu cầu David Campbell cho anh thêm người phụ tá để giúp anh thanh toán bớt những hồ sơ ứ đọng. David cũng thấy anh bận rộn quá nhưng y lại giao nhiệm vụ kiếm tìm người cho anh, mà anh không có thì giờ rảnh đi xuống các trại kiếm tìm người có khả năng ra làm việc phụ anh. Mãi mấy tháng sau anh mới kéo được Tôn Thất Hồng, Trung úy Hoa Tiêu Trực thăng của Không Quân VNCH ra phụ giúp...

    Một buổi sáng giữa tháng 2 năm 1983 (khoảng ngày 11 hoặc 12 gì đó, Vũ không nhớ chính xác), khi đang ngồi ăn sáng để chuẩn bị đi làm, anh đã nhẩy nhổm người lên khi đọc một bài viết trên tờ Bangkok Post. Vũ còn nhớ rõ tựa đề của bài báo: "Vietnamese Refugee Flees To Singapore the Hard Way" của Barry Wain. Bài báo này được đăng tải trên tờ The Asian Wall Street Journal và tờ Bangkok Post đã đăng lại. Bài báo như có một luồng điện làm anh tê cóng cả người, anh say mê đọc bài tường thuật của Barry Wain đến quên cả ăn. Nỗi mừng vui choáng ngợp con người anh khiến anh trở nên vụng về luống cuống. Anh vội vã bốc điện thoại thông báo cho mấy người bạn cùng làm trong Embassy mà anh đã từng kể cho họ nghe chuyện về Tống trong thời gian ở Aranya Prathet và viết vội mấy giòng báo tin cho bạn bè của Tống như Nguyễn Bảy, Hoàng Văn Mai, Võ Thành Sộ.. ở Trại Sikiew biết tin. Vũ tin là con người như Tống chắc chắn sẽ không chịu nằm im thúc thủ trong những vòng rào thép gai của Trại Nong Samet. Vũ rất vui khi nghe tin của người bạn sơ giao nhưng tưởng chừng như tri kỷ đã trở thành người tị nạn đường bộ có cuộc hành trình bằng chân dài nhất, vượt qua hơn 2500 cây số, vượt ngục 3 nhà giam và bơi qua eo biển Johore Strait để đến được Singapore an toàn.

    Cuối tháng 6/1983, Vũ nhận được một lá thư của Tống viết từ đảo Galang, Indonesia; trên một tờ giấy màu xanh, một mặt có bài thơ "YOUR KINDNESS" mà Tống viết cho Vũ đêm trước khi chia tay ở Aranya Prathet. Những giòng chữ quen thuộc của Tống khơi lại cho Vũ những kỷ niệm lãng đãng ở vùng đất khô cằn, nắng cháy với những tình thân của một người đồng hương, một bạn tù, một tình huynh đệ chi binh. Tất cả phải chăng là cái duyên với nhau trên phần đời lưu lạc xứ người. Lá thư của Tống viết:

    Galang, 14 June 1983
    Anh V.

    Những ngày gặp anh, những đêm đối ẩm, nghe nhạc, đọc thơ, những hy vọng vừa lóe lên và tàn rụị.. thoáng chốc đã hơn nửa năm. Tình cảm của những kẻ vừa mới gặp nhau, quen nhau mà tưởng như có chung một quá khứ, có chung những kỷ niệm của tri kỷ, tri nhân.

    Tưởng anh đã đi, tưởng sẽ không có dịp để viết vài lời hồi tưởng, để nhắc nhở lại tí tình. Địa ngục đỏ không giữ được tôi, địa ngục "đất tự do" cũng đành hậm hực nhìn "Eagle" tung cánh. Sức mạnh tiềm ẩn của 8 năm cay đắng, thao thức đã nâng tấm thân gầy hốc hác trên đôi chân đơn độc ngàn dặm. Tôi sẽ tiếp tục đi trên con đường định mạng mà những tình cảm bè bạn, chiến hữu là những chất lửa nhiệt tình quí báu. Tôi sẽ đi Mỹ tháng 8/83. Nếu có phương tiện, anh có thể photocopy mấy bài báo này gởi Bảy và bè bạn ở Sikiew. Chúc anh và các bạn những may mắn bất ngờ.

    Lý Tống"
    Chicago, Tháng 12/1992


    Ghi chú:
    (1) xảm ló: xe ba bánh
    (2) Nguyễn Bá Ruyệt: hiện đang cư ngụ tại Richmond, Virginia
    (3) Khun Phá Lẳng: người ngoại quốc
    (4) Khun Chanas Michay: có nghĩa là Victor
    (5) Pẹt Xảm Pẹt: Tám Ba Tám
    (6) Khấp Phổm: Yes Sir
    (7) Sa Wạt Đi Khấp: Dạ xin chào
    (8) Pút Ba Xả Thài níc nòi: Nói tiếng Thái được một chút
    (9) Hà Sủn Hột: 506
    (10) Nguyễn Ngọc Thuận: Thiếu tá Thiết Giáp. Hiện đang cư ngụ ở Tempe, Arizona. Vũ Ngọc Bách: Đại úy Công Binh hiện cư ngụ ở Los Angeles. Bùi Minh Ngọc: Thiếu úy Không Quân. Hiện cư ngụ ở New Jersey City, New Jersey. Nguyễn Văn Hồng: Trung tá, Sĩ quan Liên lạc bên cạnh Bộ Tư Lệnh Đồng Minh, hiện cư ngụ tại Mc Lean, Virginia. Tôn Thất Hồng: Trung úy Không quân, hiện cư ngụ ở Seattle, Washington
    (11) Đeo kiềng: Bị cùm chân trong vòng sắt
    (12) Check point: trạm kiểm soát
    (13) A.50 Nam Vang: Bộ Chỉ Huy Quân sự của lực lượng VC chiếm đóng Kampuchia
    (14) Võ Thành Sô, Nguyễn Bảy, Hoàng Văn Mai là những hoa tiêu Không quân bạn Tống.
    (15) Nắng sử: nhật báo
    (16) Bài thơ này đã được Thuận in trong Thi tập Tù Ngục và Tâm Thức Lưu Đầy
    (17) INS: Sở Di Trú
    (18) Polygraph Test: Máy Sự Thật

  4. #4
    Thành viên chính thức Maria(Mary) is on a distinguished road
    Tham gia ngày
    May 2010
    Bài viết
    169


    0 out of 3 members found this post helpful. Did you find this post helpful? Yes | No
    Tặng các bạn bài thơ:

    Mượn danh hảo để kiếm tiền
    Một thằng Lý Tống tự xưng anh hùng
    Chống càn sủa ~~~ khùng điên
    Mượn danh chống Cộng đánh thằng trẻ con
    Mọi người khinh bỉ chê bai
    Giở trò bỉ ổi rẻ tiền Tống ơi
    Bởi ngu mày sẽ đi tù
    Coi chừng bị giết trong tù cũng nên
    Xưa nay chơi nổi làm càn
    Cùng chung bè lũ quyên tiền gạt dân
    Cha sinh mẹ dạy thế nào
    Sao mày làm chó làm trâu làm bò ?
    Mày xưng đại diện Cộng hòa
    Bôi tro trét trấu tạt phân Cộng hòa
    Cái bằng quốc tịch mày ôm
    Tưởng thằng Mỹ cũng coi mày là dân ?
    Đồng hương khinh bỉ Tống hèn
    Còn thằng Mỹ cũng coi mày là phân
    "Anh hùng" sống rúc đáy quần
    Đàn bà cũng ỉa đái vào Tống ơi
    Giở trò chống Cộng lưu manh
    Thằng Mỹ tóm cổ quăng vô trong tù
    “Đồng minh” nó ~~~ thích mày
    Sao mày cứ thích làm con chó già
    Tống ơi mày tỉnh hay mơ ?
    Kính Chúa - Yêu Nước - Chủ Nghĩa Xã Hội
    Tự do đích thực là chấp nhận lệ thuộc vào Thiên Chúa
    Không Tổ Quốc - Mất Danh Dự - Vô Trách Nhiệm[/I]

  5. #5
    Thành viên chính thức Nguyễn Cường01 is on a distinguished road
    Tham gia ngày
    Mar 2010
    Bài viết
    41


    Did you find this post helpful? Yes | No
    Anh/Chị/Cô Maire (Mary) ! Dù không thích, không đồng tình về anh Lý Tống thì cũng nên giữ lịch sự tối thiểu cho bản thân và cho X-cà này. Văn phong của anh/chị/ cô đả phản ánh phần nào sự giáo dục và tư cách của một người viết. Không những thế làm xấu đi bộ mặt diễn đàn khiến người đọc có một cảm giác ghê sợ cho văn phong của người cầm bút.

  6. #6
    Thành viên chính thức AnLap is on a distinguished road
    Tham gia ngày
    Apr 2010
    Bài viết
    22


    Did you find this post helpful? Yes | No
    Trích Nguyễn Cường01 viết: Xem bài viết
    Anh/Chị/Cô Maire (Mary) ! Dù không thích, không đồng tình về anh Lý Tống thì cũng nên giữ lịch sự tối thiểu cho bản thân và cho X-cà này. Văn phong của anh/chị/ cô đả phản ánh phần nào sự giáo dục và tư cách của một người viết. Không những thế làm xấu đi bộ mặt diễn đàn khiến người đọc có một cảm giác ghê sợ cho văn phong của người cầm bút.
    Tôi xin phép được nói thêm là, không những vậy mà còn lôi Thần Thánh vào qua chữ ký nữa. Người này có ý đồ rõ ràng!

  7. #7
    Thành viên chính thức nonnuoc is on a distinguished road
    Tham gia ngày
    Jun 2010
    Bài viết
    69


    Did you find this post helpful? Yes | No
    Trích AnLap viết: Xem bài viết
    Tôi xin phép được nói thêm là, không những vậy mà còn lôi Thần Thánh vào qua chữ ký nữa. Người này có ý đồ rõ ràng!
    Tôi cũng xin nói thêm là đọc bài thơ của "ma (rằn) ri" chúng ta thấy ngay nó phãn ảnh một nền giáo dục của "đĩnh cao trí tuệ", Xuống HCNũ!

  8. #8
    Thành viên chính thức may4phuong is on a distinguished road
    Tham gia ngày
    May 2010
    Bài viết
    145


    Did you find this post helpful? Yes | No
    “Em hỏi anh bao giờ trở lại
    Xin trả lời mai mốt anh về”

    Anh trở về trời mây nghiêng ngả
    Anh trở về hoa giấy ngàn bay


    Anh đã về
    Trương Sĩ Lương

    Thức khuya đến bốn năm giờ sáng đã trở thành thói quen đối với tôi, có lẽ những bạn đồng nghiệp trong nghề làm báo trên đất người cũng đều mắc phải cái bệnh thông thường này. Buổi sáng, nếu một người bạn nào đó gọi điện thoại đến quá sớm, chắc chắn tôi sẽ đàm thoại một cách rất là mê ngủ... Nhiều lúc, sau khi thức dậy đã quên lững những gì mình nói với người ta! Bình thường, mỗi tối thứ Bảy trước khi đi ngủ tôi rút giây điện thoại trong phòng, ai gọi đến sớm vào sáng Chủ Nhật thì chắc chắn chỉ nghe máy trả lời.

    Tối thứ Bảy 5-9-92, tôi và nhà tôi là Diệp Thục, về quá khuya từ một buổi sinh nhật ở ngoại ô thành phố Dallas; mệt mỏi, lăn ra ngủ vùi. Mới nằm xuống chừng vài ba tiếng đồng hồ, thì có tiếng điện thoại reo ba lần! Diệp Thục bực mình:

    - Quên rút giây điện thoại rồi phải không?

    Tôi không trả lời Thục, chậm chạp vớ lấy ống nghe trong mệt mỏi:

    - Hê...hêlô?

    - Có tin giựt gân, dậy nghe đi anh?

    Tôi vẫn còn mê ngủ:

    - Xin lỗi ai đằng giây?

    - Em, Kh. đây.

    - Gì đó?

    - Bản tin trong phần World Briefly của tờ Sun Telegram sáng nay nói rằng, trên một chuyến bay hàng không dân sự Air Vietnam, cất cánh từ Bangkok đi Sài gòn; khi đến không phận Việt Nam, một người thanh niên uy hiếp phi hành đoàn, buộc họ phải bay thật thấp vòng quanh thành phố nhiều lần, rải hàng ngàn tấm truyền đơn xuống thành phố Sài gòn rồi nhảy dù ra ngoài.

    Thằng em đọc nguyên văn bản tin cho tôi nghe bằng Anh ngữ như vậy. Tôi tỉnh người:

    - Còn gì nữa không? Chết cha?

    - Bản tin chỉ chừng đó thôi. Em nghĩ là anh ấy...

    - Ừ

    Tôi gác điện thoại và không kịp bye bye với thằng em, phóng khỏi giường trong chiếc quần lót, chạy xuống cáu thang, hấp tấp té nhào xuống mấy tầng cấp. Đau quá! Nhưng tôi vẫn tiến ra cửa trước. Hé cửa, vớ lấy tờ báo Chủ Nhật 6-9-92 nằm trước thêm nhà, lật thật nhanh và đọc ngấu nghiến. Đúng, chỉ một đoạn tin ấy thôi, nhưng chắc chắn rồi. Nó rồi chứ chẳng còn ai trồng khoai đất này! Tôi bỗng đâm bối rối, tim đập mạnh, hồi hộp, lo lắng ...

    Tôi trở về phòng, leo lên giường, đốt điếu thuốc nằm suy nghĩ. Chừng 15 phút sau, tôi với tay lấy mảnh giấy note book trên bàn mà đứa con gái út Vina, thường ghi những messages khi tôi đi vắng: “Ba, please call Bác Nghia ở Canada immediately.” Chữ Nghĩa không có dấu ngã và nội dung của message bao giờ cũng Việt Mỹ lẫn lộn. Tội nghiệp cho nó, sinh trên đất người từ 75 nên viết tiếng Việt thường quên bỏ dấu !

    Tôi gọi ngay nhà văn Nguyễn Hữu Nghĩa, chủ bút tờ Làng Văn ở Canada. Anh ấy đọc nguyên văn bài báo của tò South China Post có nhiều chi tiết hơn. Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi gọi ngay cho anh Võ Văn Ân, anh ấy lật đật chạy qua với bản tin tương tự trong tay. Chúng tôi nhìn nhau không nói, miệng đắng như ngậm ngải.

    - Làm gì bây giờ anh?

    - Thì cứ bình tĩnh làm ly cà phê uống đã.

    Tôi đang nhấm nháp ly cà phê và thổi khói thuốc lên trần nhà thì có tiếng điện thoại reo. Tiếng người bên kia đường giây nghe thật rõ:

    - Tôi là Chử Bá Anh, xin cho gặp anh Lương ?

    - Dạ tôi đây.

    - Thông báo cho anh biết thêm và chi tiết nhiều hơn: Theo hãng thông tấn xã AFP thì người uy hiếp chuyến bay Air Bus 310 do Vietnam Airline thuê của hãng Jess, Bulgary chính là anh Lý Tống. Trên chuyến bay VN 850 từ Bangkok đi Việt Nam, khi đến gần không phận Sài gòn, Lý Tống đã dùng sợi dây điện tròng vào cổ một nữ tiếp viên, lôi cổ cô ấy vào phòng lái và ra lệnh cho hai viên phi công người Bulgary phải bay thật thấp nhiều vòng trên vòm trời Sài gòn, rải hàng ngàn tấm truyền đơn xuống thành phố. Làm xong nhiệm vụ, Lý Tống ra lệnh mở cửa hông để nhảy ra ngoài, nhưng gió đập quá mạnh và sợ bị hút vào máy phản lực, Lý Tống quay trở lại phòng lái, mở cửa sổ và nhảy dù ra ngoài. Hiện tại tôi chưa biết tình trạng anh ấy ra sao! Có tin gì thêm, tôi sẽ cho anh biết. Đúng là một hành động phi thường, ít ai làm được.

    Tôi đã nghe hết, nghe thật rõ từng chữ một. Tôi cám ơn, gác điện thoại rồi nói với anh Ân:

    - Anh Chử Bá Anh vừa cho biết người uy hiếp và rải truyền đơn kêu gọi tổng nổi dậy chính là Lý Tống. Các hãng thông tấn xã đã xác nhận như thế.

    Có lẽ anh Ân biết tính tình “nói là hành động” của Lý Tống nên anh ấy rất bình tĩnh. Còn tôi tôi không thể giữ nổi được cơn xúc động, cũng không còn nhớ tôi đã làm gì lúc đó. Có lẽ tôi không khác một người đang mê ngủ, chạy lên gác, lấy thùng đồ của Lý Tống gởi hơn nửa tháng qua với lời dặn: “chỉ khui thùng khi thấy cần”. Thật ra, không khui thì tôi cũng đã đoán biết Tống đã gởi nhũng gì rồi. Tôi quyết định khui nó trước mặt anh Ân. Anh ấy giục:

    - Khui lẹ lên coi thử nó gởi cái gì?

    Tôi khui thật lẹ, trên mặt những phong bì màu vàng kaki là một lá thư và một chúc thư có con dấu nổi của luật sư. Tôi lướt thật nhanh qua nội dung và trao cho anh Ân. Soạn đồ ra khỏi thùng: giấy tờ, hình ảnh, băng nhựa video, cassettes, diskets, tập truyện Black Eagle đã lay out và nhiều thứ khác... Cho băng vào máy video, hình ảnh của Lý Tống hiện ra trong bộ võ phục Thái Cực Quyền thật oai hùng, hắn đeo đai đen đệ nhất đẵng đang song đấu với một võ sư to lớn người Mỹ da đen. Tôi buột miệng:

    - Nó giỏi thật, đúng là văn võ kiêm toàn!

    Anh Ân nhìn vào màn ảnh một cách chăm chú không có ý kiến. Hết đoạn đấu võ, phim quay sang một đoạn khác, đoạn này Hùng Cường giới thiệu Lý Tống có đôi lời với cử tọa đang tham dự đêm vận động nhân quyền cho hai người em kết nghĩa của anh ta, đó là Dương Ngọc Cư và Trần Văn Bé Tư. Lý Tống nói và phát biểu ý kiến trong phim rất chân thành đến công cuộc đấu tranh đòi tự do cho quốc gia dân tộc; nói đến những kẻ nội thù đang làm tay sai cho bạo quyền Hà Nội... Lý Tống thao thao bất tuyệt với công cuộc trừ khử những thành phần phá hoại cộng đồng người Việt quốc gia tại hải ngoại. Thứ đó càng ngày càng nhiều, càng lan tràn như một chứng bịnh dịch hạch.

    Tôi đứng dậy tắt video, cố lấy lại bình tĩnh để gọi thông báo cho một vài người bạn ở xa. Khi nghe câu chuyện về hành động can đảm của Lý Tống, ai cũng xúc động; có người cứ tưởng là tôi nói giỡn chơi, có người ngạc nhiên đến nổi phải buông những tiếng chửi thề. Lại cũng có người chưa hiểu câu chuyện ra đi của Lý Tống đã vội chê trách là một hành động điên rồ, phi chính trị. Tôi chỉ cười, chẳng thèm tranh luận. Bởi Lý Tống đã dùi mài kinh sử hơn tám năm tại đại học UNO về môn chính trị học mà lại bảo người ta “phi chính trị” thì quả là mình mới phi chính trị, nếu không muốn nói là mình chẳng biết đếch gì về chính trị.

    Tôi đã từng tranh luận, đấu láo đủ các đề tài với Lý Tống khi còn ở New Orleans, mỗi lần gặp nhau là bàn luận lung tung về thời sự, mỗi ngày hắn phải dán mắt vào đài truyền hình trên những mục bình luận để viết bài tham luận thời sự chiến cuộc thế giới. Vụ Thiên An Môn xảy ra ở Trung Hoa Lục Địa, Tống đã mất ngủ nhiều đêm. Dạo đó, thiên hạ cho rằng, nếu phong trào đấu tranh cho tự do dân chủ ở quốc gia này thành công thì chắc chắn Cộng Sản Việt Nam cũng sẽ tiêu tùng. Việt Nam và Tàu như răng với môi, “môi hở răng lạnh”. Nửa đêm Tống kéo tôi dậy:

    - Ê, cho mượn một ngàn, ngày mai tôi mua vé đi Bắc Kinh nhập cuộc phong trào sinh viên đang đấu tranh đòi tự do dân chủ?

    Tôi đang mê ngủ, nhưng cũng cố nói cho qua chuyện:

    - Mai rồi tính, chuyện bên Tàu mắc mẹ gì mình mà lo?

    - Đù me, Cộng sản Tàu hay Việt Cộng cũng vậy thôi, tôi muốn bay qua đó nhân danh sinh viên Mỹ xuống đường hợp lực đấu tranh với anh em sinh viên tự do bên đó quá! Hàn sĩ thật khổ, muốn thực hiện cái mẹ gì cũng khó. Chiều nay coi Ti vi thấy chiến xa bọn Cộng sản dàn trận đàn áp sinh viên, muốn điên người lên.

    - Ừ, ngày mai đem credit card đi “cà” một cái là xong ngay! Nhưng chắc gì bạn được nhập cảnh, tụi nó đang đuổi người ngoại quốc ra khỏi nước để tính chuyện nội bộ của họ đó. Vả lại, mi chưa có quốc tịch Mỹ làm sao vô được Trung Cộng, nhất là trong tình trạng rối ren hiện tại.

    Lý Tống vẫn cố nài nỉ:

    - Cách nào mà tui qua đó được thì thôi.

    Thế rồi Lý Tống không thực hiện được chuyến đi đó vì hai ngày sau Thiên An Môn đổ máu. Công an và quân đội đang lùng bắt hàng ngàn sinh viên đưa vào tù. Tình hình chính trị tại Trung Cộng trở nên phức tạp, người chết không còn đếm được. Xe tăng Cộng quân chạy bừa lên xác người... Hồi đó, ai cũng hi vọng. Cao trào dân chủ tự do đang cháy bùng tại những quốc gia Cộng sản và bộ mặt thế giới sẽ đổi thay. Sinh viên Bắc Kinh làm cú này chắc sẽ thành công.

    Cả mấy tuần lễ Lý Tống thở ra thở vào:

    - Bọn nó khát máu thật, Cộng sản Tàu hay Cộng sản Việt cũng chỉ một thứ thôi! Đù me giận không thể chịu được!

    Lý Tống lấy tay đấm vào cánh cửa, tôi an ủi:

    - Thôi đợi khi nào tình hình Việt Nam coi bộ thuận lợi, cụ mi làm một chuyến cũng chưa muộn. Chắc chắn lúc đó chúng ta sẽ có rất nhiều việc để làm. Tao nghĩ là ngày đó cũng không còn xa nữa đâu.

    Ngày bức tường Ô nhục ở Bá Linh sụp đổ, Lý Tống vui mừng và nhậu suốt đêm với bạn bè, hàn huyên chuyện dài Cộng sản thế giới. Những ngày biểu chuyển trọng đại tại Liên Sô, Lý Tống thức suốt đêm để theo dõi tin bình luận trên các hệ thống cable và gọi liên miên cho tôi về những triển vọng thành công vượt mức của trào lưu dân chủ tự do tại quốc gia này. Ngày tượng Lenin bị dân chúng kéo xuống. Lý Tống khề khà bên kia đường giây điện thoại với ly rượu:

    - Đu mẹ, đã quá. Sẽ viết một bài bình luận cho mấy tờ báo của bạn đó.

    Con người của Lý Tống là vậy. Anh chọn con đường chính trị và đã triền miên thao thúc, ưu tư vì quê hương đang ngụp lặn trong gông cùm tủi nhục. Từ nhũng thao thức đó, anh đã trui rèn cho chính con người anh một hướng đi rõ ràng:

    - Mỹ nhân là họa thủy, anh hùng mới thiên thu. Gia đình là gánh nặng cho bước chân đi tới của mình, nhất là trong giai đoạn hiện tại. Đất nước đang cần những người trai không bị một ràng buộc nào cả. Mình phải thực hiện tư tưởng khác người, sự lựa chọn khác người mới xứng dáng làm trai khi đất nước đang cần bàn tay của mình đóng góp một cách tích cực. Sanh sanh, hoá hoá chỉ làm khổ cho tha nhân. Trên thế giới này có rất nhiều người sống độc thân với tâm nguyện hiến dâng đời mình cho đất nước; nhất là một quê hương dân tộc đang sống trong nghiệt ngã khổ đau, cả một thế hệ thanh thiếu niên đang bị những tên lừa bịp quăng vào sọt rác. Lý Tống sẽ phải làm một cái gì đó. Cái đó là cái hạnh phúc nhất trong nội tâm tôi.

    - Chứ không phải ở vậy để chôm được nhiều người đẹp sao?

    - Cũng già rồi, còn mẹ gì nữa! Hơn nửa đời người mà chưa làm gì được cả!

    Lý Tống là một mẫu người rất có chiều sâu trên nhiều phương diện. Bề ngoài, người ta chỉ nhìn anh qua lăng kính thâu hẹp của những cuộc vui, nhảy đầm, yêu đương loạn xạ… Thế nhưng, trong nội tâm anh là cả một vòm trời bao la về quê hương đất nước. Không làm thì thôi, làm gì thì chỉ có trời cao mới hiểu nổi.

    Lý Tống mê đọc sách hơn mê mỹ nhân. Trong tủ sách tràng giang đại hải về môn chính trị mà anh theo học hàng ngày, cặm cụi chăm chỉ, nhưng anh cũng dành thì giờ để nghiên cứu văn chương thi phú. Phải nói là anh thuộc lòng cả những bài cổ văn mà tôi nghĩ là rất khó nhớ ở những lớp trung học.

    Có tiếng điện thoại của tiến sĩ Stephen Ambrose, người cùng đứng tên với tôi trong chúc thư số một, gọi đến từ New Orleans đầy những lo lắng của tình thầy trò:

    - Xin giới thiệu, tôi là giáo sư Ambrose, cho tôi gặp ông Lương?

    - Hân hạnh được gặp giáo sư, tôi đây.

    - Anh nhắn tin trong máy ghi âm về chuyện Lý Tống?

    - Giáo sư đã nghe về chuyện Lý Tống rồi chứ?

    Tôi kể sơ qua chuyến về của Lý Tống, ông ấy thở ra đầy vẻ lo lắng:

    - Không biết Lý Tống nhảy dù xuống rồi bị ra sao rồi!

    - Tôi cũng không rõ, có gì tôi sẽ gọi cho giáo sư ngay.

    GS. Ambrose nói rất thận trọng:

    - Để rồi tính, chắc chắn là chúng ta phải làm gì cho Lý Tống.

    - Dạ, còn cuốn tự truyện Black Eagle thì ông nghĩ sao?

    - Chừng nào nhà xuất bản ở New York chịu phát hành thì họ sẽ gọi chúng ta. Tôi nghĩ nhân vụ này, sách của Lý Tống sẽ có giá hơn.

    - Tôi cũng hy vọng như vậy. Còn vấn đề an toàn cho Lý Tống, ông có giúp gì được không?

    - Tôi sẽ vận động, sẽ gọi anh sau.

    Gác điện thoại, tâm hồn tôi bỗng dưng rối loạn như lửa đốt. Tôi lại đốt thuốc lá, nhìn anh Ân như muốn được chia sẻ những ưu tư lo lắng đang rối bời trong trí óc. Tôi soạn những món đồ kỷ niệm mà Lý Tống gởi, đặt lên bàn. Một phong bì đầy hình ảnh cũ mới: hình màu, hình đen trắng chụp chung với bạn bè, chụp một mình với phi cơ huấn luyện, với dù, với bộ đồ pilot màu cam mà anh rất ưa. Tất cả những thứ đó như nhảy múa trước mắt tôi, tôi nghĩ:

    - Mày gan thật, mày oai hùng thật. Chuyện mới nghe chắc chắn người ta cứ tưởng mày đang đóng phim, một loại phim sống mà người quay phim là dân, là công an, bộ đội súng ống ập tới dúi vào người mày thay vì những chiếc cameras tinh vi ở Hollywood.

    Tôi gọi cho người chị ruột của Tống ở Tulsa, Oklahoma. Bên kia đường giây, chị ấy lặng thinh khi nghe tôi nói về bản tin. Có lẽ nhũng giọt nước mắt nóng đang trào ra trên đôi má hiền lành của một người thân cật ruột. Tôi chẳng biết gì hơn, chỉ còn an ủi chị ấy. Không biết tôi an ủi chị ấy hay tôi đang an ủi cho chính tâm hồn tôi. Cố dằn cơn xúc động, nhưng vẫn thấy đắng họng, bởi nhũng cảm xúc tự nhiên của tình bạn, tình anh em, tình người...

    Bên kia đường giây chị ấy kể:

    - Qua đây được một năm rồi, cứ trông cậu ấy qua thăm một chuyến, nhưng cứ nói bận học không đi được. Bây giờ thì hết rồi!

    Chị lại im lặng. Tôi nghe những quặn thắt trào dâng trong lòng. Tôi nói để trấn an:

    - Chị ạ! Tống nó ra đi vì đại cuộc, đành rằng mình thường thì mình lo sợ...Nhưng tôi nghĩ chẳng thằng nào dám làm gì Tống được đâu. Với cái tinh thần bất khuất đó, tôi nghĩ không sao đâu.

    - Cách đây hơn một tháng, cậu ấy có gọi và nói đến cái vụ này...tôi có can và đòi phải qua thăm tụi tui một chuyến...rồi tính gì thì tính… 25 năm rồi chưa gặp được em! Chừ trên đất người hi vọng được gặp thì lại không gặp được. Lần cuối cùng…tui năn nỉ cậu ấy nhưng cậu nói đừng mềm yếu và sau đó cúp luôn đường giây diện thoại. Đó là lần cuối tôi nghe giọng nói của Tống.

    Tôi lại an ủi, biết rằng những lời an ủi trong lúc này chẳng có một giá trị nào cả trước nỗi đau quặn thắt của một người thân. Nhưng biết nói gì ngoài những lập luận thông thường để trấn an chị ấy. Tôi chào tạm biệt chị, đốt điếu thuốc lặng người suy nghĩ vu vơ một lát thì tiếng anh Ân đánh thức tôi quay về thực tại:

    - Coi thử còn gì nữa không?

    - Hai bản thảo luận án tiến sĩ dày cộm nằm riêng trong một phong bì.

    - Phong bì kia?

    - Những lá thư tình của H. của N. của M...

    Tôi không còn trí óc để dọc những lá thư tình giấu kín này nữa. Anh Ân không còn đặt những câu hỏi về Lý Tống, ngồi yên lặng trên chiếc salong đưa mắt qua cánh cửa kiếng sau nhà. Buổi sáng trời mùa Thu âm u và buồn. Gió đổi mùa mang theo những giọt mưa bay bay tạt vào cửa kiếng nghe thật rõ. Chúng tôi im lặng, mỗi người đang thả hồn về một khoảng thời gian nào đó trong ký ức, tự mình vẽ lại những bức tranh thật đẹp về Lý Tống. Im lặng! Không còn lời nào để nói với nhau nữa. Anh Ân thở dài, có lẽ anh ấy đang quay về quá khứ xa gần với Tống: đời phi công chiến đấu hào hùng trên vòm trời đất mẹ, một mình một con tàu tung mây lướt gió… và những ngày buồn vui tại thành phố buồn New Orleans. Còn tôi, mang đầy những ân hận là đã không vui với Tống qua điện thoại trước khi lên đường. Tôi nhớ lại hôm đàm đạo sau cùng:

    - Làm gì cũng phải có hậu thuẫn mới thành công được. Hãy suy nghĩ thật kỹ?

    - Hậu thuẩn từ chỗ nào? Ai? Gần mười tám năm rồi, hải ngoại làm được cái gì? Chỉ biết nói, nói, nói và nói nhiều!

    Hắn cúp điện thoại. Có lẽ tôi đã làm nó cụt hứng. Tối hôm đó, Tống gọi cho nhà tôi nói chuyện thật vui vẻ chào tạm biệt và hẹn ngày tái ngộ khi đất nước hồi sinh. Chúc các cháu học hành thành tài để mai này trở về phục vụ cho quốc gia sau khi CS sụp đổ. Tôi vẫn tin là Tống không bao giờ giận tôi: dù là những đóng góp nhiều khi rất nghịch ý.

    Lại nhớ tối hôm đàm đạo với Tống vào giũa tháng Bảy vì hai bản di chúc. Đó là một sáng Chủ Nhật. Tống cũng đánh thức tôi dậy sớm:

    - Ê giờ này mà còn trên giường thì đấu tranh, đánh trâu cái mẹ gì?

    - Ừ tối hôm qua thức khuya viết bài, ngày mai báo lên khuôn ông nội ơi! Đúng là cái nghề mệt mỏi nhất trong xã hội tạm dung này!

    - Cho xin số social security của anh có chút việc?

    - Làm gì?

    - Thì ĐM. Làm gì cũng được. Sợ tui black mail chuyện tình hay sao? Nói đưa là cứ đưa, không nên thắc mắc, được không?

    Tôi cười rồi đọc số an sinh xã hội cho nó và cũng chằng thèm hỏi tới mục đích của bạn. Cũng chẳng cần biết nó làm mẹ gì với cái con số đó, nhưng tôi cũng đoán biết là Tống đang có dự định làm gì lớn lắm nên mới hỏi lại số an sinh xã hội. Hai hôm sau hắn gọi lại:

    - Xong rồi.

    - Xong chuyện gì?

    Lý Tống im lặng một giây lâu rồi cất tiếng rất chững chạc :

    - Tôi đã ra luật sư nhờ họ viết một văn kiện ủy quyền và một chúc thư cho anh.

    Tôi ngạc nhiên:

    - Để làm gì? Chuyện gì mà có vẻ trọng đại như thế?

    - Tôi sắp đi xa, không biết có còn ngày gặp lại anh hay không?

    Tôi giữ im lặng. Lại nghĩ chắc nó nổi máu “Thiên An Môn” nữa rồi:

    - Cứ giỡn hoài, có chuyện thì cứ nói đại lên đi?

    Lý Từng nói rất bình tĩnh:

    - Chuyến đi này chết bảy phần, thành công và sống sót chi có ba phần.

    - Không chắc ăn như vậy thì sao lại làm?

    - Mọi việc trên đời này nhiều khi đều do định mệnh an bài, nhưng việc cần làm thì phải làm, chúng ta không thể ngồi chờ sung rụng được nữa! Tôi phải làm một cái gì đó cho quê hương đất nước. Anh hiểu điều tôi nói chứ gì? Đã đến lúc tôi phải ra đi...Điều tôi làm chắc chắn rồi đây anh sẽ hãnh diện là đã có một thằng bạn như tôi.

    Tôi có cảm tưởng như anh ấy đang chán đời vì một sự việc gì đó, nên mới gọi tôi để thổ lộ tâm tình. Tôi nói ngay:

    - Làm gì thì cũng phải bình tĩnh. Vả lại, đang chờ ra hội đồng để đội áo mão tiến sĩ lại đòi đi đâu nữa đây?

    - Anh đã biết nhiều về con người tôi rồi, cần gì phải giải trình mất thì giờ và tốn tiền điện thoại. Tôi đã sửa soạn cho cuộc hành trình này gần cả năm nay rồi. Tất cả đều đã chuẩn bị chu đáo, chi chờ ngày lên đường. Tuần sau anh sẽ nhận đồ tôi gửi và nhớ làm theo lời dặn là tôi vui rồi. Nếu được thì về đây chơi với tôi ít ngày có được không?

    - Mới về thăm các bạn hôm tháng Năm rồi. Đi mãi bỏ công việc không ai làm!

    - Vậy thì thôi, hẹn ngày gặp lại...

    *

    Suốt mấy ngày liên tiếp tôi sững sờ như một người lạc hồn. Báo lên khuôn, tôi chẳng viết lách gì được cả! Điên thoại bạn bè tới tấp gọi về thăm hỏi. Các tờ háo bạn ở xa muốn biết thêm tin để lên khuôn. Tôi không biết phải làm gì lúc đó! Trường Sơn Lê Xuân Nhị liên lạc thường xuyên và thúc giục phải lên tiếng để đốc thúc tinh thần đấu tranh của tập thể người Việt quốc gia tại hải ngoại. Ngọn lửa Lý Tống đã đốt lên trong lòng dân tộc, chúng ta quyết chí gom sức để tiếp nối ngọn đuốc ấy đang bừng bừng bốc cháy:

    - Anh thấy không? Có ai so sánh được với Lý Tống? Những ngày cuối cùng với chúng tôi bên này, anh ấy rất bình tĩnh, lộ trình hành động cũng được sửa soạn rất kỹ càng.

    Tôi thở dài:

    - New Orleans là nơi xuất phát của Lý Tống, bên đó anh em đã làm gì chưa?

    - Lu bu nhiều chuyện quá, chắc phải đợi vài ngày nữa coi tin tức ra sao rồi gặp anh em bàn chuyện cũng chưa muộn.

    - Tuần sau tụi tao xuống.

    Cuối tuần đó, anh Ân, Diệp Thục và tôi đi New Orleans để gặp gỡ anh em bạn bè. Sau gần 10 tiếng đường bộ, từ xa lộ I-20, băng qua 49 rồi vào I-10. Ngồi trên xe, chúng tôi nghe hết hai cuốn băng cassette mà Tống thâu lại từ nhiều cuộc đàm thoại với một người bạn cùng khóa 65A mới qua định cư tại Cali. Trong cuốn băng đàm thoại ấy, có lẽ được thu vào khoảng tháng Ba năm 1992, nội dung của nó có rất nhiều mẫu chuyện khác nhau: chuyện hoạt động của những anh em mà Lý Tống móc nối bên nhà, chuyện ưu tư về quê hương đất nước…

    Người bạn trong cuốn băng tiết lộ rằng, trước khi ra đi theo diện HO, anh đã bị bọn công an kêu lên điều tra nhiều lần vì những thành tích hoạt động của Lý Tống. Có lẽ hai lá thư mà Lý Tống đã gởi: một cho Nguyễn Văn Linh năm ngoái và một lá thư khác gởi cho Võ Văn Kiệt đã làm anh ấy bị kêu lên phòng điều tra chăng? “Tụi nó coi mày (Lý Tống) và tướng Lê Quang Lưỡng là thành phần cực kỳ nguy hiểm...” Đó là lời nói của người bạn Lý Tống trong băng.

    Chúng tôi đã nghe đi nghe lại nhiều lần về hai cuốn băng. Trong đó, anh đã sửa soạn rất kỹ cho chuyến về quê hương đầy dũng cảm này.

    Đến nửa đêm chúng tôi mới mò vào thành phố New Orleans. Thành phố về đêm đã buồn, lại càng buồn hơn khi anh Ân cho xe chạy vào những con đường cũ quen thân. Mười mấy năm ở đó, dù không phải là nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng tôi vẫn cảm thấy như có một cái gì đó lâng lâng ở trong tâm hồn. Kỷ niệm những ngày đầu tiên đặt chân lên thành phố này hiện ra rõ ràng như một bức tranh sống. Một sớm một chiều quẳng gánh ra đi, rồi đến nơi này, ở nơi này gần 14 năm, buồn vui với những người đồng cảnh ngộ. Ôi nhiều quá! Khó mà nhớ hết…

    Băng qua con đường Canal, khu vực Chinatown bây giờ đã trở thành một bãi đậu xe, chẳng còn một dấu tích nào của một khu phố Tàu hồi trước. Ở đó, ngày xưa thật vui, cuối tuần có quán Làng Văn, bà con thường ghé lại nghe nhạc thính phòng, có Dancing Club do Lý Tống đảm trách một giai đoạn. Lý Tống và khuôn mặt “coi trời như ngọn rau má” của nó lại hiện ra trước mắt tôi. Tôi nhắc đến Tống, anh Ân bảo đừng, sợ nó nhảy mũi. Giờ này nó đang nằm trong tù chắc phải nhảy mũi lia lịa vì hàng triệu người Việt trên thế giới dù quen hay không quen cũng đang nhắc tới sự trở về đầy dũng cảm hào hùng của nó. Tên tuổi của Lý Tống đã đi vào lòng dân tộc kể từ đây.

    Phố xá của nước Mỹ luôn luôn có những đổi thay theo nhu cầu sinh sống của cư dân, xe cộ hàng ngày càng nhiều thì đường sá phải sửa sang, mở rộng để giải quyết vấn đề lưu thông ứ đọng. Hồi mới qua năm 75, từ Đông ngạn thành phố New Orleans, qua con sông Mississippi để tới vùng Tây ngạn chỉ có một cây cầu mà người Việt mình thường gọi là cầu Con Cò. Cây cầu này có 4 lane, thế mà xe cộ lúc nào cũng ứ đọng, nhiều khi chờ cả tiếng đồng hồ mới qua được cầu!

    Bây giờ thì đã khác rồi, kinh tế Louisiana gần 10 năm nay cũng suy sụp theo cơn lốc dầu lửa như các tiểu bang Texas, Oklahoma… nhưng chính phủ vẫn phải gồng mình bắc thêm một chiếc cầu song song với chiếc cầu cũ đễ phục vụ người dân thành phố. Nghe nói, bắc cầu xong là đã giải quyết được nạn kẹt xe. Hồi trước hẹn hò với ai ở phía bên kia cầu thì phải coi chừng trễ hẹn.

    Còn nhớ, hồi Lý Tống ở chung với tôi ở Marrero, vùng Tây ngạn, anh ta cứ càm ràm vì nạn kẹt xe mỗi ngày từ nhà tới trường. Ban đêm thì cặm cụi với đèn sách tới hai ba giờ sáng. Sáng mò qua cầu đi học mà trễ giờ là cả một vấn đề bất tiên. Lý Tống sắp đặt thời khóa biểu rất thứ tự: giờ đi học, giờ làm bài, giờ giao báo, giao hàng, giờ hẹn đào, giờ điện thoại... tất cả đều tự mình đặt theo khuôn mẫu mực thước. Cuối tuần sau khi đã hoàn tất bài vở có thể ghé chơi với bạn bè khề khà vài ba ly, thế nhưng gặp mùa thi cử thì Lý Tống gác lại tất cả những chuyện lẩm cẩm... Một cô bạn gái nào đó vô phước gọi anh vào những ngày thi cử thì coi như… đi luôn.

    Bạn bè gần xa thường cho rằng Lý Tống không bao giờ bỏ mất cơ hội khi gặp một mỹ nhân nào đó. Nhưng tôi cho là không có nghĩa gì với Lý Tống cả bởi tôi đã chứng kiến cái gọi là “kiếm sĩ vô tình” của anh. Anh vẫn thường lý luận: “Cái hạnh phúc nhất là sống thật cho mình”. Rất hiện sinh. Anh thường cho rằng thiên hạ cứ luẩn quẩn mãi trong cái vô thường của trời đất… Cứ thế mà đi tìm kiếm những cái “có” để thoả mãn những nhu cầu bình thường của con người. Tại sao lại không đi tìm những cái “không” để được hạnh phúc trong những cái không đó. Tình yêu cũng vậy, có đó mà không đó, có cái gì là vĩnh cứu đâu!

    Nói thì nói, nhưng người tình của Lý Tống thì nhiều lắm, thế mà vẫn thường tâm sự: “Rối cuộc chẳng thấy yêu ai cả!” Ta đã thắng ta, trận chiến quyết liệt nhất của con người là mình thắng được bản thân mình, chống lại được những cám dỗ của chính mình. Nghĩa là trước mắt Lý Tống chẳng có gì quan trọng cả, ngoại trừ những khắc khoải về quê hương, dân tộc.

    Những cuộc tình của Lý Tống đến và đi như trời đất đổi mùa. Thế nhưng, bao giờ cũng sôi nổi ghê gớm và được mô tả là những cuộc tình lớn. Ngoài Hạnh, tôi cho là một Cô Giang của người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học, Lý Tống còn những cuộc tình lớn nhỏ mà tôi biết qua. Trong đó có NB. một nhân vật khá nổi tiếng, đã từng thư đi tin lại với những bài thơ “nhập cuộc” đầy lãng mạn, da diết... Có lần tôi đã phụ họa với anh một vài câu thơ mà chắc anh ấy sẽ không hao giờ quên:

    Ngải Thần đây sẽ sẵn sàng
    Đưa em lên dạo thiên đàng một phen
    Thử một lần, rõ trắng đen
    Tiếc chi bình rượu lên men uống đời

    Lý Tống với cái đa tình, lãng mạn, yêu thơ, yêu nhạc; nhưng không có nghĩa là không dứt khoát, bởi anh ấy không đặt con tim cho những cuộc tình riêng tư trên tình yêu đất nước:

    “Mỹ nhân vẫn là họa thủy, anh hùng mới thiên thu”.

    Anh ấy thường nhắc đi, nhắc lại sau những cuộc tình ngắn, tình dài… nhưng anh nhất định sống độc thân để tránh những ràng buộc gia đình, vì bổn phận của người chồng, người cha...

    “Nhưng mà Thượng đế đã tạo ra ta thì âm dương phải hòa hợp. Lý Tống không phải là Thánh. ĐM, Ai nói như vậy là đạo đức giả”.

    Trong những lá thư cuối cùng gởi bạn bè trước khi lên máy bay để thực hiện chuyến về lịch sử, Lý Tống cũng đã sống rất thật của mình:

    “Làm và hưởng, hai việc không thể tách nhau”

    Cái quan niệm rất người đó đã nói lên tinh thần dứt khoát của anh. Ngày mai lên đường để đi vào lòng địch với muôn ngàn nguy hiểm, nhưng hôm nay ta sống bình thản và vui đễ người khác cùng vui...mỹ nhân đã không làm cho ta chùng bước và cũng chẳng làm cho ta tiếc nhớ “một đêm”...

    Buổi sáng đầu Thu, trời New Orleans bỗng âm u và buồn lạ lùng. Có lẽ mùa Thu là mùa của chia ly, tan vỡ cũng đúng. Tống đi rồi, con đường mang tên West Bank Expressway quen thuộc với lối đi về biết bao nhiêu năm qua, không còn rộn tiếng cười của những người anh em, bạn bè đã từng “chén tạc chén thù” để đốt cháy những ngày tháng dư thừa trên phần đất tạm dung. Chúng tôi gặp lại Nhị, Đông, Đức, Cường, Tâm, Thanh… bên chén trà để ôn lại những ngày cuối cùng với Lý Tống. Cường kể:

    “Những ngày cuối với anh Lý Tống, trong căn nhà đầy kỷ niệm này. Đây là chỗ anh ấy nằm, chỗ anh ấy khề khà dăm ba ly rượu tiễn của bạn bè cùng chí hướng thân quen.”

    Cường kể lại bằng những cảm xúc của một đứa em bên cạnh Lý Tống vào những chiều sau giờ tan sở, những đêm dài tâm sự về kế hoạch của chuyến trở về.

    Lập Đông ngậm ngùi ôn lại kỷ niệm bên Tống và những chuyến lang thang đầy thích thú với một con người sống thật cho mình, lột tung cái nhân sinh quan của cuộc đời. Đôi khi, với cái quá “đàn ông tính” của anh đã làm cho một số người không ưa. Nhưng thiết nghĩ ở đời thiếu gì những người sống giả tạo với cái bề ngoài, sau lớp mặt nạ bôi son thoa phấn, nhưng thật sự bên trong là cả một đống sình. Lý Tống đã sống rất thật, sống cho mình và sống cho tha nhân, không câu nệ, không chấp nhất.

    Buổi tối ở nhà Nhị với những ly rượu buồn:

    “Ly này cho Tống, anh em tao ngồi đây để kế cho nhau nghe về con người có một không hai của bạn... Bây giờ bạn đang nằm trong một khám đường cùm xích nào đó ngay chính trên quê hương mình, nhưng mà có thấm gì với ý chí dũng cảm, với tinh thần vô úy mà anh đã đạt được. Uống đi bạn? Không phải là ly rượu tiễn mà là những ngậm ngùi, hãnh diện chia sẻ với anh từ trong đáy lòng của những chiến hữu dù đang cách xa một nửa trái đất, nhưng luôn luôn nằm sẵn trong ký ức của anh, của chúng tôi cho đến hơi thở sau cùng.”

    Ngày mai trời sẽ sáng, quê hương rồi một ngày không xa, ánh sáng tự do sẽ bùng dậy. Trên lối về rợp bóng cờ bay, chúng tôi sẽ hát lên khúc “Anh Đã Về” mà anh vẫn ưa nghe nhất:

    Anh đã về, vui mừng mẹ trông đợi
    Hoa tự do đã trẩy nhánh ruộng đồng
    Khắp thôn làng, rộn ràng luồng gió mới
    Quê hương ơi! Ngày nắng ấm đã hồi sinh

    Tôi muốn viết về anh thật nhiều, nhưng không thể viết được nữa, bởi anh có quá nhiều chuyện để viết, và ngòi bút của tôi không đủ khả năng để viết về con người phi thường của anh. Thật sự, tôi cũng không biết phải bắt đầu từ đoạn nào để kể lại cuộc đời và nếp sống hào hùng của anh…

    Anh đã sinh ra và lớn lên trên một quê hương chiến tranh ly loạn. Từ khi mở mắt chào đời, anh đã ngửi mùi thuốc súng, làm quen với đạn bay bom nổ cày nát xóm làng. Nhưng trong lòng anh, bao giờ cũng mơ được nhìn thấy một quê hương no ấm, thanh bình, không chiến tranh, không hận thù, cởi bỏ xiềng xích để xây dựng lại một Việt Nam thịnh vượng, tạo dựng một thế hệ con em cường tráng từ tinh thần đến thể xác để ngẩng mặt lên với cộng đồng thế giới.

    Anh cũng thường mơ thấy, ở đó là quê hương với hồn thiêng sông núi… mẹ già, em bé, một sáng ra đồng chăm sóc những bó lúa mạ xanh non đang vươn mình trong nắng tự do. Và bên kia dòng sông, một điệu hò Mái Đẩy vút cao trong gió thanh bình.

    Tôi cũng mơ thấy, một ngày không xa sẽ gặp lại anh trong tiếng cười rộn rã, nhắc lại những ngày lưu lạc trên xứ tạm dung ...và chắc chắn tôi sẽ cùng anh làm nốt bài thơ một thời dang dở...




    Đại tướng Westmoreland, Sử gia Tiến sĩ Stephen Ambrose, Lý Tống

  9. #9
    Thành viên chính thức jboss is on a distinguished road
    Tham gia ngày
    Mar 2010
    Bài viết
    182


    Did you find this post helpful? Yes | No
    Tôi không tán thành việc ông Tống xịt hơi cay vào Đàm Vình Hưng vì tôi cho rằng Hưng không phải là mục tiêu đúng và hơn nữa luật pháp Hoa Kỳ không cho phép.
    Theo tôi ông Tống không thành công trong lần này

    Tuy nhiên tôi vẫn luôn luôn khâm phục ông Lý Tống trong "Cuộc trường chinh tìm tự do"

    Câu kết luận của Barry Wain - The Wall Street Journal, đã nói nói lên điều này : “Ly Tong is in a class by himself“

    Cám ơn may4phuong đã gởi bài của Barry Wain

  10. #10
    Thành viên chính thức zman is on a distinguished road
    Tham gia ngày
    Mar 2010
    Bài viết
    59


    Did you find this post helpful? Yes | No
    Lý Tống
    ( viết bởi Anlocdia, nguồn )

    Lý Tống sinh ngày 1 tháng 9 năm 1945 tại Huế, gia nhập Binh chủng Không quân năm 1965, thuộc Khóa 65A, và du học Hoa Kỳ năm 1966. Vì trừng trị một niên trưởng hắc ám, Lý Tống bị kỷ luật, bị sa thải và trở về nước.

    Lý Tống được tuyển vào hãng Pacific Architech & Engineer và chỉ trong vòng 3 tháng thực tập ngành Thảo Chương Viên, Lý Tống tự động sửa một program chính của hãng, giảm thiểu nhân số phòng Phân Tích từ 5 nhân viên xuống còn một mình Lý Tống. Do công trạng thần kỳ đó, Lý Tống được Chủ Tịch Hội IBM Chapter Việt Nam đề nghị bầu vào chức Phó Chủ Tịch và cấp học bổng du học ngành Programmer.

    Nha Động Viên đã gọi Lý Tống nhập ngũ Khoá 4/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức trước khi Lý Tống hoàn thành thủ tục nên anh bỏ mất cơ hội du học Hoa Kỳ lần thứ nhì.
    Lý Tống là người duy nhất bị sa thải vì kỷ luật được trở lại Không Quân Khoá 33/69 và tốt nghiệp Hoa Tiêu ngành Quan Sát.

    Năm 1973, Lý Tống được huấn luyện lái phi cơ A.37, trở thành Phi Công Phản Lực Cường Kích. Vốn là người của xứ cố đô ngàn năm văn vật, Lý Tống là một tổng hợp của nhiều con người: Vừa giang hồ lãng tử, vừa nghệ sỹ, businessman, vừa là hoa tiêu gan lì gai góc. Đề cập đến các chiến tích lẫy lừng với Danh hiệu TOP GUN của Lý Tống, có câu nhận xét của Phi công cùng Phi Đoàn Ó Đen thường được nhắc nhở đến: “Nếu 4 Vùng Chiến thuật có 4 Lý Tống, VC sẽ không ngóc đầu lên nỗi!“ Sáu trong hàng trăm Phi Vụ “Tử Thần“ của Phi Đoàn 548 có sự tham dự của Lý Tống gồm:

    (1) Phước Long: Phi vụ đánh tan nhiều mũi tấn công cuả VC vào Tỉnh Phước Long, ngoài huy chương Anh Dũng Bội Tinh về chiến tích, Lý Tống còn được tưởng thưởng về giá trị Văn học của Bài Thơ Lý Tống diễn tả lại trận đánh nầy.
    (2) Tây Nguyên: Phi vụ tiêu diệt toàn bộ hàng trăm xe tiếp tế của VC tại Tây Nguyên.
    (3) Đèo Phượng Hoàng: Phi vụ ngăn chận đạo quân VC ồ ạt chuyển quân từ Ban Mê Thuột về hướng Đèo Phượng Hoàng. Do say mê bắn xe tăng VC, Lý Tống đã bay xuống thấp đến nỗi phi cơ bị trúng một số mãnh phi đạn do mình bắn ra cùng đất đá văng lên làm phi cơ bị phế thải vì kính phòng lái và bụng máy bay bị thủng 38 lỗ đạn!
    (4) Phi Vụ BOB: Bay theo sự hướng dẫn của Radar Đài Kiểm Báo. Trong Phi vụ này, Phi tuần Trưởng không đánh bom, nghĩ rằng Bộ Chỉ Huy chấm nhầm tọa độ vì chợt phát hiện vòng đai Phi trường Phù Cát qua lỗ hỗng mây! Lý Tống Phi tuần Phó, tự động bấm bom theo phản xạ khi nghe hiệu lệnh vô tuyến thay vì theo lệnh Phi tuần Trưởng nên toàn bộ Phi công của Phi đội bay theo sau đã thả bom theo Lý Tống. Kết quả toàn bộ Sư Đoàn 23 Sao Vàng của VC bị tiêu diệt và phải mất một tuần lễ mới chôn hết thi thể địch quân.
    (5) Cầu Dziên Bình: Một đầu cầu chiến lược huyết mạch tại ngã ba biên giới Việt- Miên- Lào, do 4 Trung đoàn Phòng không thiện chiến nhất của VC trấn giữ, được VC dùng để chuyển quân, vũ khí và tiếp liệu ồ ạt vào Tây nguyên. Về đêm, khi phòng không địch khai hỏa, Dziên Bình bỗng rực sáng như “Thành phố San Francisco vừa lên đèn!“ Nhóm phi công cảm tử gồm 4 người. Lý Tống là người tình nguyện duy nhất đầu tiên và động viên, kêu gọi vài phi công bạn cùng tham gia. Bốn phản lực cơ A 37 cất cánh từ Pleiku, bay đi Kontum để đánh lạc hướng địch, rồi từ Kontum, “bay trên ngọn cỏ, dưới ngọn cây“ men theo sườn đồi, hẻm núi, từ sát mặt đất phóng vụt lên, nhào xuống đánh sập cầu Dziên Bình bằng Chiến thuật Đột Kích. Theo sự đánh giá của Khối Tình Báo Chiến Lược, nếu không có phi vụ đánh sập cầu Dziên Bình của nhóm cảm tử Lý Tống, Miền Nam VN đã rơi vào tay CS năm 1974 thay vì năm 1975!
    (6) Phi Vụ Cuối Cùng: Vào phút hấp hối của Quê Mẹ, Lý Tống thi hành phi vụ đánh sập cầu Ba Ngòi gần Cam Ranh, ngăn chận làn sóng tiến công ồ ạt của Cộng quân vào Phan Rang. Thấy dân chúng đông như kiến, lũ lượt xô đẩy nhau qua cầu chạy giặc, Lý Tống quyết định bay xuống thấp sát mặt đất làm hiệu để dân chạy nạn tránh đi, nhưng dòng người cứ ào ạt tràn qua cầu. Do trái tim đầy lòng nhân ái luôn nghĩ đến sự an nguy và tính mạng dân lành vô tội, Lý Tống phải bay thấp đến vòng thứ ba, nên khi vừa lấy cao độ để thả bom, chiếc phản lực cơ A 37 của phi công Lý Tống bị hỏa tiển SA7 tầm nhiệt VC bắn trúng ở cao độ 100 mét, vở thành nhiều mãnh. Lý Tống đã tung cánh dù trong vòng lửa đạn và bị bắt sau hơn 1 giờ bôn tẩu vào ngày 5 tháng 4 năm 1975. Lý Tống cùng chung số phận với những người tù cải tạo Miền Nam.

    Lý Tống trong ngày ra tòa ở Bangkok “I will go back to serve my country"

    Về Danh Hiệu PAPILLON, Lý Tống đã sáu (6) lần vượt ngục, chỉ thua Papillon Pháp, người vượt ngục chín (9) lần. Sự khác biệt giữa Henri Charrièrre và Lý Tống gồm các điểm:
    * Henri chuyên vượt ngục bằng đường biển, Lý Tống “chuyên trị“ đường bộ.
    * Henri luôn luôn dùng tiền nhờ người khác giúp đỡ và hợp tác, Lý Tống chỉ trốn một mình và mọi kế họach từ A đến Z đều chính tự mình vạch ra và thực hiện.
    * Ngoài ra, Henri chỉ chú tâm vượt rào “ra“ vì sự sống còn của bản thân, Lý Tống còn 3 lần vượt rào “vào“ các Phi trường (2 lần Phi trường Tân Sơn Nhất và 1 lần Phi trường Ubon Rachathani tại Thái Lan, tức Tổng cộng 9 lần bằng Henri Charrière) để đánh cắp máy bay, thi hành các Điệp vụ vì sự sống còn của Dân tộc VN.

    Sáu lần vượt ngục xẩy ra lần lượt tại:
    (1) Nhà tù Lam Sơn (Tại đây Lý Tống thường được bạn đồng tù nhắc lại câu nói bất hủ: “Bắn đi! Lý Tống này chết đi còn có trăm ngàn Lý Tống khác!
    (2) Nhà tù A.30 (Tại đây, Đại Úy Ngọc, bạn tù, thường nhắc lại câu nói của các thanh niên Miền Thùy Dương Cát Trắng ái mộ: “Lý Tống là Thần tượng Tuổi trẻ Nha Trang“;
    (3) Phòng giam An ninh tại Nhà ga Nam Vang;
    (4) Nhà tù 7708 ở Nam Vang;
    (5) Trại Nong Samet tại biên giới Miên-Thái và
    (6) Nhà tù Xuân Phước tức A.20.

    Thành tích vượt ngục được Ông Julian, Trưởng Phòng Phản gián Singapore, đánh giá: “Lý Tống là bậc thầy của Papillon.“ Lần vượt ngục thứ nhì, sau gần 6 năm tù, Lý Tống đã thực hiện đúng câu đã từng tuyên bố: “Các ông có quyền bắt tôi, bỏ tù tôi, nhưng quyền ’tự thả, tự phóng thích’ khỏi nhà tù lúc nào là quyền của tôi!“

    Lý Tống trốn thoát Trại tù A.30 tỉnh Phú Khánh ngày 12/7/1980.
    Ra khỏi chốn tù đày, về đến Sài Gòn, Lý Tống đột nhập phi trường Tân Sơn Nhất 2 lần dự định cướp máy bay ném bom Bộ Chỉ Huy tại Trại A.30 để cứu bạn tù như đã hứa.

    Mưu sự không thành do toàn bộ phi cơ VNCH bị bộ đội CS “làm thịt’’ bán sắt vụn, tháng 9/1981 Lý Tống rời quê hương tìm tự do bằng đường bộ, xuyên qua 5 quốc gia, dài hơn 3 ngàn cây số, trong thời gian gần 2 năm, trốn thoát 3 nhà tù, cuối cùng bơi qua eo biển Johore Baru từ Mã Lai đến Singapore, và được chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận cho đi định cư tại Mỹ vào ngày 1/9/1983.

    Cuộc hành trình vượt biên tìm tự do của Lý Tống ly kỳ vô tiền khoáng hậu, độc nhất vô nhị của thế kỷ 20 được Tổng Thống Ronald Reagan vinh danh qua nhận định: “Your courage is an example and inspiration to all who would know the price of freedom“ (Sự can trường bất khuất của Lý Tống là một biểu tượng và nguồn cảm hứng cho những ai muốn biết cái giá của tự do);
    và được ca tụng bởi những Tờ báo, Tạp chí nổi tiếng nhất thế giới như: Barry Wain của The Wall Street Journal: “Ly Tong is in a class by himself,“ và Anthony Paul của Reader’s Digest: “His flight has become one of the great escape saga of our time.“

    Lý Tống đến Hoa Kỳ dừng chân đầu tiên tại Thành phố Boston, đúng ngày sinh nhật 1/9/1984. Lý Tống nộp đơn học trường Harvard nhưng bị từ chối vì không có “học bạ“ và không đủ khả năng tài chánh trả học phí tại trường học đắc đỏ nhất Mỹ quốc. Lý Tống đã tuyên bố: “Hôm nay tôi xin làm HọcTrò, Harvard từ chối. Sau này Harvard mời làm Thầy, tôi cũng sẽ từ chối!“

    Sau khi chu du qua các Tiểu Bang New York, Washington DC, California, Texas... Lý Tống định cư tại New Orleans, Louisiana, làm Quãn lý China Nite Club, lập Đảng “Trừ Gian Diệt Bạo“ đơn thương độc mã “bắn chết“ một tên cướp Mỹ đen ngày 9/7/1984 và sau đó đánh “tắt thở“ một tên anh chị VN.

    Sau 9 năm đèn sách, Lý Tống lần lượt đậu các bằng Cử Nhân Khoa Chính Trị và Cử Nhân phụ Khoa Pháp Văn (1988), Thạc sĩ (11/8/1990). Lý Tống được Sử gia Tiến sĩ Stephen E. Ambrose ví với một vị Tổng Thống vĩ đại của Hoa Kỳ: “Like Eisenhower, a fighter for freedom, a hero from another war.“
    Năm 1992 Lý Tống hoàn tất chương trình Tiến sĩ Chính Trị ngành Bang Giao Quốc Tế và chuẩn bị trình Luận án Tiến sĩ tại Đại Học New Orleans về đề tài “Học Thuyết Chất Xúc Tác: Cách Mạng Và Phản Cách Mạng’’ tức “Sức Mạnh Quần Chúng’’ (People’s Power).

    Nhân sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Lý Tống trở về VN áp dụng học thuyết do mình phát kiến, được nhiều quốc gia áp dụng thành công đã lật đổ 23 Chế Độ độc tài trên thế giới trong 2 thập kỷ qua, để thực hiện cuộc “Cách Mạng Đua Xe’’ bằng cách đột nhập phi trường Ubon Rachathani của Thái Lan đêm 1/9/1992, định đánh cắp phi cơ bay về Sài Gòn dội bom kho xăng Khánh Hội vào dịp Quốc Khánh VC ngày 2/9/1992 để gây bạo loạn và tạo nên Chất Xúc Tác, đốt lên ngọn lửa đấu tranh tại quê mẹ. Điệp vụ bất thành vì bình điện phi cơ yếu, mở máy không nổ, Anh chuyển sang phương án 2, khống chế chiếc Air Bus 321-200 cuả Hàng Không VC ngày 4/9/1992 từ Bangkok về Sài Gòn, thả 50 ngàn truyền đơn kêu gọi đồng bào Tổng Nổi Dậy lật đổ chế độ bạo quyền CS. Lý Tống định chun qua cửa sổ hẹp của phòng lái (cocpit) thì bị áp suất và gió mạnh hút ra khỏi phi cơ và nhờ dù không mở nên thoát hiểm khỏi hàng trăm họng súng Phòng Không VC đang ghìm chờ và 2 chiếc MIG bám sát trên không phận Sài Gòn và sau đó thoát chết nhờ rơi vào giữa ao rau muống. Sau 4 giờ trốn tránh truy nã, Lý Tống bị bắt, bị kết án 20 năm tù và bị đòi bồi thường ½ triệu Mỹ Kim vì làm hư 2 cánh cửa phi cơ khi mở nhảy dù, với câu tuyên bố bất hủ trước Tòa VC: “Tôi Quốc tịch Việt Nam Cộng Hòa“ và “Tôi trở về đây nhân danh Tổ quốc, Công lý để lật đổ Chế độ CS. Các ông cũng nhân danh Tổ quốc, Công lý để kết tội tôi. Tại phiên tòa này các ông là quan tòa, tôi là bị cáo. Nhưng ngoài phiên tòa này còn có Tòa án Lịch sử và toàn Dân VN sẽ là những vị quan tòa công minh nhất, họ sẽ định công, định tội tôi và các ông!“

    Lý Tống tuyệt thực 48 ngày tại Khám Chí Hòa, bị chuyển đến Nhà tù Xuân Lộc nhưng Trại không dám nhận sợ Lý Tống trốn trại Giám Đốc phải vào tù thế chỗ! Khi chuyển ra Nhà tù Xuân Phước, Lý Tống vượt ngục thất bại nên Đầu vụ 5 Nhóm đều bị chuyển ra Miền Bắc, Nhà tù Ba Sao, Nam Hà.

    Lý Tống đã Tuyệt Thực tổng cộng 6 lần trong 21 năm tù đày: (1) Aran Jail (Thái Lan ) 7 ngày ; (2) Khám Chí Hòa 48 ngày; Nhà tù Ba Sao, Nam Hà, 1 tháng; Nhà tù Rayong (Thái Lan) 2 lần: Lần đầu 6 tháng và lần nhì 33 ngày và Trại tù Klong Prem 52 ngày. Tại Nhà tù Ba Sao, Lý Tống tuyệt thực 1 tháng, trong đó có 3 tuần bị cúp nước uống, nhưng kết thúc thắng lợi và Bộ Nội vụ đã chấp thuận 4 Yêu Sách của Lý Tống:

    1. Tù Chính trị được ở riêng.
    2. Không lao động.
    3. Được sinh hoạt bình thường.
    4. Được đọc sách báo tự do (kể cả sách báo từ Mỹ gữi về).

    Lý Tống đã từ chối hớt tóc với câu tuyên bố trước mặt Giám Đốc Trại: “Ông có thể cắt đầu tôi nhưng không thể cắt tóc tôi.“
    Và khi viết “Thu Hoạch“ học tập Nội Quy, Lý Tống đã đọc bài nầy trước 4 bạn tù cùng Khóa và Quãn giáo câu kết luận: “Tôi trở về đây để thay đổi, sửa đổi Luật pháp chứ không phải để tuân thủ và chấp hành Nội quy, Luật pháp rừng rú nầy!“ “Tôi nguyện sẽ cải tạo đến chừng nào Chế độ CS tốt mới về! ”
    Ngày được Thái Lan trả tự do “Nói chung tôi cảm thấy cũng bình thường thôi, vì tôi đã ở tù (nhiều lần) 21 năm nay rồi

    Cuối cùng, nhờ sự tranh đấu kiên trì của Đồng bào Hải ngoại và dưới áp lực của các cường quốc tự do, bạo quyền CS đã phải trả tự do cho Lý Tống và một số tù nhân lương tâm khác sau 6 năm bị giam cầm.

    Ngày 1/9/1998, đúng ngày Sinh nhật, tai Phi trường San Francisco, trước hàng trăm Đồng bào chào đón “Người từ cõi chết trở về“, Lý Tống tuyên bố: “Chúng ta đã bóp cổ CS đủ mạnh để chúng phải nhả 3 người chúng tôi hôm nay. Chúng ta cần phải bóp cổ CS mạnh hơn nữa để chúng phải nhả hết những tù lương tâm còn lại. Và chúng ta cần phải tiếp tục bóp cổ đến khi nào bạo quyền CS hoàn toàn tắt thở!

    Lý Tống đã viết lên trang sử đẹp nhất của đời mình, là niềm kiêu hãnh chung của những người con dân Việt.

    Lý Tống đã xem thường vinh hoa phú quí khi thành tài trên đất người, đã hy sinh mạng sống của mình cho chính nghĩa dân tộc, nói lên khát vọng tự do của con người, thắp lên hàng triệu ánh đuốc sáng rực bầu trời VN. Hành động phi thường quả cảm của Lý Tống đã được đồng bào toàn quốc và thế giới kính phục. Nhà thơ Hà Huyền Chi đã viết:

    "Một dũng cảm trên chót thang dũng cảm
    Một hy sinh trên cao độ hy sinh.
    Lý Tống đi, thế giới nghiêng mình
    Chào chính nghĩa, chào Anh hùng dân tộc.
    "

    Ngày 1/1/2000, chỉ hơn 1 năm sau ngày trở về từ ngục tù CS, Lý Tống đã thực hiện một phi vụ đầy mạo hiểm khác. Nhân ngày Quốc Khánh thứ 41 của CS Cuba, và là ngày đầu tiên của thiên niên kỷ mới với hiện tượng Y2K có thể đình động mọi máy tính và Radar toàn cầu theo giới chuyên môn, Lý Tống đã bay đến Havana, Cuba, rải 50 ngàn tờ truyền đơn kêu gọi toàn dân đứng lên lật đổ “Con Khủng Long Già Nua Fidel Castro,’’ làm kinh động cả thế giới, tạo thành huyền thoại một “Lưỡng Quốc Anh Hùng.’’ Hành động xả thân vì đại nghĩa của Lý Tống đã được người Cuba lưu vong, đặc biệt ½ triệu người trong cuộc Diễn Hành Ba Vua, nồng nhiệt vinh danh Anh Hùng và tri ân, do góp công lớn vào sự nghiệp chống Cộng toàn cầu.

    Lý Tống dự tính đánh sập Lăng HCM, một biểu tượng và long mạch của Chế độ CSVN, nên nhờ người liên lạc với Tướng Vàng Pao và Kháng Chiến Quân H’Mong để từ Lào bay về Hà Nội dội bom. Điệp vụ bất thành do Tướng Vàng Pao có tang, cắt mọi liên lạc.

    Nhân chuyến công du VN của Tổng Thống Bill Clinton, Lý Tống chuyển sang phương án thứ nhì, qua Cam Bốt chuẩn bị phi vụ kế tiếp. Do sự phản bội của người dẫn đường, phi vụ ngày 14/11 bị hủy bỏ, Lý Tống trở về Thái Lan, thuê 1 chiếc máy bay dân sự, dùng 15 ngàn MK tiền mặt và 5 ngàn MK hiện vật thuyết phục HLV người Thái hợp tác, bay đến Sài Gòn lần thứ nhì ngày 17/11/2000 để rải 50 ngàn tờ truyền đơn kêu gọi dân chúng đứng lên lật đổ ách độc tài áp bức của CSVN. Lý Tống bay trở lại Thái Lan, đáp tại Phi Trường Utapao, và bị bắt giữ vì âm mưu cấu kết giữa Chính Phủ Thatsin Thái Lan và VC.

    Trước Tòa án Rayong, Lý Tống đã từng tuyên bố: “Tội Khinh mạn Tòa án không nặng bằng tội khinh mạn Công lý, nhất là kẻ coi thường Công lý, Luật pháp lại là Thẩm phán và Công tố viên!“ “Ngày nào tôi chưa đưa được các ông (Thẩm phán, Công tố Thái) vào tù, ngày đó tôi sẽ chết không nhắm mắt!“ “Quốc gia nầy cần một cơn ’Đại Hồng Thủy’ để tiêu diệt hết giống nòi thối nát, sa đọa. Và Bà Suthathif cần được đưa lên thuyền Noah để sinh ra một dân tộc mới xứng đáng với danh hiệu Vương quốc Thái Lan!“

    Trong gần 7 năm bị giam cầm, Lý Tống luôn động não tìm biện pháp Giải thể Chế độ CSVN và chống lại bản án Không Tặc sai trái bịa đặt của Tòa án Thái Lan, cùng áp lực của Bạo quyền CS đòi Dẫn Độ Anh về VN xét xử và trừng trị. Với nỗ lực đấu tranh không mệt mỏi của Đồng bào Hải ngoại khắp thế giới, cùng cuộc Đảo Chánh lật đổ Chế Độ độc tài, tham nhũng của Thủ Tướng Thaksin của Nhóm quân nhân Thái, và những Biện Minh Trạng mới hùng hồn dựa trên các bộ Luật Không Tặc, Dẫn Độ, Không Hành, Chicago Convention 1940 và Công pháp Quốc tế mới nhận đựơc, với những bằng chứng và luận điểm chính xác, chặt chẽ, sắc bén đầy tính thuyết phục của Lý Tống, cuối cùng “Chính nghĩa thắng hung tàn,” ngày 3/4/2007 Toà Chung Thẩm Thái Lan đã ra Phán Quyết công nhận Phi vụ Lý Tống là một hành động Chính Trị, và trả tự do cho Lý Tống, đánh dấu bước thắng lợi lớn nỗ lực đấu tranh của Đồng Bào Hải ngoại và sự thất bại nhục nhã của CSVN.

    Trong 10 tháng qua, kể từ ngày trở lại Hoa Kỳ, Lý Tống đã đi thăm đồng bào Việt Nam tỵ nạn khắp nơi trên toàn thế giới, từ Hoa Kỳ đến Canada, Úc Châu và Âu Châu với thông điệp kêu gọi đồng bào hải ngoại đoàn kết qua khẩu hiệu: “đoàn kết trong chia rẻ,’’ trình bày kế hoạch Giải Thể Chế Độ Cộng Sản Việt Nam bằng cuộc: “Cách Mạng Đua Xe,’’ và cảm ơn sự yểm trợ, tranh đấu của đồng bào trong thời gian 7 năm tù đày tại Thái Lan.

    Ngoài ra Lý Tống đã tích cực tham dự các cuộc tranh đấu chống Trung Cộng chiếm Trường Sa-Hoàng Sa, yểm trợ đồng bào tỵ nạn tại Phi Luật Tân, Thương Phế Binh tại Việt Nam, dựng Builboard Linh Mục Nguyễn Văn Lý tại Bắc Cali, yểm trợ các nhà đấu tranh quốc nội, dân oan, và các hoạt động chống Cộng khác tại hải ngoại với tổng số tiền 54.000 Mỹ Kim, đặc biệt bắt đầu tuyệt thực từ 12 giờ trưa ngày 15/2/2008 chống lại Nghị Quyết phản dân chủ của Nghị viên Madison Nguyễn đã vận động bằng những thủ thuật xảo quyệt, gian trá để đòi lại tên Little Saigon, trả lại danh dự cho Cộng Đồng và trừng phạt kẻ phản bội bằng hình thức truất nhiệm. Cuộc tuyệt thực tự phát đã được đồng bào ở Bắc Cali yểm trợ tích cực bằng sư hiện diện của trên 700 đồng hương đến và ký tên, đồng thời yểm trợ tài chánh hơn 12 ngàn Mỹ Kim tính đến trưa ngày 16/2/08 tức sau đúng 1 ngày tuyệt thực! Song hành với cuộc tuyệt thực, biểu tình mỗi Thứ Ba Đen, dùng Luật Sư để sau khiếu kiện, tranh tụng, cuộc tập hợp lực lượng vào ngày 4/3/2008 phải lên đến hàng ngàn, hàng chục ngàn người mới có thể đạt thắng lợi 100%, tiêu diệt âm mưu từng bước “đỏ hoa" Bắc Cali của các thế lực thân Cộng, phản bội lý tưởng Quốc Gia hiện nay.

    Ngoài các câu đã trích dẫn, Lý Tống
    "Ta cúi đầu, cộng cỡi cổ.
    Ta đứng dậy, cộng sụp đổ!
    Mưu sự tại Lý Tống,
    Thành sự tại Đồng Bào!
    "
    Thà bị nhầm lẫn hơn là vô trách nhiệm!

    Và các câu thiên hạ nhận xét về Lý Tống:

    "Anh là người đàn ông hướng dẫn được định mạng đời mình" (Hạnh Sài Gòn).

    "He made himself a torch for the whole world to exterminate the Communist" (The Orange County Register).

    "Ly Tong is a great American" (Congressman Dana Rohrabacher) .

    "Washington State Senate recognizes the valiant efforts deserve the respect, admiration, and acknowledgment of all".

    Các Danh hiệu của Lý Tống do báo chí ngoại quốc gọi và đặt ngoài Black EagleKinh Kha thời đại gồm: James Bond 007, Papillon, Top Gun, Leaflet Cowboy, Robin Hood, Don Quixote, Folk Hero, True Patriot, Mr. Impossible, The Last Action Hero, Resistance Icon, Freedom Fighter, Mr. Franklin


    Bài viết đầy đù nhất về Lý Tống bằng tiếng Anh (ở đây-Thefullkiwi-Lytong)
    Chỉnh sửa lần cuối bởi zman vào 26-07-2010 lúc 08:45 PM

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Quyền Hạn Của Bạn

  • Bạn không thể mở thread mới
  • Bạn không thểstrong> trã lời
  • Bạn không thể gắn đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của bạn