|
#1
|
|||
|
|||
|
Giấc mơ Huê Kỳ
Thân chào các thành viên.
Tui có hay nghe về American Dream, vậy là lùng sục Internet, cũng hiểu đôi chút. Nếu có bác nào đang ở Huê Kỳ, có thể mô tả kinh nghiệm của các bác về vấn đề này được không? Xin cảm ơn. |
|
#2
|
||||
|
||||
|
Ở trang web này của vietbao có khá nhiều bài viết về cuộc sống ở Mỹ của người việt trong đó có khá nhiều đề cập tới American Dream. Mời bạn từ từ "ngâm" cứu
http://www.vietbao.com/thiviet2/thiv...d=list&numb=20 |
|
#3
|
||||
|
||||
|
bác tinman có thể vui lòng check lại link được không, sao em không vào được nhỉ ?
__________________
Enthusiasm is one of the most powerful engines of success. When you do a thing, do it with all your might. Put your whole soul into it. Stamp it with your own personality. Be active, be energetic, be enthusiastic and faithful and you will accomplish your object. Nothing great was ever achieved without enthusiasm. |
|
#4
|
||||
|
||||
|
Trích:
|
|
#5
|
|||
|
|||
|
Trích:
Sự thật thì ở đâu cũng phải lao động thôi, nhưng đặc biệt ở bên Mỹ bạn có khả năng được hưởng thành quả lao động của bạn một cách xứng đáng và thực hiện được các ước mơ thực tiễn nếu có đủ khả năng và ý chí. Yếu tố may mắn cũng tốt nhưng không phải là một điều kiện ắt có. Thông thường thì người ta định nghĩa "giấc mơ Hoa Kỳ" đã đạt khi nào bạn mua được một cái nhà, có đủ xe hơi cho sinh hoạt (vợ, chồng, con cái trên 18 tuổi), có được một nghề nghiệp vững chắc với một nguồn thu nhập đủ để bạn: -Mỗi tuần cho vợ con đi ăn tiệm, ciné và mua sắm một lần. -Mỗi 3 tháng cả nhà đi chơi xa một lần trong phạm vi tiểu bang hoặc không xa lắm (Las Vegas chẳng hạn). -Mỗi năm đi du lịch các nước trong đôi ba tuần (trong đó có Việt Nam). -Trả tất cả các bills -Để dành một ít (10%) vào quỹ hưu trí. Xét theo các tiêu chuẩn kể trên thì tôi có thể nói là trên 50% người Việt hải ngoại đã đạt "giấc mơ Hoa Kỳ" rồi. Bản thân tôi mất 5 năm để thực hiện điều này. Tôi quen những người chỉ mất 3 năm là xong. Cộng đồng Việt Nam có cái rất hay là nghề "nail". Chỉ cần học 3 tháng là đủ hành nghề với mức thu nhập tối thiểu $500/tuần. |
|
#6
|
|||
|
|||
|
Trích:
Hay là Pháp, Úc, Nhật ... có những rào cản khiến người nước ngoài dù có khả năng và ý chí vẫn không thể vươn lên được? Các bác có thể khai sáng thêm không? |
|
#7
|
||||
|
||||
|
Nghe tên bác này làm em phát khiếp, cứ tưởng có CA mạng thật vào đây tuyên bố "Từ hôm nay nhà nước đặt tường lửa X-cà phê".
Cái Link http://www.vietbao.com/thiviet2/thiv...d=list&numb=20 này hỏng thật chứ không phải bị FW đâu, các bác xem lại.
__________________
USA-Vietnam-China = Man-bitch-Man threesome sex. |
|
#8
|
|||
|
|||
|
#9
|
||||
|
||||
|
Không được đâu bác ạ. Bác nào vào xem được thì pót thẳng lên đây chứ đừng gửi link nữa.
|
|
#11
|
||||
|
||||
|
Bác nào tốt bụng thì post vài bài hay hay cho anh em trong nước mở mang tầm mắt với
|
|
#13
|
|||
|
|||
|
Cho bác Ngọc Quang
Trích:
__________________
Tôi không tán thành điều anh nói, nhưng tôi quyết bảo vệ đến chết quyền được nói ra điều đó của anh Voltaire
Chỉnh sửa lần cuối bởi dauvit vào 03-08-2006 lúc 02:07 PM |
|
#14
|
||||
|
||||
|
Trích:
THỜI SINH VIÊN ĐỘC THÂN Người viết: NGUYỄN DUY AN Bài số 768-1347-193-vb3061405 Tác giả Nguyễn Duy-An là cư dân Virginia, hiện là Vice President Information Technology của NATIONAL GEOGRAPHIC. Lần đầu tham dự Viết Về Nước Mỹ, ông gửi một tự truyện và một truyện tình, đều bắt đầu từ Bình Giả, một địa danh quen thuộc của Việt Nam thời chiến. Chưa đầy 3 tuần sau khi bài lên Việt Báo online, đã có hơn 3,600 người đọc “truyện tình cờ”, hơn 3,000 người đọc tự truyện của chàng trai Bình Giả. Cả hai bài hiện dẫn đầu trong số 10 bài có nhiều người đọc nhất. Sau đây là phần tiếp tự truyện. Tôi rời nông trại của người bảo trợ mấy ngày trước lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) của Mỹ vì không muốn một mình ngồi nhìn cảnh gia đình 9 người con và gần 20 đứa cháu nội ngoại của họ sum họp quây quần vào dịp lễ. Tới Virginia, nhờ sự giúp đỡ và giới thiệu của cha Trần Đình Nhi, chánh xứ giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, tôi dọn đến ở chung với 3 người bạn khác trong một chung cư 2 phòng ngủ, và xin tiền trợ cấp học bổng, nộp đơn xin vào Đại Học Cộng Đồng (Community College). Nhiều người khuyên tôi nên chờ một năm, sau khi đã trở thành thường trú nhân của Tiểu Bang để khỏi phải chịu tiền học phí cao, nhưng tôi đã quyết định xin vào học ngay từ mùa xuân 1985 vì thấy mình đã muốn già rồi! Nhờ những người bạn cùng chung cư, tôi tới trường làm quen với những sinh viên Việt Nam để học hỏi kinh nghiệm trong mấy tháng còn lại trước khi chính thức nhập học. Lúc bấy giờ, đại đa số người Việt Nam theo học ngành kỹ sư điện (Electrical Engineer) hoặc Vi Tính (Computer Science). Những ngày ở với cha Trần Đình Trọng ở Vinh Trung - Bình Giả, tôi đã bị điện giật mấy lần vì giúp sửa máy điện của nhà thờ nên rất sợ điện. Do đó tôi quyết định chọn ngành Vi Tính. Lúc nhìn vào những môn học cần thiết cho ngành Vi Tính, tôi mới thật sự hoảng sợ vì môn toán. Thực tình mà nói, hồi nhỏ tôi rất giỏi toán, nhưng lúc ở trong chủng viện, từ lớp 10 trở lên, tôi phải theo chương trình ban C (Văn Chương và Sinh Ngữ), về sau đi học triết nên trình độ toán của tôi lúc bấy giờ chỉ ngang ngửa với một em học hết lớp 9 trung học. Tôi ra thư viện mượn một số sách toán về học ngày học đêm để chuẩn bị cho tương lai... Trong lúc chờ đợi nhập học, tôi phải đi kiếm một việc làm ban đêm để sống qua ngày chứ chẳng lẽ chiều chiều lên nhà thờ, giả vờ phụ giúp việc gì đó để ăn cơm "chùa" mãi cũng kỳ cục. Hai ngày cuối tuần không nói làm gì, chứ chiều nào cũng thế chắc quê xệ lắm, mặc dầu bạn bè vẫn cho tôi là người "đẹp trai không bằng chai mặt". Cũng tại nhà thờ Việt Nam, tôi quen được một người chuyên thầu "cleaning" (quét dọn các văn phòng công sở sau giờ làm việc). Thấy tôi nói được tiếng Anh khá, bác này cho tôi trông coi một building, mỗi tối làm 4 tiếng từ 6 giờ tới 10 giờ đêm, đi về có người chở, mỗi giờ 4 dollars, không phải làm, chỉ sắp xếp công việc cho những người khác làm (đa số là người Việt Nam) và làm bù lúc có người nghỉ, thêm phần liên lạc với chủ nhân của building và ông chủ thầu người Việt Nam. Sau vài tuần, tôi thấy công việc cũng không đến nỗi nào, nên xin nhận làm một phần như những người khác (3.50 dollars một giờ), và phải làm thật nhanh để xong việc trong vòng 3 tiếng thay vì 4 tiếng như những người khác, vì nửa giờ đầu và nửa giờ cuối phải đi một vòng phân chia công việc và ghi sổ sách giấy tờ. Từ đó, đêm từng đêm tôi đi quét nhà, hút bụi, lau cầu tiêu để sống qua ngày. Về sau, với tiền học bổng và làm việc trong trường, tôi cũng tạm đủ sống, nhưng vẫn tiếp tục giữ cái "job" lau cầu tiêu này để kiếm thêm tiền mua quà gởi về giúp gia đình bên Việt Nam. Việc mua hàng, đóng thùng và đi gởi quà về Việt Nam thời bấy giờ cũng là một huyền thoại! Cha mẹ tôi và các em, các cháu bên nhà đâu có hiểu được những chai dầu xanh, những xấp vải, radio-cassette... tôi gởi về từ đâu mà có. Nhưng tôi rất vui mừng và hãnh diện vì trong gian nan khốn khó của những ngày đầu sống kiếp tỵ nạn, tôi đã giúp đỡ gia đình được phần nào qua cơn túng quẫn, đều đặn 3 tháng một thùng quà cho tới ngày có chương trình chuyển tiền. Tới ngày ghi danh các lớp vào mùa xuân 1985, người ta chỉ cho phép tôi lấy 12 credits (tín chỉ). Tôi cự nự và khiếu nại với counselor ở trường, cũng chẳng tới đâu. Người ta gởi tôi lên gặp ông Dean (Khoa Trưởng) về Vi Tính (thời đó gọi là Data Processing). Ông ta hỏi tôi tại sao muốn ghi nhiều lớp cho mùa đầu tiên, tôi trả lời thẳng thắn: Tôi già rồi, qua trễ, tôi muốn chạy nước rút càng nhanh càng tốt. Và cuối cùng ông ta đồng ý cho tôi ghi thử 18 credits, nếu qua tháng đầu cảm thấy không học được phải "drop" xuống 12. Tôi hý hửng với tờ giấy ghi danh có chữ ký của Khoa Trưởng để bắt đầu cuộc đời sinh viên tại Mỹ. Những người bạn Việt Nam trong trường cho rằng tôi "hơi mát", nhưng tôi cứ bỏ ngoài tai. Từ đó, mỗi ngày tôi lên trường từ 7 giờ sáng, chờ tới 5 giờ 30 chiều có người chở đi làm. Tiền mua sách vở cũng là một gánh nặng ở đại học. Tôi theo bạn bè tìm mua sách cũ nhưng cũng không đủ, nên tôi nghĩ ra một cách là mượn sách của các bạn cùng lớp, mỗi người một hôm lúc người ta không có lớp, ngồi trong thư viện chép lại bằng tay vì nghĩ rằng viết ra được cũng giúp mình học nhanh hơn. Cái tai hại đầu tiên tôi gặp phải là ông thầy không dạy theo thứ tự trong sách, nhưng nhảy qua nhảy lại. Nguyên cái việc tìm ra chỗ trong tập của mình đã khó rồi, nhưng có chỗ mình chưa viết tới nên còn khốn khổ hơn nữa. Nhưng rồi khốn khó cũng qua đi. Sau kỳ thi giữa khóa (mid-term), tôi lấy được toàn bộ điểm A, kể cả môn Anh-Văn (English Composition I), nên anh chị em sinh viên Việt Nam trong trường bắt đầu nể phục tôi. Việc tôi thi tuyển được vào ngay English Composition I chứ không phải học một lớp ESL (English As Second Language) nào cả cũng đặc biệt rồi, bây giờ thấy tôi lấy A, bạn bè Việt Nam cứ theo hỏi cách học. Tôi thẳng thắn trả lời: Tất cả đều nhờ công lao các cha các thầy trong tiểu chủng viện Xuân Lộc, chứ khả năng tôi cũng như các bạn thôi. Còn cách để học thêm từ ngữ mới (vacabulary) thì tôi nói thật với mọi người là mỗi ngày tôi xé một tờ trong cuốn tự điển Anh Việt của Trần Văn Điền bỏ túi, thỉnh thoảng mở ra học, kể cả lúc ngồi trong nhà vệ sinh. Lúc bấy giờ, mặc dầu là trường 2 năm, nhưng có người đang học năm thứ 3 hoặc thứ 4 vì phải bỏ cả năm hoặc hơn nữa để học tiếng Anh (ESL). Cũng có người học gần xong nhưng chưa xin chuyển trường được vì chưa lấy English Composition I & II. Từ đầu tháng 3 năm 1985, tôi có việc làm trong trường với số lương tối thiểu, nhưng vì là sinh viên mới, lại không bắt đầu từ mùa thu, nên người ta không biết cho tôi làm việc gì... Cuối cùng, thấy tôi cứ ngồi ở thư viện suốt ngày, nên văn phòng counselor (kế bên thư viện) nhận cho tôi làm cái chân "lấy hẹn" cho sinh viên gặp counselor, làm 20 tiếng một tuần với mức lương tối thiểu. Nhờ làm việc ở văn phòng couselor nên tôi quen biết hầu hết sinh viên, nhất là các anh chị em người Việt mình. Sau khi biết tôi được điểm A về Anh Văn trong kỳ thi giữa khóa (mid-term), một anh Việt Nam ngỏ ý mời tôi đi ăn trưa ở một nhà hàng Việt Nam, tôi ngại ngùng từ chối, nhưng anh ta cứ theo nói mãi nên tôi xiêu lòng. Ăn xong anh ta mới cho biết là đã qua Mỹ từ năm 1979, học ở trường hơn 3 năm, đang học lớp English Composition II để cho đủ tiêu chuẩn đổi lên University. Lớp Anh Văn I anh ta cố gắng lắm mới lấy được điểm C, nên muốn nhờ tôi giúp. Tôi ngại quá, nhưng "ăn của chùa thì ngọng miệng" nên đành nhận lời. Lúc bấy giờ, trong các lớp Anh Văn, các bài viết hoặc thầy cho đề tài về nhà viết, hoặc nói trước một vài đề tài cho sinh viên chuẩn bị, rồi vào lớp viết trong vòng 45 phút. Anh ta muốn tôi giúp viết sẵn một số bài tủ, anh ta sẽ trả tiền, nhưng tôi không dám. Tôi chỉ hứa trong tuần kế đó, sẽ giúp anh viết bài luận ở nhà (homework). Khi được báo đã có đề bài, tôi hẹn anh ta xuống cafeteria của trường, mua sẵn một gói thuốc và một ly ca phê. Thời đó chúng tôi muốn hút thuốc chỗ nào cũng được chứ không khó khăn như bây giờ, vả lại vào đầu tháng tư tại Virginia trời còn lạnh lắm, nên làm liều ngồi viết bài cho người bạn ngay trong cafeteria. Khi nhận lại bài luận với điểm B, anh bạn này bắt tôi phải nhận 20 dollars và còn khoe với người khác, nên thỉnh thoảng tôi trở thành người viết bài tiếng Anh bất đắc dĩ cho bạn bè Việt Nam trong trường với giá cả $20 một bài cộng thêm gói thuốc và ly cà-phê! Vấn đề ăn uống trong thời gian này cũng nhiêu khê lắm. Mua thức ăn trong trường thì tốn kém, về nhà thì xe cộ chưa có, nhờ cậy phiền hà, đi xe bus vừa vất vả vừa mất thì giờ. Để giải quyết vấn đề này, tôi cứ mang theo 3, 4 gói mì trong cặp, xin nước sôi ở cafeteria là xong bữa. Về sau có người ở nhà thờ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam biết tôi ăn mì gói quanh năm để đi học, đã cho tôi về ở trọ, có gì ăn nấy với gia đình người ta chứ không phải trả tiền ăn, tôi mừng lắm, và lúc nào cũng nhớ ơn, đi lại thăm nom như chú ruột vậy. Đó là chuyện về sau. Còn bây giờ, tôi cứ phải vật lộn với mì gói để sống qua ngày. Vì sợ phải ghi ít lớp, học lâu xong, vả lại tôi cứ ngồi trong thư viện suốt ngày nên cũng chẳng biết làm gì hơn là học. Tôi làm hết homework (thường là những bài số chẵn, hoặc những bài số lẻ), còn thì giờ, tôi làm hết cả những bài không phải làm. Tôi dùng một cuốn tập làm những bài phải nộp cho thầy, một cuốn khác ghi lại tất cả những bài khác. Những bài tập viết software cũng thế, tôi tìm ra ít là 2 cách làm khác nhau. Việc làm này lúc đầu chỉ giúp tôi học khá hơn thôi, nhưng về sau trở thành một dịch vụ! Số là cuối mùa học, tôi muốn tiết kiệm tiền nên cũng rao bảng bán lại sách cũ như nhiều sinh viên khác vẫn làm. Tôi còn nhớ mãi chuyện tình cờ xảy ra lúc tôi muốn bán lại cuốn Calculus I. Cuốn sách toán nặng cả ký này tôi đã phải trả 65 dollars, nếu tính theo lương tôi làm việc tại trường lúc đó, mất hẳn một tuần lương! Tôi định bán khoảng $50, kể cũng hơi cao so với những cuốn sách cũ khác, nhưng vì tôi giữ sách rất cẩn thận nên hy vọng bán được. Một cô bé người Mỹ tới xem rồi chê mắc, bỏ đi. Tình cờ lúc đó tôi làm rớt cuốn tập giải các bài homework xuống sàn nhà, cô ta cúi xuống nhặt dùm. Tôi chưa kịp nói "thank you", cô ta đã nắm tay tôi kéo ra khỏi thư viện nói chuyện. Cô ta đồng ý sẽ mua cuốn sách toán của tôi và tập bài giải với giá $100, và sẽ mua hết những sách khác của tôi, hoặc giới thiệu người mua dùm để tôi không gắn giấy rao bán trên "bulletin" nhà trường nữa, sợ người khác mua mất. Chúng tôi trở thành bạn từ đó. Bạn thôi chứ không phải là bạn gái đâu nhé! Vì muốn học nhanh nên tôi ghi tên học cả mùa hè 1985, nhưng chỉ ghi được 12 credits vì mùa hè không có nhiều lớp để chọn. Chuyện xảy ra vào mùa thu 1985 mới thực sự làm tôi nổi tiếng trong trường. Sau 2 mùa với 30 credits điểm A, tôi rất tự tin nên tôi ghi 27 credits trong tờ ghi danh mùa thu. Lúc nhận được, nhân viên văn phòng trợn tròng cặp mắt xanh lè, nói lớn như hét vào tai tôi, "Are you crazy?" làm cả phòng nhốn nháo cả lên. Sau khi nghe trình bày sự việc, bà xếp phòng "registration" chẳng nói chẳng rằng, bốc điện thoại nói chyện gì đó, rồi đưa tôi mảnh giấy lên gặp ông Khoa Trưởng lần nữa. Ông ta khuyên tôi nên giảm bớt chứ không nói gì nặng lời vì thấy tôi lấy toàn điểm A. Tôi giải thích cho ông ta là tôi muốn chuyển trường vào mùa tới nên muốn học cho xong. Thấy nói mãi không thuyết phục được tôi, ông ta đành ký giấy chấp thuận. Mới học được 2 tuần, tôi phải giảm bớt việc "lau chùi quét dọn", chỉ trông coi nhóm nhân viên làm ban đêm để lợi dụng thời giờ làm cho xong bài vở. Tôi cũng làm đơn mượn nợ của chính phủ để đi học đại học, mặc dầu tôi thực sự chưa cần lắm. Tôi cứ mượn vì số nợ đó không phải trả trong lúc còn đi học. Tiền "student loans" tôi cứ để trong quỹ tiết kiệm, không dám đụng đến, để dành phòng khi "trái gió trở trời". Cha Nhi cũng gọi điện thoại hỏi tôi sao kỳ này ít lên nhà thờ chơi, chỉ đi tập hát, lễ lạy xong trốn mất tiêu. Tôi đành nói sự thật, ngài hoảng quá, bảo tôi học vừa thôi, coi chừng loạn óc. Thực ra ngài gọi tôi vì thấy 2 tuần liền tôi không ghé chơi chứ cũng chẳng trách cứ gì, và hơn nữa có người cho chiếc xe cũ (10 năm hơn) nên hỏi tôi có lấy không. Đương nhiên là tôi nhận. Chiếc xe cọc cạch đáng giá khoảng 300 dollars này đã làm phương tiện cho tôi vượt qua những năm sống đời sinh viên tại Mỹ. Một lần nữa em xin cám ơn anh Hùng (Virginia) đã giúp em, mặc dầu anh vẫn nói "cậu không lấy tớ cũng vất đi", nhưng làm sao em quên được ân tình anh đã dành cho em lúc đó. Anh bán đi cũng được, nhưng anh đã cho em vì "để hắn có cái mà đi nhà thờ nhà thánh". Nhắc đến việc "nhà thờ nhà thánh" tôi phải nhớ lại chuyện "cười ra nước mắt" của chính mình tại nhà thờ vào đêm lễ Phục Sinh 1985. Kể từ ngày dọn xuống Virginia, tôi vẫn giúp tập hát cho ca đoàn, nhưng rồi anh ca trưởng càng ngày càng bận rộn với công ăn việc làm và gia đình, nên tôi trở thành người tập hát thường xuyên. Trong những ngày đầu ở Mỹ, quần áo tôi mang theo từ trại tỵ nạn vẫn còn dùng được, nhưng không hiểu sao càng ngày tôi càng phì ra, mặc dầu chủ yếu chỉ có mì gói làm "lương thực hằng ngày". Thời đó tôi đâu dám ra tiệm mua quần áo mới, chỉ quanh quẩn đi xin quần áo "cứu trợ", đặc biệt là ở các nhà thờ Tin Lành. Kể cũng khổ, cái vừa bề ngang lại không vừa bề dọc, nên nhìn luộm thuộm lắm. Mùa đông tương đối là "looking good" vì trời lạnh nên ai cũng phải mặc áo len, áo khoác dày bên ngoài, trông ai cũng như ai. Mùa xuân và mùa hè mới thật là phiền. Lúc bấy giờ tôi cũng có một bộ đồ "vest" tươm tất lắm — quà của một anh bạn trong ca đoàn. Tuy nhiên, áo sơ mi của tôi chỉ toàn là loại "My Bo" (Mỹ bỏ), hoặc mua $1 một túi lớn từ các tiệm "Good Will" nên cái dài, cái ngắn, cái lê thê... Lễ Phục Sinh 1985, tôi vừa đánh nhịp, vừa phải hát Kinh Cầu Các Thánh lúc rửa tội tân tòng, nhà thờ chật cứng những người và người nên nóng lắm, mặc dầu là ban đêm và trời mới vào xuân. Tới lúc chuẩn bị hát Ca Hiệp Lễ, vì nóng quá, tôi cởi cái áo vest ra cho đỡ nóng, lên bục đứng đánh nhịp. Ca viên lẫn giáo dân ngồi phía sau cứ nhìn tới nhìn lui cười (cả mếu nữa!) chứ không chịu hát. Tôi bực mình lắm, nhưng vừa mới rước lễ xuống, chẳng lẽ lại quát tháo trong nhà thờ (thời đó nhà thờ Việt Nam còn nhỏ lắm và cũng không có gác đàn). May quá, một bác lớn tuổi bước vội lên bảo tôi khoác áo vest vào rồi hãy đánh nhịp, chứ "áo quần cháu như thằng hề thế kia"! Tôi nhìn lại mình thì than ôi thật xấu hổ. Số là cái áo sơ mi của tôi quá rộng và ống tay dài quá, tôi dùng giây thung cột hai bên khửu tay để giữ ống tay áo khỏi lòi ra ngoài nhiều quá lúc mặc áo vest, nhưng bây giờ đã cởi áo vest ra rồi, hai tay lại khuơ khươ chuẩn bị đánh nhịp nên trông cứ như cái hình nộm người ta treo ngoài đồng để dọa chim cò khỏi xuống ăn hoa màu! Sau thánh lễ, một cô bé trong ca đoàn đến "hạ lệnh" cho tôi: "Anh đưa hết quần áo tới nhà em sửa lại cho. Chắc tụi em phải kiếm tiền mua quần áo cho anh chứ ai lại để ca trưởng ăn mặc thế kia, làm xấu mặt cả ca đoàn". Tôi còn biết nói năng chi, ngoài câu "chiếc áo không làm nên ông thầy tu". Bạn bè lúc bấy giờ cứ nghĩ là tôi sẽ bồ cô bé ấy, nhưng không hiểu sao tôi chẳng bao giờ có một chút giao động trong tim về nàng, chỉ xem nàng như một "người em bé nhỏ", và nàng cũng muốn thế cho tới bây giờ. Thú thật với các bạn là lúc đó tôi cũng cảm động lắm, nhưng có lẽ vì trong tim tôi thời bấy giờ vẫn còn âm thầm ủ ấp bóng hình một người con gái thôn Bình, với hy vọng sẽ tiến tới, nhưng rồi chuyện tình đó cũng "vỗ cánh bay đi" vì nàng qua Mỹ và lập gia đình trước khi tôi ra trường. Lúc bấy giờ cuộc sống của tôi tương đối cũng khá ổn định, tôi có thể mua cho mình một vài bộ quần áo tươm tất để đi lễ, nhưng cứ nghĩ tới gia đình đang bữa đói bữa no ở Bình Giả nên tôi không dám chi tiêu một đồng cho bản thân mình. Làm sao tôi dám mua quần áo đẹp khi nghĩ tới cha mẹ và các em các cháu bên nhà phải dằn bụng mỗi ngày với những bữa cơm độn bắp độn khoai! Sau khi giảm bớt việc "lau chùi quét dọn" để có thêm thì giờ học bài, tôi sợ không đủ tiền mua quà gởi về gia đình mỗi 3 tháng, nên tôi xin đi theo phụ việc cho một người làm thợ mộc mỗi tuần 6, 7 tiếng vào ngày Thứ Bảy. Công việc vất vả hơn, nhưng mỗi tháng tôi cũng kiếm thêm được vài trăm. Một vài người bạn khuyên tôi nên đi làm nhà hàng, đỡ vất vả hơn và có thêm tiền "tip". Nhưng vì phải làm từ 11 giờ sáng cho tới gần nửa đêm cả 2 ngày cuối tuần nên tôi không thích, vì tôi muốn có thì giờ đi tập hát, đi sinh hoạt ở nhà thờ Việt Nam vào chiều Thứ Bảy và Chúa Nhật nên tôi không làm. Lúc bấy giờ tôi đã khá nổi tiếng ở trường, lại làm tại phòng counselor và tutorial service nên nhiều cô bé Việt Nam đến làm quen, nhờ giúp đỡ bài vở... Một bóng hồng ấp ủ trong tim từ thôn Bình đã làm tôi do dự không biết có nên đi tu nữa hay không, bây giờ thêm mấy cô sinh viên nhõng nhẽo mỗi ngày, rồi các nữ ca viên ở nhà thờ mỗi cuối tuần nữa nên tôi biết là mình không tu được nữa thật rồi! Đúng là Chúa gọi thì nhiều nhưng chọn chẳng bao nhiêu. Có điều không biết có phải Chúa không chọn tôi hay tôi không chọn Chúa! Lúc được tin cha bố tôi là linh mục Trần Đình Trọng đột ngột ra đi, tôi cũng suy nghĩ nhiều lắm và quyết định đi cấm phòng mấy ngày để xem có đi tu lại được không. Tôi không nói chắc các bạn cũng biết là tôi đã không đi tu nữa nên bây giờ mới làm bố đời ngồi đây viết lại chuyện đời mình chia sẻ với các bạn, chứ nếu đi tu thì phải viết những bài "Suy Niệm Lời Chúa" cho trang VietCatholic.net như các đấng bậc tu hành... Ngoài tiền trợ cấp của chính phủ, tiền làm trong trường, tiền "student loans", tôi còn trở thành một "trouble maker" cho phòng "Financial Aid" của trường nữa. Các bạn có tin không? Mỗi tuần tôi ghé vào phòng "Financial Aid" ít là một lần, thường là nhiều hơn, để xem có cái học bổng hay trợ cấp nào không để làm đơn xin. Tôi xin được nhiều tới độ ông giám đốc văn phòng "Financial Aid" phải gặp riêng tôi nói nhỏ là "you" để vài cái cho sinh viên khác được không. Thú thật với các bạn, tôi xin từ trên xuống dưới bất kể loại học bổng hay trợ cấp nào, từ 5 trăm tới 5 ngàn (Nói theo kiểu các cụ ở Bình Giả là "nậy nhỏ tấm mén chi cũng mần hết"). Tại các trường đại học ở Mỹ, thỉnh thoảng có những vị hảo tâm, các hãng xưởng hay hội đoàn cho tiền với mục đích giúp sinh viên nghèo có điều kiện theo học đại học. Thường thường các học bổng này dựa vào điều kiện tài chánh của sinh viên (tôi thì nghèo quá rồi vì đi làm ban đêm và cuối tuần lãnh tiền mặt nên coi như không có), học giỏi (dựa vào học bạ thì tôi được toàn điểm A nên không có gì trở ngại), và có một số học bổng dành cho những người "thiểu số" (minority) — đối với Mỹ thì mình chẳng những là thiểu số, mà còn là loại thiểu số ở bậc dưới âm độ nữa chứ lỵ. Tôi sống theo châm ngôn "muốn ăn thì lăn vô bếp" nên cứ xin liên tục, vì "con khóc mẹ mới cho bú", mình không xin thì ai biết mình cần mà giúp, phải không? Những năm ở Đại Học là "thời vàng son" của tôi tại Mỹ. Tuy vất vả, nhưng vui nhiều. Với cây đàn guitar và một số vốn âm nhạc học được từ những ngày còn sống trong chủng viện, tuy tôi hát không hay, nhưng cũng có nhiều cô sinh viên mủi lòng trong những lần sinh hoạt hội Sinh Viên Việt Nam ở trường khi tôi nghêu ngao hát "con gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may" hay "chiếc áo quê hương theo anh vượt trùng dương", và nhất là bài hát tự biên, tự diễn phổ nhạc một bài thơ tình "mai anh đi rồi bé có buồn không, mai anh đi anh nhớ bé vô cùng"... Lúc mới chuyển lên University tôi cũng hơi sợ nên mùa đầu chỉ dám lấy 15 credits để dọ dẫm xem sao. Những mùa kế đó, tôi lại tăng lên lúc 18, lúc 21 credits. Lúc này xét theo học bạ (transcript) của tôi, người ta xếp cho tôi việc trông coi phòng Lab máy vi tính của trường nên cũng hơi vất vả vì sinh viên cứ hỏi hết việc này tới việc khác: Khi thì máy không chạy, khi thì chương trình (program) bị bọ (bugs)... Lúc bây giờ trong đầu tôi lúc nào cũng chỉ luẩn quẩn những Assembler, COBOL, JCL, với C, rồi Pascal, v.v... Theo kinh nghiệm của những người đi truớc, tôi ráo riết tìm tòi để kiếm một cái việc liên quan tới ngành vi tính trong mùa hè để học hỏi một ít kinh nghiệm bỏ vô đơn xin việc sau này, chứ chẳng lẽ đi xin việc "Programmer/Analyst" mà chỉ thấy toàn kinh nghiệm đi lau cầu tiêu với đóng "deck" thì cũng kẹt. Tôi vẫn cứ vừa học, vừa làm ban đêm và cuối tuần, nhưng vẫn mượn thêm "student loans" vì từ năm thứ 3, chính phủ cho mượn mỗi năm 5 ngàn nên tôi cứ mượn để dành đó. Đúng là trời thương, trời đem đến. Trong lúc làm ở phòng Lab tại trường, trong một lần giúp một học sinh "debug software", tôi lọt mắt xanh một ông xếp Mỹ đi "xem sinh viên cho biết sự tình". Thực ra đây là những người của các hãng xưởng gởi tới trường để phỏng vấn những sinh viên sắp ra trường, giúp họ kiếm việc làm. Trong lúc nghỉ giải lao, ông ta đi qua phòng Lab, thấy tôi sửa một cái software cho một sinh viên trong tích tắc, ông ta mở miệng khen vì tưởng tôi là giáo sư ở trường: "your teaching method is so great.”Tôi nói chuyện làm quen và hỏi xem hãng ông ta có việc gì cho sinh viên làm mùa hè không, vì tôi muốn đi làm mùa hè tới để lấy kinh nghiệm xin việc sau này. Ông ta ngạc nhiên quá, hỏi ra mới biết tôi chỉ là sinh viên năm thứ 3 chứ chẳng phải giáo sư, "giáo cụ" gì cả. Nhưng cũng nhờ đó tôi kiếm được việc làm mùa hè kế đó, và thay vì trở lại trường học "full-time" cho 18 credits cuối, tôi đã ở lại làm "full-time" và học "part-time" 2 mùa kế đó mới xong chương trình. Năm cuối ở đại học chương trình học của tôi rất nhẹ vì tôi đã ráo riết học thật nhiều vào những mùa truớc, đó cũng là dịp may nên tôi mới dám nhận đi làm full-time và tiếp tục đi học part-time. Sau khi ra trường, mặc dầu đã có việc làm tốt, nhưng tôi không muốn trả ngay món nợ 15 ngàn tiền student loans, nên ghi danh học tiếp cao học. Lúc đầu chỉ định học cho vui và tránh trả tiền nợ thời còn là sinh viên càng lâu càng tốt. Nhưng sau mới thấy học phí nặng quá, cái sở tôi làm lại không chịu trả tiền "graduate school", vì mình đã có bằng và khả năng để làm việc rồi. Tôi bực mình nên nộp đơn xin việc khác, tuần nào cũng xem báo và gởi resume đi lung tung cả. Trước khi chính thức đi học cao học, tôi trình bày với ông chủ hãng thầu "cleaning" để xin nghỉ việc vì từ nay ban ngày tôi phải đi làm công sở, tối lại phải đi học lấy bằng "master". Ông chủ tiếc lắm, nhưng cũng rất hãnh diện vì ông đã giúp tôi có việc làm để sống qua ngày trong thời gian học đại học. Theo phép lịch sự, tôi cũng đến gặp ông chủ building nơi tôi đã làm việc mỗi tối trong hơn 3 năm vừa qua. Trong lúc nói chuyện, ông ta quá ngạc nhiên khi biết tôi đã học xong 4 năm đại học trong thời gian đi quét dọn văn phòng cho ông ta. Sau khi nói cho ông ta biết là tôi đã có việc làm chính thức cả mấy tháng nay, từ lúc chưa ra trường, nhưng bây giờ đang đi kiếm việc khác vì muốn kiếm sở nào đồng ý giúp tôi trả tiền học cao học vì học phí nặng quá. Ông ta cho tôi cái hẹn để Thứ Hai kế đó tới phỏng vấn với ông giám đốc "data processing" của hãng TRW. Tôi được nhận vào làm và được giúp đỡ đi học lấy bằng cao học về điện toán tại hãng này. Lúc tôi quyết định sẽ tiếp tục học lấy tiến sĩ, ban giám đốc hãng cũng đồng ý, nhưng muốn tôi lấy ngay cái bằng MBA (Master - Business Administration: Quản Trị Kinh Doanh) vì họ mới cho tôi lên làm xếp nhỏ (manager), và nếu muốn đi lên trong ngành quản trị (management) thì phải có MBA. Tôi phân vân lắm, vì lúc đó tôi đã có gia đình, và một cháu gái mới mấy tháng tuổi, nên chỉ muốn học tiếp cho xong tiến sĩ chứ làm xếp chẳng làm thì thôi. Tôi lên hỏi ý kiến ông thầy bảo trợ của tôi ở đại học, ông ta cũng khuyên tôi nên lấy MBA để dễ "thăng quan tiến chức" đã rồi trở về lấy Ph.D., vì lấy tiến sĩ ngay cũng chỉ oai thêm một tý, hoặc muốn đi dạy đại học thì tốt chứ làm việc ở ngoài họ cần cái MBA hơn. Tôi nghe theo, và phải mất thêm gần 3 năm nữa mới lấy xong cái MBA, vì lúc đó tôi đã có gia đình nên không còn học nhiều như lúc còn độc thân được nữa, và công việc cũng mỗi ngày một vất vả hơn vì làm xếp Mỹ không đơn giản tý nào cả. Tôi không viết ra đây những chi tiết từ lúc học xong chương trình 4 năm đầu đại học, vì tựa đề của bài này là "thời sinh viên độc thân". Khi có dịp, tôi sẽ chia sẻ về thời gian vừa làm vừa học với sự nâng đỡ và khích lệ của nhà tôi, vì nếu không có nàng, tôi không thể nào vượt qua được. Tôi chia sẻ "Nhật Ký Đời Tỵ Nạn" của mình với các bạn để khuyến khích các bạn trẻ đang miệt mài vất vả học hành hãy kiên tâm bền chí, vì "qua đau khổ mới tới vinh quang". Lúc tôi bước lên khán đài (sân khấu) để nhận bằng tại Kennedy Center ở Hoa Thịnh Đốn, hình ảnh đầu tiên tôi nghĩ tới là những buổi chiều cỡi bò từ ruộng trở về nhà, miệng nghêu ngao đọc bài học thuộc lòng ở Bình Giả, và nhận biết rằng mình đã lớn, đã trưởng thành, nhưng cũng đã xa rồi, "Quê Hương Yêu Dấu" của tôi. Trong những bước chân ngập ngừng đó, tôi thầm thì trong tim: Cha ơi, con không đi tu được, nhưng con đã học tới đầu tới đũa để kiện toàn ước muốn của cha. Giờ này cha không còn nữa, nhưng bao nhiêu năm qua con vẫn ấp ủ trong lòng câu nói của cha để làm động lực vươn lên những khi chán nản, thất vọng... “Các con cố gắng mà học, đời cha đã khổ vì ông nội mất sớm, không được học nhiều nên cứ phải cày sâu cuốc bẫm. Thời nào người có học cũng hơn, các con cố lên, đừng chán nản.” Nguyễn Duy-An nguồn www.vietbao.com |
| Có 1 thành viên cảm ơn vndanchu vì bài viết có giá trị: | ||
|
#15
|
||||
|
||||
|
ĐỜI SỐNG NGƯỜI GIÀ Ở MỸ
Hoành Nguyễn Người viết: HOÀNH NGUYỄN Bài số 10623-1672-385-vb7220706 * Hoàng Nguyễn là nhân vật “ông chú” trong bài viết “Gia Đình, Quê Hương và Nước Mỹ” của tác giả Ngọc Bích đã được phổ biến. Là cựu sĩ quan VNCH, cựu tù nhân cộng sản, ông định cư tại Hoa Kỳ từ 1996 và là một nhà báo Việt ngữ tại Sacramento. Sau đây là bài viết về nước Mỹ của ông, với lời ghi cuối bài: Sacramento California, những đêm trăn trở tháng 05/2006. * Năm mới đến Mỹ (1996), tôi có viết bài "Những Nhận Định Khác Nhau Về Cuộc Sống" đăng trên báo Việt ngữ Sacramento; Nguyên do từ câu nói của một bạn học tại trường Sacramento City College: "Nước Mỹ là Thiên Đường của tuổi thơ; Là Chiến Trường của thanh niên, và là Địa Ngục của người già". Lúc bấy giờ tôi cũng như người bạn tị nạn chính trị, do chưa hội nhập với cuộc sống mới lạ ở xứ người nên có nhận định không chính xác lắm. Mười năm sau, tôi đủ tuổi 65 nên xin được nhà dành cho chung cư người già: Eskaton President Thomas Jefferson Manor, nằm ở phía Nam Sacramento, gần khu thương mại Florin Mall, Trung tâm Medical và Thư viện. Khu nầy tổng cộng có 104 căn, gồm 52 ở từng dưới và 52 từng lầu 2. Đa số là Mỹ trắng, cũng có vài ba người Mỹ đen, khoảng chục vợ chồng người Hoa và chừng 8 người Việt. Nhiều người lãnh trợ cấp già, nhưng cũng có người là Dược sĩ, Worker lãnh tiền hưu trí; Có vị là Tướng Tá ngày xưa, người khác có con cháu là dược sĩ, thương gia, công chức giàu có. Chung quanh khu nhà là vườn hoa dạo chơi, có hàng rào trắng bao bọc, có nhà để xe và có nhân viên an ninh túc trực ngày đêm; Cứ vào khoảng gần 12 giờ trưa mỗi ngày, thì nhân viên an ninh sẽ đi một vòng kiểm soát xem các người cao niên nầy có được khoẻ không, qua cái nút dấu hiệu trước cửa: Nếu đã được kéo qua màu trắng là khỏe, còn vẫn để nguyên màu đỏ mà an ninh tự động làm dấu lúc nửa đêm, thì họ sẽ gõ cửa kiểm soát, nếu không có người trả lời thì ngay lập tức, nhân viên an ninh sẽ mở cửa để xem coi có người bịnh thì gọi xe cứu thương đến chở vào bịnh viện điều trị khẩn cấp. Nhà người độc thân như tôi thì có một phòng khách rộng rãi để TV và Computer, có gắn loa để liên hệ với văn phòng. Phòng nầy liền với nhà bếp đủ tiện nghi, có cửa lớn mở ra hành lang và cửa sổ ngắm cảnh trời mây hay xe và người qua lại. Một phòng ngủ cũng rộng không kém, có cửa ra hành lang và cửa khác thông với phòng khách, phòng vệ sinh tắm rửa. Còn có một nút đỏ để khi tắm lỡ có trợt té hoặc bị bịnh đột xuất thì giựt sợi dây báo động nầy, sẽ có an ninh đến tiếp cứu ngay tức khắc. Hàng ngày, chúng tôi có thể đến phòng sinh hoạt để uống cà phê free, xem TV đọc báo, đánh bài bingo giải trí, gặp nhau chào hỏi trò chuyện thân mật; Hoặc đến phòng đọc sách có dụng cụ thể dục, có bàn billard và computer. Còn có cô giáo dạy ESL và dạy Sitersite thể dục ngồi cho người già yếu. Có phòng cắt tóc nam nữ. Tất cả đều sát bên văn phòng Manager. Trên lầu hoặc dưới đất đều có phòng giặt đồ và nơi đổ rác ra bồn chứa bên ngoài, rất tiện nghi vệ sinh. Mỗi tuần có 2 ngày xe chở đi chợ hoặc mua sắm đồ, thường là ở Wal-Mart, Alberson, Raley's, Mall và Dollars tree. Những ngày lễ và Tết, có đãi tiệc và xổ số rất vui. Có một buổi khám bịnh theo hẹn. Khách đến thăm đậu xe trước văn phòng, nhắc phôn trước cửa gọi mở, phải ghi vào sổ trực giờ vào và giờ ra. Quan sát và suy ngẫm cuộc sống ở Mỹ, ta sẽ hiểu được tại sao người già chọn vào ở chung cư mà không ở nhà ngoài với con cháu? - Trước hết là được chăm sóc chu đáo hơn, đầy đủ mà ít tốn kém; Lại có nhiều bạn cao niên để tâm tình thích hợp, nhất là được yên tĩnh. - Nếu ở ngoài, con cái bận đi làm; Cho dù có mướn người giúp việc săn sóc cũng không bằng. Nếu trông coi cháu chắt thì ồn ào bận bịu. - Người ở chung cư, vẫn được con cháu đến thăm và rước về nhà hoặc đi chơi trong những ngày cuối tuần hoặc nghỉ lễ. Tôi đã sống hơn 3 năm ở chung cư người già, ban đầu thì cũng cảm thấy lẻ loi buồn tủi và hơi lo sợ vẩn vơ về bịnh cao huyết áp; Sau quen dần thì lại rất thích thú và chẳng muốn di chuyển ra bên ngoài ồn ào kém an ninh. Cái thoải mái nhứt là tự do mà khi đến nhà khác, dù là bà con hoặc thân hữu cũng khó có được. Chẳng hạn như, bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nếu thích thì tôi đều có thể mở TV, Computer để sưu tầm tin tức giải trí hoặc viết bài mà không ngại làm phiền ai. Đồ đạc dụng cụ thì trang trí bày biện thế nào tùy ý thích của mình, nhất là đang dùng mà mõi mệt buồn ngủ hoặc có việc cần đi gấp thì cứ bỏ bừa ra đó, không sợ mích lòng ai hoặc có người thấy được cười chê. Tuy nhiên, cũng phải công tâm nhìn nhận, nhạc sĩ Trịnh Hưng cũng có lý khi diễn tả cảnh sống của một người độc thân qua những vần thơ mà tôi nhớ lõm bõm: … "Một mình nấu, một mình. Một mình mình nói, một mình mình nghe. Một mình nhiều lúc cười khì Hai mình có phải diệu kỳ hơn không? " Phước duyên thay cho những ai có bạn tri âm, nếu không thì đừng mang gông vào cổ mà chắc lưỡi hối tiếc. Nước Mỹ không chỉ là "Địa ngục" của tuổi già như có nhiều người tự ti măc cảm và hoang tưởng một cách quá đáng. Chuyện kể trên Diễn đàn internet mới đây: Có một cụ già 92 tuổi động lòng cố quốc, tuyên bố về Việt Nam CS ở luôn. Được vài năm sau lại phải trở qua Mỹ để có đủ phương tiện điều trị bịnh; Xong rồi lại vào sống trong Nursing Home để có bác sĩ và y tá chuyên môn chăm sóc mỗi ngày, mà khỏi tốn kém tiền của thân nhân; Sống đến trăm tuổi thọ. Cũng đành ngậm ngùi qua 2 câu thơ: "Muôn dặm hồn thiêng về cố quốc, Trăm năm xương trắng gởi quê người!" Tiền trợ cấp xã hội cho người già hoặc bịnh tại Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ cũng được chiết tính vừa đủ, nếu lỡ vướng mắc nợ như làm mất hoặc hư đồ vật có giá của người khác, hoặc chuyển housing quên không báo nên bị cúp trợ cấp tiền nhà, thì theo luật pháp, mỗi tháng chỉ phải trả dần $50 theo mức thu nhập lương hàng tháng của tiểu bang Ca-li cao nhứt là 836 Mỹ kim. Bởi chiết tính chi tiêu bình dân thì gồm có: Tiền nhà $200 + tiền xăng và bảo hiểm xe cũ 200. + tiền điện thoại và internet 100. + tiền ăn 200. + mua sắm và giao tế 100 cũng vừa đủ lương. Khi xe hư nhiều cần tu sửa hoặc mua xe cũ khác vài ba ngàn đô là một vấn đề suy tính đau đầu. Những ai không cần xe và cell phone hoặc ở nhà free của con cháu, thì có dư để đi du lịch hoặc giúp đỡ người thân ở quê nhà, nhưng đó cũng là du di ngoài luật. Vấn đề hậu sự cũng là một nỗi nặng lo, nếu muốn giữ được tro cốt và làm tục lễ cho phần hồn thì phí tổn trên dưới 5 ngàn đô. Còn những ai chết mà không có thân nhân thừa nhận, thì Sở xã hội sẽ thiêu hủy luôn hài cốt. Những người già hẩm hiu ở nước ngoài, nếu như thân nhân từ Việt Nam không thông hiểu mà thường than thở thúc bách tiền bạc, thì thật là tội nghiệp cho cuộc đời xa xứ cô độc bơ vơ khi bịnh hoặc tuổi đã về chiều. Hoành Nguyễn nguồn www.vietbao.com |
| Có 1 thành viên cảm ơn vndanchu vì bài viết có giá trị: | ||
|
#16
|
||||
|
||||
|
TỪ CALIFORNIA ĐẾN TEXAS
Trần Chi Liên Người viết: TRẦN CHI LIÊN Bài số 1030-1639-352-vb6090606 * Tác giả Trần Chi Liên, cư dân Garden Grove, hiện là một công chức tiểu bang, đã tham dự và nhận giải thưởng Viết Về Nước Mỹ từ năm đầu, với bút hiệu Thiên Ân, truyện "Nửa Dòng Máu Việt". Lần này, bà góp thêm hai bài viết mới. Đề tài của bài thứ hai rất đáng để tính toán: bán nhà Cali, mua nhà Texas, trả dứt nợ nhà và hưởng nhàn. * Người Việt hải ngoại khắp nơi đều biết hoặc nhắc đến hai câu thơ: Cali đi dễ khó về Trai đi có vợ, gái về có con Khi phổ biến hai câu thơ trên, chắc người ta chỉ có ý rằng (?) Cali là đất tốt để dừng chân, sinh sống, lập nghiệp. Không nơi nào trên đất Mỹ có khí hậu dễ chịu như ở Cali, rất thích hợp cho người lớn tuổi. Hơn thế nữa, Cali còn có những khu thương mại được mệnh danh là Saigon Nhỏ (như tại Quận Cam, San Jose...) vì người Việt mình ở những vùng này có cuộc sống rất an nhiên tự tại, không cần biết hoặc nói tiếng Anh vẫn cảm thấy như mình đang sống trên quê hương Việt Nam. Thậm chí có người còn nhận định kiểu tam đoạn luận: Đi đâu thì đi, không nước nào bằng nước Mỹ. Đi đâu thì đi, không có tiểu bang nào bằng California. Đi đâu thì đi, không có quận nào bằng Quận Cam; và không có thành phố nào giống Việt Nam bằng Westminster. Bởi vậy, về sống ở Westminster là nhất! Gia đình tôi và gia đình các em sống rải rác quanh khu Saigon Nhỏ gần ba mươi năm nay. Nói theo bạn bè ở các tiểu bang khác là "Sao mà may mắn và hạnh phúc thế! Dân nhà giầu có khác! Ở Quận Cam mà lại còn ở ngay Westminster nữa là nhất rồi..." vân vân và vân vân. Chúng tôi "được" hưởng phúc lợi đó ngay từ những năm đầu tiên khi cộng đồng Việt Nam tại Quận Cam bắt đầu phát triển. Từ một vài tiệm nho nhỏ trên đường First của thành phố Santa Ana - Hình như là tiệm phở Hòa, nhà in của anh Nam (Đông Duy), nhà Sách Quê Hương của anh Niên... - Rồi từ từ kéo dần về góc Bolsa và Busha, biến bãi rác nơi đây thành khu Mini Mall và cuối cùng là cả một khu thương mại trù phú như hiện nay với hàng ngàn cửa tiệm, văn phòng đủ loại như trăm hoa đua nở. Có thể vì chứng kiến sự thành hình và trưởng thành của khu Saigon Nhỏ mỗi ngày trong thời gian khá dài, như nhìn từng giọt nước nhỏ giọt cho đến khi đầy tràn ly nước - hình ảnh thật quen thuộc nên hình như tôi không thấy mình hạnh phúc như mọi người nói. Tuy sống ở Quận Cam, chúng tôi vẫn phải làm việc như mọi người dân địa phương trong vùng. Vợ chồng sáng đi chiều về, con cái cũng sáng đưa chiều đón, về đến nhà bà ôm bếp, ông ôm vườn, loay hoay cũng phải đến khuya lắc khuya lơ mới chui vào "tổ ấm" ... mạnh ai nấy ngáy. Cuối tuần chạy ào đi chợ như gió cuốn, không có thì giờ lang thang trong khu Phước Lộc Thọ hay khu đối diện có chợ Á Đông. Đôi khi sợ cảnh xe cộ nối đuôi nhau trên đường Bolsa vào cuối tuần, tôi lại vòng xe đi chợ Alberson cho thoải mái. Thành thử có khi cả tháng vẫn không có dịp tản bộ, nhàn du để hít thở không khí Việt Nam của Saigon Nhỏ. Ngày qua ngày, con cái lớn dần, nhu cầu nhà cửa cũng tăng trưởng theo chiều cao của các con. Nhà nhỏ không đủ chứa lại phải đổi qua nhà lớn. Người Việt Nam khắp nơi cũng nghe người ta đồn rằng Quận Cam có đủ thứ đáp ứng mọi nhu cầu tinh thần lẫn vật chất của người Việt nên mỗi ngày đổ về đây mua nhà ngày càng nhiều. Giá nhà tại Quận Cam cứ thế mà tăng dần, tăng dần. Nhà cửa ở Quận Cam giống như những quả cam chín vàng ối trên cành, nhìn thật là đẹp, nhưng khi hái xuống, làm sao biết được bao nhiêu quả ngọt bao nhiêu quả chua!!! Người Việt với ý tưởng "An Cư, Lạc Nghiệp" nên ai cũng muốn có một mái nhà riêng để ở. Những người có nhà từ trước khả dĩ còn có cuộc sống thoải mái như được thưởng thức những quả cam ngọt ngào. Những người trẻ sau này, tuy cả vợ lẫn chồng đều làm việc, phần lớn tiền lương đều dùng để thanh toán cho căn nhà, phần còn lại chẳng còn bao nhiêu để chi tiêu trong gia đình nói chi đến việc đi nghỉ hè. Chỉ cần làm một con toán đơn giản - giá tối thiểu cho một căn dưới 2,000 bộ vuông, có thể ở ngay không cần sửa chữa cũng vào khoảng sáu trăm nghìn, trả hai mươi phần trăm là trăm hai, vay ngân hàng bốn trăm tám, tiền trả ngân hàng hơn hai nghìn rưởi, thêm tiền thuế, bảo hiểm, điện nước linh tinh cũng phải đến ba nghìn rưởi mỗi tháng. Bao nhiêu gia đình có thể đóng nổi một lần cả trăm nghìn và hàng tháng hơn ba nghìn? Lại phải cầu cứu anh chị em, họ hàng vào sống chung đụng với nhau... hậu quả sẽ sinh ra đủ thứ vấn đề...vì một mái ấm không thể nào có hai chủ. Cuộc sống cứ như thế lại tạo thêm bao nhiêu điều phiền phức. Ap lực trong sở làm hàng ngày đã đủ cho tinh thần lẫn vật chất của một người rã rời, về đến nhà không được tự do, thảnh thơi làm những gì mình muốn, hạnh phúc gia đình làm sao tìm thấy. Bằng như cố gắng chịu đựng một mình, cuộc đời cứ phải đi làm nuôi nhà nặng hơn nuôi chính gia đình mình, cái nhà sẽ là một gánh nặng như ăn phải quả cam chua, bỏ đi thì tiếc mà ăn vào thì xót cái bao tử. Không thể phủ nhận có một số khá đông nguời Việt - trong đó có vài người bạn rất thân thiết của tôi - có thêm nhà, thêm tiền trong ngân hàng nhờ vào việc biết đầu tư vào thị trường địa ốc. Số đông đó cũng chỉ là một nhóm nhỏ trong tổng số người Việt sống tại California mà thôi. Vấn đề nhà cửa tại California thật ra chỉ ảnh hưởng đến thế hệ một rưỡi và thế hệ thứ hai của người Việt khi con cháu thế hệ thứ nhất thành nhân, tạo dựng mái gia đình mới. Mới ra trường - đôi khi còn phải ôm món nợ đèn sách khá cao - với số vốn nhỏ nhoi không đủ để trả trước số tiền lớn, làm sao mua nổi căn nhà tại California để ở. Nếu có công ăn việc làm tốt, gắng gượng mua nhà, cuộc sống cũng lại rơi vào cảnh đầu tắt mặt tối để nuôi nhà thôi. Đại gia đình chúng tôi cũng nằm trong khối người băn khoăn đó. Chị em chúng tôi, ai cũng có một căn nhà tương đối khang trang tại quận Cam. Chỗ ra chỗ vào thoải mái, con cái mỗi đứa một phòng. Bù lại, tiền nhà đã chiếm mất một đầu lương. Đầu lương còn lại phải thanh toán cho mọi thứ bảo hiểm như xe cộ, đời sống, tiền học cho con và đủ thứ chi phí linh tinh khác. Cuối cùng, một năm có hai tuần phép, vợ chồng con cái ngồi nhìn nhau, lôi những việc dồn cục trong nhà ra thanh toán vì ngó lại túi tiền của mình, chẳng còn khoản nào cho việc đi nghỉ hè cả. Năm này nối tiếp đến năm kia cho đến một ngày, chị em chúng tôi như bừng tỉnh sau một giấc mơ dài khi chứng kiến một người thân yêu của chúng tôi ra đi sau hơn hai tuần nằm trên giường bệnh. Một người đang khoẻ mạnh, hơn nửa đời người tận tụy với công việc để lo cho gia đình có cuộc sống ổn định. Chưa thực sự được hưởng...nhàn đã bỏ mọi sự mà đi. Xuôi tay chẳng mang theo được gì!!! Cái chết đó khiến chị em chúng tôi bị khích động khá mạnh khi nghĩ đến sự vô thường của cuộc đời. Chúa cho mình cuộc sống đó, mình không biết qúy, đến một lúc nào đó, Chúa lấy lại, có hối hận thì cũng đã muộn màng. Thế là các em tôi rủ nhau đi tìm cuộc sống mới. Các em làm một vòng Đông du, qua San Antonio, ghé Austin, chạy thẳng qua Houston, dừng chân ở Galveston, Palacio, chạy lên miền Tây Bắc ghé Dallas, Irving, Fort Worth, Grand Prairie và cuối cùng dừng chân tại một thành phố đang phát triển - Mansfield. Mansfield là một thành phố nhỏ, đang phát triển rất nhanh. Có những khu giá nhà từ hơn một trăm nghìn lẫn chung với những khu với giá khá cao - trên năm trăm nghìn. Thành phố có đến 80% dân da trắng. Các trường trung, tiểu học đều mới toanh và khá lớn. Khí hậu - dĩ nhiên là không được bằng như California, nhưng không đến nỗi khó chịu như ở Houston hoặc trên Dallas. Sau hai tháng nghiên cứu "thị trường" nhà cửa, việc làm, tốn tiền cho mấy chuyến bay với American Airline, bay đi bay về, các em đã quyết định bán nhà bên California, trả đứt căn nhà lớn hơn, đẹp hơn ở Mansfield. Các em và bạn bè mua bẩy căn nhà trên một con đường, nhà nọ cách nhà kia một căn. Sở dĩ - không có chữ TÔI vói các em vì gia đình tôi lúc bấy giờ chưa quyết định nên đi hay ở. Vợ chồng tôi khá lớn tuổi, nhà tôi bị thất nghiệp cả hơn năm lại gần đến tuổi hưu và công việc của tôi không thể thay đổi dễ dàng. Vả lại, tôi chỉ cần giữ công việc hiện tại thêm sáu năm nữa là có thể về hưu thoải mái. Tôi cũng mua một căn gần các em, rồi lại rút lui vì không thể bỏ Cali cho đến khi về hưu. Tuy nhiên, người tính không bằng Trời tính. Ngày nhà tôi giúp các em dọn nhà, chàng đi vòng vòng quanh con đường "vào làng". Mới chỉ có mấy tháng mà đã thay đổi quá nhiều, chàng bỗng thấy thích cái không khí hơi nhà quê với gió mát trăng thanh, không khí trong lành. Chàng gọi về Cali sau khi biết căn nhà chúng tôi bỏ sắp xây xong và sửa soạn được đưa lên thị trường để bán. - Em ơi, cái nhà mình bỏ, họ vẫn xây theo như ý mình chọn hồi đó mà còn bỏ thêm vào mấy thứ khác nữa. Bây giờ nhìn lại thấy đẹp lắm, em có muốn lấy lại không? - Anh nói chơi hay nói giỡn vậy? Tự dưng bốc đồng lại muốn mua nhà mới. Nhà cũ chưa tính bán mà lại hỏi muốn lấy hay không là làm sao! Anh tính mua xong rồi anh dọn về đó ở với bà... nhỏ để bà nhỏ trả tiền nhà hả? - Anh nói vậy thôi, tùy em quyết định! Tại anh thấy mới có mấy tháng mà khu này phát triển kinh khủng quá, một hai năm nữa giá nhà sẽ lên cao lắm nên mới có ý định đổi nhà đó mà. Chứ ở lại Cali, đến khi em về hưu rồi mình vẫn phải ôm nợ nhà thêm mười lăm năm nữa, làm sao mình đi giung giăng giung giẻ được? - Nhưng anh có nghĩ đến chuyện là em vẫn còn phải làm việc thêm năm năm nữa mới có thể về hưu không? - Thì tại vậy anh mới nói là tùy em mà! Tưởng rằng câu chuyện sẽ kết thúc tại đó, nhưng qua ngày hôm sau, có một vài chuyện xẩy đến khiến tôi phải suy nghĩ lại chuyện nên đi hay ở. Đi - tôi sẽ phải làm những chuyến đi, về từ Cali đến Texas và sống như người "homeless" ở Cali trong hơn năm năm - thời gian không phải là ngắn. Ở - gia đình tôi sẽ phải đối diện với một vài khó khăn riêng - thời gian có lẽ sẽ dài hơn năm năm. Sau một đêm dài trắng mắt, vợ chồng tôi quyết định ĐI. Chàng ở bên Texas lo làm thủ tục mua cái nhà mình đã từng chối bỏ. Tôi ở bên Cali lo cho nhà mình lên thị trường, tìm người dọn bớt đồ đạc vào nhà kho để có thể làm đẹp cho căn nhà trước khi trình làng cho mọi người đến xem nhà. Số Trời đã định, chuyện mua nhà và bán nhà vào Escrow chỉ trong vòng năm ngày, không cần phải dọn dẹp, sơn sửa, mọi chuyện đều được xếp đặt thật thứ tự, gọn gàng, dễ dàng như có một bàn tay phù thủy nhúng vào. Escow đóng rồi mà gia đình tôi vẫn cứ như chủ nhà cho đến cả hai tuần sau mới dọn ra, giao nhà cho chủ mới. Người bán bên Texas và người mua ở Cali đều quá dễ dãi và dành cho chúng tôi những điều kiện "không thể tin được" trong đời sống hiện tại. Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình Nam. Hy vọng chúng tôi sẽ là những người bạn lâu dài cho dù việc mua bán đã xong. Xem ra, chuyện rời bỏ California đối với gia đnh chị em chúng tôi không khó như mọi người thường nghĩ. Phải thú thật với lòng, rời Cali cũng có nhiều luyến tiếc. Hai mươi tám năm - thời gian dài hơn năm tháng ấu thơ và thiếu nữ của tôi bên quê nhà. Chúng tôi có rất nhiều kỷ niệm với Cali. Bạn bè trong sở, nhà thờ, ngòai đời đều cho chúng tôi điên vì đang ở nơi có khí hậu và đời sống tốt nhất nước Mỹ mà lại bỏ đi đến một nơi không thuận tiện bằng. Tôi chỉ còn biết cười trừ và nói: "Rồi cũng quen thôi. Cả bao nhiêu người ở được thì mình cũng ở được. Biết thế nào cho vừa, miễn sao cuộc sống thỏai mái, không phải lo toan nhiều là đủ rồi." Sau khi ăn chơi vài tháng, các em tôi - một người đi làm toàn thời gian, người còn lại đi làm nửa buổi để có giờ đưa đón con và lo cơm nước cho gia đình. Cuối tuần gia đình chở nhau đi nhà thờ, ra ngòai ăn rồi đi chơi đây đó. Nơi chúng tôi ở - thành phố Mansfield - cách Dallas ba mươi ba dặm về phía Nam và cách Arlington mười bốn dặm nên khí hậu không đến nỗi ngột ngạt như ở Houston và chỉ mất mười lăm hai mươi phút là đến khu phố Việt Nam (Tầu). Thành phố đang phát triển nên mọi sự đều mới toanh, từ trường học cho đến các khu thương mại. Mấy đứa cháu, sau buổi học đầu tiên, về khoe với bố mẹ: "Wow!!! Cái gì cũng automatic hết kể cả toillette. Mình không phải leo cầu thang mà được đi thang máy." Dân Cali dọn đến khu gia đình tôi chọn cũng khá đông khiến dân Texas "rủa" rằng: "Dân Cali qua đây mua nhà giá nào cũng mua mà còn trả đứt luôn khiến dân Texas bị kẹt giỏ". Đời sống của người dân Texas quả thật là "tà tà". Người mua, kẻ bán cứ từ từ lấy hàng, tà tà tính tiền. Đi nhà hàng cũng thế, khách đến ăn tàng tàng ngồi chơi nói chuyện rồi mới chọn thức ăn. Bồi bàn từ từ dọn... Dân đi shopping thì lại chẳng có gì vội cả...Thành thử những ngày đầu, chị em chúng tôi bị nhận diện ngay là dân mới nhập cư vì đứa nào cũng chạy chứ không đi. Công việc bên đây thì quá là dư thừa. Nộp đơn chỗ nào là chỗ đó gọi đi phỏng vấn và nhận ngay. Các em tôi cứ thế mà thay việc cho đến khi có công việc thích hợp và số lương cao nhất. So với công việc ở Cali chỉ thấp hơn khoảng năm đến mười phần trăm thôi. Bạn bè hỏi tại sao tôi không tìm việc bên đó để được gần gia đình? Chao ơi! Ai mà chẳng muốn. Tuy nhiên, tôi là công chức tiểu bang nên không có chuyện thuyên chuyển từ tiểu bang này sang tiểu bang kia. Thêm vào đấy, công việc của tôi, chẳng có công ty tư nhân nào có cả. Giở thầy, giở thợ chỉ có thể xin được công việc chỉ bằng nửa số lương hiện tại mà còn phải bắt đầu học việc lại và phúc lợi bị mất hơn phân nửa. Hơn nữa, khi nhìn vào số tuổi gần về hưu của tôi, công ty nào có can đảm nhận làm để rồi nuôi bệnh! Thôi thì đành phải chấp nhận cảnh bay như chim chờ ngày dưỡng lão. Hơn năm mươi năm qua, gia đình chúng tôi đã làm bao nhiêu lần viễn du - từ miền Bắc chạy vào miền Nam, Việt Nam. Sau hai mươi mốt năm xây dựng cuộc sống mới tại miền Nam lại phải bỏ tất cả để đến miền đông Louisiana. Hai năm sau, tự nguyện làm lại từ đầu khi quyết định đi theo tiếng gọi của miền tây nắng ấm California đầy tình đồng hương. Hai mươi tám năm sau mang số vốn nhỏ nhoi từ miền tây Cali đi về miền đông Texas tìm sự bình yên cho tâm hồn và thanh thản cho thân xác đã mệt nhòai vì cơm áo trong suốt bao nhiêu năm đã qua. Cuộc đời con người cũng như vòng tròn, bắt đầu từ khởi điểm để rồi một ngày nào đó lại trở về điểm phát xuất. Đi về đều đồng nghĩa như nhau. Chúng tôi ra đi từ miền Bắc Việt Nam, đến khi nào mới được trở về từ khởi điểm - Hà Nội, Hải Phòng dấu yêu xưa? TRẦN CHI LIÊN nguồn www.vietbao.com |
| Có 1 thành viên cảm ơn vndanchu vì bài viết có giá trị: | ||
|
#17
|
||||
|
||||
|
TRUYỆN ĐỜI TÔI Ở MỸ
Quân Nguyễn Người viết: QUÂN NGUYỄN Bài số 1016-1625-338-vb7200506 * Tác giả tên thật là Quân Nguyễn, parole officer người Việt ở Santa Ana. Định cư ở Mỹ từ năm 87, hiện cư ngụ tại thành phố Anaheim, CA. * Đã bao nhiêu lần tôi muốn ngồi xuống viết một vài mẩu chuyện nhỏ kể về đời tôi, thầy tôi nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan, thầy tôi giáo sư Đặng Huy Đức, về người anh hùng không quân thiếu tá Ngô Giáp, và về những mảnh đời đây đó…nhưng chẳng có lần nào tôi làm được chuyện đó! Chiều nay, thứ sáu 28/4, trên đường lái xe đi làm về, chợt nhớ Chủ Nhật này là 30 tháng 4. Lại 30 tháng Tư nữa rồi! Chẳng hiểu sao tôi lại quyết định sẽ viết một mẩu truyện về đời mình nhân dịp kỷ niệm lần thứ 31 của ngày này. Có lẽ tôi nghĩ rằng bây giờ mình đã 50 rồi, đời cũng đã từng trải, chả còn sợ sệt gì nữa khi muốn nói ra những điều mình nghĩ, ít ra là về cuộc đời của mình. Năm 1987, sau năm tháng sống trong trại tỵ nạn Philippine, gia đình tôi đến định cư ở Orange County. Lúc ấy, vợ chồng tôi chỉ có một đứa con gái lớn, mới lên 10 tuổi. Vợ chồng con cái chia một căn apartment 2 phòng với chú em kế độc thân. Chú em út còn đang học đại học thì sống với bố mẹ tôi cách đó chỉ một góc đường. Người em kế giúp tôi lo các giấy tờ cần thiết, dạy tôi lái xe, rồi xin cho tôi vào học ESL ở Fullerton College. Chú em út thì mua cho tôi chiếc Corolla cũ, và xin cho tôi một chân giao báo cho tờ Register. Con gái tôi thì được xếp vào học lớp 5 ở trường tiểu học kế bên nhà, mặc dù rằng ở Việt Nam nó chưa học xong lớp 1, đã bị bố cho nghỉ vì đi học bị cô giáo bắt ca "Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng…" trong lớp, mà về nhà lại ca oang oang cho bố nghe! Về vật chất, cuộc sống của gia đình tôi lúc ấy có lẽ tốt đẹp gấp trăm lần khi còn ở Việt Nam. Cái cảm giác sống an tâm trong một xứ sở tự do thì gấp triệu lần, chả có lo âu về thằng công an phừơng xóm nào cả! Vậy mà mối lo lắng, thương nhớ về gia đình, bè bạn ở quê nhà còn đang đói khổ, lại làm vợ chồng tôi buồn hơn. Bà xã tôi thì chắt chiu từng xu để gởi chút quà về cho cha mẹ, chị em, bè bạn, mà tiền cước phí nặng, về đến Việt Nam thì thuế nó ăn hết, có khi bán hết quà chỉ đủ để trả thuế! Tôi thì lo vật lộn với bài vở và quyển tự điển Anh Việt Nguyễn Văn Khôn hằng đêm, học chẳng thấy tới đâu, mà thấy tương lai thì mù mịt, nhiều lúc ban đêm nước mắt chảy ròng ròng ở bàn học, hoặc thình lình ở ghế đá sân trường Đại Học! Tôi lại chẳng biết thương yêu đứa con gái nhỏ, nhiều đêm lôi nó dậy đi phụ bố xếp báo từ 2 giờ sáng, mưa gió lạnh lẽo bất kể! Đã vậy, những năm nó lên "Teenager" , quá lo sợ nó hư hỏng theo kiểu Mỹ, nên lúc nào cũng la rầy, cấm, cản, trừng phạt kiểu Việt Nam. Bây giờ nghĩ lại thấy hồi đó nó là đứa con gái ngoan, mà mình chẳng có chút thì giờ quan tâm tới nó, từ việc hoc hay những nhu cầu cần thiết của đứa con đang lớn. Nó chẳng bao giờ xin xỏ bố mẹ gì hết vì biết câu trả lời sẽ là "không!" Năm 89, bà xã tôi sanh đứa con trai kế. Vợ chồng tôi gọi nó là quí tử, cho bú mẹ tới gần 2 tuổi. Dù vậy cuộc đời cũng không sáng sủa gì mấy. Vẫn vật lộn với bài vở hằng đêm, tương lai thì vẫn mù mịt, hiện tại thì nghèo túng, bị khinh rẻ, xa lánh, có vài lần tôi đã muốn quyên sinh cho rồi! Nhờ Trời, tôi đã qua khỏi nhưng lần "depression" kinh khủng đó! Năm 92, bà xã tôi sinh đứa con gái út, phải mổ ra vì nó lớn quá, 12lbs. Vợ chồng tôi tưởng rằng chỉ con trai mới quí thôi, chẳng ngờ lại quí đứa con gái út hơn hết. Nó xinh xắn, lại ngoan ngoãn và lúc nào cũng quyến luyến cha mẹ. Chẳng bao lâu tôi lên trường CSUF, đổi nghành học từ Business sang Sociology, vì thấy đọc sách Mỹ dễ hơn làm toán, vả lại cũng tin rằng Mỹ nó đời nào mướn thằng Á Châu già, nói tiếng Anh với "heavy accent" làm "manager" cho hãng xưởng của nó, bộ Mỹ nó hết người rồi hay sao! Còn nếu đi làm công cho nó thì cần gì phải học cho mệt. Sau đó, tôi tốt nghiệp cử nhân, kiếm được việc làm vớ vẩn trong trường học, và rồi cho INS. Bà xã tôi cho rằng tôi học vậy đủ rồi, nhưng vốn biết mình dở, vụng về, và để cho công việc làm được chắc chắn trong tương lai, tôi quyết định bỏ ra một năm rưỡi nữa để học xong cao học ở CSUF. Nhờ Trời, tôi cũng học xong, vì cái gì cũng vậy có bắt đầu thì cũng có lúc chấm dứt, có vô trường thì cũng có ngày ra trường, miễn mình có cái đích để nhắm tới và quyết tâm làm cho xong mới thôi. Với cái bằng cao học tôi được tuyển dụng vào làm counselor trong nhà tù tiểu bang ở Chino. Mỗi ngày tình nguyện làm 16 tiếng, chưa kể đi về hết 2 tiếng. Chẳng thấy mặt mũi con cái mấy năm trời, vì khi mình đi làm từ 5 giờ sáng thì nó chưa dậy, mà khi mình về lúc 11 giờ đêm thì nó ngủ rồi. Mọi việc ở nhà đều trông vô bà xã. Được cái bả chăm sóc con cái chu đáo lắm, đứa nào cũng mập mạp tươm tất, sạch sẽ, nhất là 2 đứa nhỏ. Nhờ vất vả ngày đêm với công việc làm, tôi mua được căn nhà lớn với hồ bơi và một chiếc Corrolla mới cho con gái lớn dễ dàng. Sau một thời gian ngắn bận rộn với nhà tù, tôi được bổ nhiệm làm parole officer ở Moreno Valley rồi Santa Ana. Giờ giấc và công việc dễ chịu hơn gấp trăm lần so với lúc làm việc trong nhà tù. Tôi nhờ học ngành xã hội học ở Mỹ, mà mở mang tầm nhìn, biết nhận thức cái đúng cái sai của xã hội Mỹ, và của cuộc đời mình nói riêng, và của đời người nói chung, rồi tự thấy mình sai 99 phần trăm trong cách đối xử hoặc thương yêu đối với vợ con, nhất là đứa con gái lớn. Nhờ trời, nó chẳng vì mình sai mà hư hỏng hoặc oán trách, rồi cũng tốt nghiệp trung học, đại học, cao học và rồi trở thành đều tra viên tội phạm của Bộ Lộ Vận Tiểu Bang. Nó lại lấy được chồng hiền, người Việt giáo sư trường Luật. Hôm 19 tháng 4 vừa rồi, vợ chồng nó sanh được đứa con gái cho tôi lên chức "grandpa". Thật là một niềm vui lớn và mới lạ cho vợ chồng tôi. 19 năm ở Mỹ, tôi đi làm đủ 19 năm, và sẽ tiếp tục cho tới khi đứa con gái út ra đại học. Được sống ở Mỹ, được tự do nhìn thấy sự thật, được nhìn thấy cái đúng cái sai để chọn lựa hay từ bỏ, được có cơ hội để học hỏi, để vươn lên, để tìm kiếm một cuộc đời tốt hơn cho mình và cho con cháu mình, tôi càng thương cho đồng bào, thân nhân, bè bạn còn kẹt lại Việt Nam. 19 năm ở Mỹ, tôi vẫn thao thức không tài nào ngủ được những đêm 29 tháng 4, ngày tự do cuối cùng của miền nam, và của đời tôi cho đến năm 19 tuổi. Sau ngày ấy, cả nuớc trở thành nhà tù lớn cho cả dân tộc, và ngày ấy tôi chẳng bao giờ ngờ rằng có ngày mình sẽ sống đến 50, mà cũng chẳng đáng sống đến 50 làm gì trong cái ngục tù lớn đó! Vậy mà đã 31 năm rồi, có người hẳn đã quên hoặc muốn quên cái ngày đen tối ấy của dân tộc và của đời họ, nhưng đối với tôi, tôi chẳng làm sao quên được. Nhờ Trời, ngày mai 29 tháng Tư, tôi vừa đúng 50 tuổi. QUÂN NGUYỄN nguồn www.vietbao.com |
| Có 1 thành viên cảm ơn vndanchu vì bài viết có giá trị: | ||
|
#18
|
|||
|
|||
|
Không tin được bọn Mẽo Vô Địch Thối Nát cùng bè lũ tay sai.
Đợi năm sau Trung Tướng qua Mẽo sẽ lột mặt chúng nó.
__________________
AnHoang Return |
|
#19
|
||||
|
||||
|
CÁI BANG Ở MỸ
Diên Hồng Người viết: DIÊN HỒNG Bài số 803-1391-228-vb4081005 Tác giả Diên Hồng, tên thật Linh Quang Trần, đếm Mỹ theo diện ODP, hiện là cư dân Santa Ana, hành nghề tự do. Ông đã góp một số bài viết về nước Mỹ, sau đây là bài viết thứ 5 của ông. Người Việt Hải Ngoại vốn không lạ gì hình ảnh những kẻ ăn xin, ăn mày trên những nẻo đường nơi cố hương Việt Nam ngày nào. Ngày đó, trước 30/4/1975, Miền Nam chiến tranh tương tàn, làm bao gia đình chia ly, bao thảm cảnh tang tóc khắp nơi vì thế cùng với những nổi khổ "đau - buồn - đắng - cay - lệ trào" của muôn người ... những kẻ ăn xin , ăn mày cũng có khắp nơi, từ thành thị đến thôn quê. Sau 1975, nghe nói Việt Nam "thống nhất" vẫn đầy dẫy kẻ ăn mày ăn xin trên đường phố, ngay tại Saigon hoa lệ và cả ở thủ đô Hà Nội quyền lực! Lý giải điều này, người ta hay chép miệng nói "hiện tượng xã hội mà!" Chuyện ăn mày ăn xin ở Việt Nam, do vậy, chẳng ai lạ hay thắc mắc. Nhưng nhiều người vẫn cho là rất lạ, khi thấy ở ngay nước Mỹ cũng vẫn có ăn mày. Mỹ là một cường quốc giàu có, sao lại vẫn có người ăn xin ăn mày? Nghe thật nghịch lý nhưng đó lại là sự thật. Nhớ lại những ngày tháng đầu tiên khi mới đặt chân đến Mỹ (đi diện ODP), có bốn điều lạ ấn tượng nhất mà tôi và gia đình thấy ở Mỹ: Thứ nhất nước Mỹ rộng lớn , giàu đẹp và văn minh quá; Thứ hai người Mỹ thẳng thắn, thực dụng và có tinh thần độc lập cá nhân hơn mình nghĩ nhiều; Thứ ba Người Mỹ yêu nước theo cách của họ - họ có thể hát quốc ca bất cứ nơi đâu họ thích, họ có thể mặc quần áo và sử dụng trang sức có in cờ Mỹ mà vẫn không bị coi là bất kính hay bất nhã; Và điều thứ tư chính là hình ảnh những người ăn xin ăn mày lần đầu tiên tôi thấy trên nước Mỹ. Có những cái ở Mỹ tưởng như là nghịch lý nhưng lại có cái lý của riêng nó. Chẳng hạn, những người mới sang Mỹ ở chung nhà với người thân, vẫn phải chung lưng trả tiền nhà tiền phòng, điều này được giải thích bằng chân lý thoạt nghe khá phủ phàng: "Sống ở Mỹ chẳng có cái gì free cả." Ở lâu hơn, sẽ chóng hiểu rằng, ở Mỹ người ta đề cao tính độc lập, không dựa dẫm vào ai. Chính cách cư xử này của người thân, dù theo kiểu Mỹ, là ngụ ý giúp mình mau chóng hòa nhập với đời sống ở Mỹ một cách mạnh mẽ tự chủ và tự lập. Người giàu có ở Mỹ có tài sản kếch xù, cũng chính là những người vay mượn nhiều để kinh doanh, đầu tư. Không riêng họ, cả nước Mỹ đều đi vay nợ để phục vụ cho những chi tiêu, mua sắm, đầu tư của mình. Nước Mỹ phát triển nhanh chóng cũng chính nhờ cái nghịch lý nợ nần chồng chất này trong lòng nước Mỹ. Do vậy sống ở Mỹ tiểu sử tín dụng tốt đồng nghĩa với việc có tất cả, thuận lợi tất cả trong đời sống, kinh doanh, đầu tư. Người ta có thể dễ dàng bắt gặp ở hàng ghế nơi trạm xe bus thường ghé, ở một góc phố, góc supermarket, hay ở dưới vòm những tòa nhà cao ngất hay ở gầm cầu..., những người vô gia cư (homeless) người ăn xin. Vẻ bề ngoài của họ rất dễ nhận ra, quần áo tự do có phần tuỳ tiện, đôi khi quấn quanh mình một tấm chăn mỏng (dễ thấy vào những buổi sáng sớm), cạnh bên thường lỉnh kĩnh đồ đạc linh tinh đủ thứ nào đồ hộp, nước ngọt, quần áo... Có khi họ vay mượn mấy chiếc xe mua hàng của mấy siêu thị làm phương tiện "tải" mớ hành lý đang mang sự đời này. Dân Châu Á hay gọi người ăn mày ăn xin, là "cái bang" với sự muờng tượng đó là những kẻ ăn mặc rách rưới, mặt mày lôi thôi, lếch thếch, xem ra trái ngược với ăn mày ăn xin ở Mỹ. Dù là homeless hay ăn xin, ở Mỹ, họ vẫn ăn mặc khá đàng hoàng, dù quần áo có khi hơi cũ. Đặc biệt họ không bao giờ làm phiền hay quấy nhiễu một ai, khác với "cái bang" nơi khác thường bám đeo khách để xin tiền, xin đồ. Hình ảnh quen thuộc thường là họ ngồi im lặng nơi góc đường hay những chỗ có đông người qua lại, có khi họ cũng đứng, hoặc đi qua đi lại dọc theo lề đường các con phố, cạnh bên có đặt hay đeo tòng teng trước ngực tấm bảng bằng bìa carton, ghi mấy dòng chữ tiếng Mỹ cỡ chữ to để gây ấn tượng, chú ý với người qua kẻ lại. Những tấm biển này, nội dung ghi cũng muôn màu muôn vẻ. Khi thì : HOMELESS. CAN YOU HELP ME ?, khi thì ghi là (dịch ra tiếng Việt ) : " CỰU CHIẾN BINH Ở VIỆT NAM", khi lại là : " HÃY GIÚP TÔI VÀ CHÚA SẼ BAN PHƯỚC CHO BẠN" v.v... Khu little Saigon, góc đường Brookhurst - Bolsa hay có một người ăn xin đóng đô ở đây. Đó là một phụ nữ Mỹ trắng khoảng trên dưới 50 tuổi, vận quần jean áo thun, tay đeo headphones đi tới lui thư thả, cạnh bên là chiếc xe đạp cũ treo mấy móng đồ túi xách linh tinh. Thỉnh thoảng dòng xe hơi dừng lại vì đèn đò, bà ta lại đi đến gần nhưng không nói gì, có mấy chủ xe đưa ít tiền hoặc có khi là lon nước ngọt, bà ta nhận tất. Ở góc đường Bolsa - Golden West cũng có mấy người ăn xin thay phiên đóng đô, khi là ông già Mỹ quần jean áo thun in chữ, khi thì một gãốm nhách cao lêu nghêu có ria mép ... đều có mang bảng (biển ) trước ngực hoặc cầm tay quơ qua qua lại tấm bảng này cho thiên hạ đi ngang nhìn thấy. Tôi không biết cụ thể ở Mỹ có đến bao nhiều người homeless và ăn xin nhưng thấy rằng ở đâu cũng có. Santa Ana, San Francisco ... ở California, ở Newyork, ở Michigan, ở Massachusetts, ở Louisiana, ở illinois, ở Delaware, ở Alabama ...ở đâu cũng thấy. Có nơi số lượng hoemless lên đến vài chục ngàn người. Những sinh hoạt thiện nguyện trên đất Mỹ những tổ chức từ thiện thường chú ý thực hiện những hoạt động cứu giúp và phân phát thực phẩm cho họ. Người homeless, ăn xin ... ở Mỹ cũng biết cách xoay xở để " kiếm sống" theo lối của mình. Có người chơi nhạc lang thang trên đường phố, có kẻ dùng mặt mùay quần áo đủ màu ngộ ngĩnh, đứng ở góc phố tay cầm cái cốc cũ mèm, đợi có người đi qua là rung cái cốc cho mấy đồng xu có sẵn trong cốc kêu lốc cốc leng keng, để hấp dẫn tạo sự chú ý của người đi qua; có người lại ghi những dòng chữ to đùng trên tấm biển trước ngực, với nội dung khá " ấn tượng" như : " Tôi chỉ còn một chân vì chiến tranh Việt Nam ... ", hay " Hôm nay là sinh nhật thứ 55 của tôi ...", hoặc giả là : " Không nhà, lạnh và đói ... ". Nhìn họ vậy nhưng đừng nhầm tưởng đó là những người không có gì đáng nói. Có người trong số họ từng là là kỹ sư có việc làm lương cao, vợ đẹp con ngoan nhưng sau cú sốc " thất nghiệp, vợ bỏ đi theo người" bị tâm thần chữa chạy xong trở thành kẻ lang thang trên đường phố; có người từng là lính Mỹ ngang dọc trên chiến trường Miền Nam Việt Nam khi xưa; cũng có người là nhân viên của chính phủ hay cơ quan quân sự ... nay bị thải hồi hay luống tuổi mà không có người thân chăm sóc; có người từng có việc làm ổn định song gây tai nạn xe hơi phải bồi thường nặng đến tán gia bại sản, trở thành homeless ... Họ tự nhận mình là homeless, kẻ ăn xin ... nhưng sau một ngày đi ăn xin, học ũng có sinh hoạt bình thường như bao người khác. Cũng đi ăn, thậm chí uống bia cà phê ... và nhất là cũng luôn trả tiền sòng phẳng như mọi người. Có người ăn xin thường quanh quẩn theo các thùng rác cạnh các chợ, siêu thị ... để nhặt hay kiếm đồ ăn, trái cây ... đem bỏ làm nguồn sống phụ. Thường nét chung của homeless, người ăn xin ăn mày ở Mỹ ... là những người không nhà, thất nghiệp, có cả kẻ mà người Việt mình gọi là "người thất chí" ... Nói rằng người ăn xin ăn mày, home less của Mỹ là sản phẩm của của sự xuống dốc của nền kinh tế Mỹ vào một thời điểm nào đó ... là chưa hẳn đúng. Bởi, nước Mỹ luôn có những chính sách an sinh phúc lợi xã hội để chăm sóc người nghèo, kẻ thất nghiệp, người tàn tật v.v... khá tốt. Có những người homeless, ăn xin ... vẫn nhận trợ cấp của chính phủ nhưng vẫn cứ đi ăn xin ăn mày trên đường phố. Có người chẳng chịu đi nhận trợ cấp mà chỉ đi xin ... nói chung có thể tạm hiểu, họ "chấp nhận kiếp đi ăn xin ăn mày" để vẫn đượcsống sòng phẳng, độc lập cá nhân trong thế giới riêng của mình. Có những lúc tôi thấy họ ngồi yên bất động dưới ánh nắng gắt gao của mùa Hè, mặc cho người qua đường có cho hay không cho những đồng tiền vào cái cốc để bên cạnh, tâm hồn như bồng bềnh quay về với quá khứ một thời của mình. Người homeless, ăn xin ... cũng có những nổi niềm " buồn - vui - cay - đắng" của rất riêng trong Trái Tim của họ. Phải chăng đó cũng là một " tính cách Mỹ" nơi những con người mà ta thường gọi là là người ăn mày trong đất nước Mỹ phồn vinh ? Trong đó, cũng nên biết rằng, đội ngũ cái bang ở My,õ ngoài người My,õ cũng có những sắc dân di cư nữa ... có cả người Việt của mình. Có lần con gái tôi đòi tôi cho tiền, để bỏ vào chiếc cốc của một lão homeless ngồi ở góc chợ trên đường Bolsa. Cháu rất vui khi làm được việc đó, còn ông lão vẫn ngồi bất động mắt nhìn vào cõi xa xăm như chẳng hề biết vừa có một người bỏ tiền vào chiếc cốc mưu sinh của mình. Lần đó, con tôi bỏ vào cốc của 1ão khoảng $3 (tiền giấy loại $1 ). Sau khi đi bộ vào Phúc - Lộc - Thọ, cha con tôi quay lại khu chợ để lấy xe, thì thấy lão homeless đứng chờ sẵn bên xe. Tôi hơi nghi ngại nhưng ông lão chìa ra hai cây kem còn bọc trong giấy cẩn thận rất sạch sẽ cho con gái tôi, mà vẫn im lặng không nói lời nào chỉ nhìn cháu rất trìu mến. Vợ tôi toan ngăn nhưng tôi bảo hãy để con nhận. Con gái tôi vui vẻ nhận hai cây kem và thank you lão. Lão quay lưng bước đi vui vẻ, không quên vẫy tay chào cả nhà tôi. Vợ tôi hơi cằn nhằn sao cho con nhận đồ ăn của homelless, tôi giải thích : " Đó không đơn giản chỉ là hai cây kem ... mà đó chính là tấm lòng của ông lão đó đấy, em à !". Thật lạ, chắc ông lão homeless này cũng từng có một quá khứ ... một quãng đời " để nhớ để mong" thuở nào ... Tôi trân trọng tấm lòng của lão lắm ! ... Mặc cho cuộc sống ở Mỹ muôn màu sắc. Nếu bên kia có những dãy nhà chọc trời cao ngất, có những kẻ sang giàu sung túc ... thì ở đây cũng có những kẻ không nhà, ăn mày... ăn mày trên đời thường và cả trong dĩ vãng (?!) Nước Mỹ giàu có hùng cường nhưng vẫn không che giấu sự tương phản giàu - nghèo chính trong lòng xã hội của nó. Bởi, đó là nước Mỹ, mọi cái luôn bộc trực thẳng thắn đến lạnh lùng. Cái chính là mọi cái cùng tồn tại và cùng sống, trong sự tôn trọng lẫn nhau, không chèn ép lẫn nhau. Nước Mỹ là vậy, mọi sự đều có thể và cũng không có thể... Hãy hiểu nó như chính nó thể hiện, không nên vo tròn hay bóp méo ... như thói quen người đời hay làm! Diên Hồng (Linh trần ) --------------------------------------- Ở vùng tôi ở cũng có dân cái bang tuy không nhiều như mấy thành phố lớn bên Mỹ. Dân cái bang bên đây đều được nhà nước cho tiền trợ cấp hàng tháng và được cấp chổ ở. Tuy nhiên, họ chẳng thèm đi làm hay đi học, nếu muốn nhà nước sẽ trợ cấp, mà thích ngồi ở vỉa hè ngủ gà ngủ gật xin ăn. Góc đường gần nhà tôi có 1 gã đàn ông ăn xin da trắng (khoảng 35 tuổi). Cách đây mấy ngày tôi ghé 1 tiệm cơm VN ăn cơm thì gặp gã ngồi bên cạnh đang hì hụp húp phở. Tô phở chỉ có 5 đô mà khi ăn xong bỏ đi hắn để lại 10 đô trên bàn. Bo 5 đô. Ăn mày mà cũng sang gớm, thiệt khó hiểu |
|
#20
|
|||
|
|||
|
Trích:
À, mà về giấc mơ Huê Kỳ, các bác nói thêm kinh nghiệm bản thân như bác duyanh thì quý hóa quá. Lên Việt Báo không biết có bị mông má đi cho hào nhoáng hay không nhỉ?
|
![]() |
| Đang xem chủ đề này: 1 (0 thành viên và 1 khách) | |
| Công cụ | |
|
|