Cùng ý nghĩ như một số TV ở đây, tớ cũng rất muốn được biết nước Nga dưới nhận định của một người nước ngoài, đặc biệt từ một người Việt trí thức không thiên vị với CS như bác view, về điểm sau đây:
Ảnh hưởng và vai trò của dân thành phố Saint Petersburg (một thành phố văn hóa truyền thống, giầu có, Chính Thống Giáo) trong cuộc cách mạng Bôn Sê Vích, cuộc thay đổi của Gỏbachev, và tương lai gần của Nga?
Xin cám ơn trước.
Xin chào tất cả!
Cảm ơn là các anh và hoanghon đã cho tôi biết tôi có thể gây mối quan tâm nào đối với cộng đồng. Còn nói thật, thậm chí nếu các anh không cho biết, tôi cũng đã, vẫn và sẽ làm việc này, bởi nếu không, tôi đã không vào đây để làm gì.
Tại sao tôi nói như thế? Bởi cá nhân tôi đã chứng minh việc đó trong "X-cafe ver. 1". Nếu không có những chuyện xảy ra và hậu quả của nó(đối với tôi là tâm lý), tôi đã làm và tiếp tục làm việc này từ rất lâu. Và tôi không chỉ dịch. Tôi có rất nhiều điều để viết và tôi sẽ làm việc này trong thời gian tới (tôi đang bận thi, và cùng một lúc tôi phải đọc hàng ngày 4-5 cuốn sách và tôi không thể tập trung vào những đề tài khác).
Tại sao tôi sẽ làm việc này?
Các anh biết thế nào không, tôi, có thể nói, là một trong số rất hiếm hoi những người Việt sống ở nước ngoài có khả năng hòa nhập vào lối sống và cuộc sống của người Moscow nói riêng, người da trắng nói chung. Đối với tôi đây là lối sống sở trường, hoàn toàn tự nhiên: tôi bản chất người văn minh thành phố tận xương tận tủy. Tôi không gặp bất cứ cản trở nào trong hội nhập xã hội bản địa. Ở Moscow người Việt có bằng cấp tiến sỹ nhiều không đủ kho đến chứa, có nhiều người trong số họ thậm chí là vô địch Olimpic quốc tế về khoa học, song họ vẫn chỉ là người Việt. Còn tôi, có thể nói, một trong những cái lợi lộc lớn nhất mà tôi thu được từ cuộc sống ở Nga, ở Moscow, chính là tôi, khác với họ, đã tìm được chiếc chìa khóa mở cửa kho chứa những điều bí mật đối với tuyệt đại đa số người Việt không chỉ trong và ngoài nước là chuyện gì đã xảy ra ở Liên Xô nói chung, và Liên Xô, khác với tất cả những gì được tuyên truyền, thực tế là cái gì, và điều quan trọng nhất, một khi chúng ta hiểu được ra điều đó, chúng ta sẽ hiểu được điều gì xảy ra với chính đất nước của chúng ta, tại sao bọn cộng sản có thể cướp công của dân tộc chúng ta bằng cách đánh lừa dân tộc dưới khẩu hiệu giải phóng đất nước và độc lập dân tộc.
Chính vì thế, để bắt đầu làm việc đó, tôi đã dịch hai bài viết từ báo "Izvestia", tờ báo uy tín №1 ở Nga, về việc Liên Xô đã biến hậu quả của chiến tranh thế giới thứ hai thành một phi vụ đầy lợi nhuận như thế nào, để hợp pháp hóa việc cướp bóc toàn bộ nước Đức nói riêng và Tây Âu nói chung, từ vật chất cho đến tinh thần (các nhà bác học), để trở thành siêu cường kinh tế và hạt nhân sau chiến tranh thế giới thứ Hai, và là nước đầu tiên bay lên vũ trụ...
Chí ít, trước tôi, không một người Việt nào hiểu ra điều đó và làm những việc tương tự.
Do đâu tôi nhận ra điều đó?
Trước hết, để thấy và hiểu được bức tranh toàn cảnh của bất kỳ quá trình nhân - quả nào, anh phải có triết học. Không có triết học, anh như trong không trung thiếu la bàn. Sau đó là óc quan sát và, theo thuật ngữ của tôi, khả năng bao quát chi tiết trong tổng thể. Đối với tôi chi tiết vô cùng quan trọng. Từ chi tiết tôi đúc kết ra các bức tranh hoàn chỉnh. Và, xin các anh hãy tin tôi, tất cả các cuộc tự tìm tòi của tôi, thật đáng kinh ngạc, luôn dẫn tôi tới những phát hiện mà sau đó tôi hiểu là hoàn toàn trùng lặp với các học thuyết, uy tín của những người đi trước: tôi không cô đơn ở đây.
Những người đi trước này là ai? Là những người được coi là tác giả các chủ thuyết về các vấn đề khiến tôi đang quan tâm.
Tại sao tôi tìm ra họ và ở đâu?
Ở đây vẫn lại triết học của tôi cũng giúp tôi. Tôi nhắc lại, không có triết học, các anh vẫn tăm tối ngay cả trong căn phòng rực sáng đèn điện.
Tại sao đối với tôi rất quan trọng ý kiến của kinh điển, của các uy tín, của các đại cổ thụ? Bởi tôi không phải hay chưa phải là uy tín, nên tôi rất cần tìm thấy cái chung, sự hòa đồng, điều tương tự, tiền lệ của người khác, điều chứng tỏ tôi đã đi đúng đường, con đường được kiểm nghiệm. Kiến thức của tôi dựa trên nhu cầu tìm kiếm từ bên trong, cá nhân, song tìm thấy cái chung với người khác, nó mang tính chung nhân loại, và vì thế nó đúng đắn và chính vì thể tôi nảy ra nhu cầu chia xẻ chúng với các anh ở đây.
Rất hiếm người Việt ưu việt như tôi, có thể nói hoàn toàn không ngoa dụ. Tôi còn trẻ, tôi không được như Alen Delon, song tôi rất tự tin. Tôi có học. Tôi biết thế nào là cái đẹp. Khắp nơi phụ nữ tự làm quen với tôi: trong metro, trong các siêu thị (từ khi tôi sống riêng khỏi bố mẹ, tôi phải tự mua thực phẩm), trong các sân bay, nhà ga. Tự làm quen với tôi có cả các cô gái từ Đức, Thụy Sỹ. Tôi thỉnh thoảng vẫn viết thư cho Anna từ Warsaw. Tại sao tôi kể cho các anh chi tiết đó? Thế tôi phải kể cho các anh điều gì khác? Tôi muốn nói: trước mặt các anh là một con người hoàn toàn hiện thực, sống bằng đời thực, đầy thói hư tật xấu, trần tục, song có nhu cầu sống xứng đáng với người khác. Và đây chính là điều mà bằng nó tôi luôn muốn nhấn mạnh về mình và muốn kêu gọi các anh hãy sống những cuộc đời như vậy. Các anh hãy sống như các anh đang sống, chứ không phải như các icon đạo đức giả, liệt dương tinh thần, các cháu ngoan kiểu bác Hồ. Hãy để trong tất cả các hành động sống của chúng ta còn lại vị cay đắng, xù xì, tính ngẫu hứng của đời thường, tính tự nhiên, không thiên cưỡng của nó, và chính ở đây tôi thấy nhu cầu, biểu hiện và giá trị của tự do, tự do trong thiên hình vạn trạng của sự tồn tại. Hãy biết khóc, khi lòng ta muốn thế. Hãy không sợ cười, khi tâm trạng của chúng ta là vậy.
Hãy là những đứa con của tự nhiên, của tự do.
Chỉnh sửa lần cuối bởi Vovi vào 10-05-2010 lúc 03:10 AM Lý do: Sửa
"It ain't the roads we take; it's what's
inside of us that makes us turn out the way we do."
O. Henry "The Roads We Take"
Quà của báo “Tin tức” tặng tổng thống Dmitry Medvedev - ảnh chụp phóng viên chiến tuyến Pavel Troshkin – do tổng biên tập tòa báo Vitaly Abramov trao (phóng viên nhiếp ảnh: Ekaterina Shtukina /”Izvestia”)
Dmitry Medvedev: “Chúng ta không phải ngại ngùng kể sự thật về chiến tranh, sự thật mà vì nó chúng ta đã chịu quá nhiều đau khổ”
Phóng viên phỏng vấn Vitaly Abramov
V.A.: Dmitry Anatolievich kính mến! Trước đây chúng ta quen nói: ở Liên Xô không có một gia đình nào mà chiến tranh không chạm tay vào. Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại đã để lại dấu ấn gì trong gia đình ngài?
D.M.: Tôi cũng cho câu nói đó hoàn toàn chính xác. Đó không phải câu nói mỹ miều, sáo rỗng. Chiến tranh đã động chạm tới mỗi gia đình Xô Viết ở mức độ khác nhau. Đối với một bộ phận nhân dân rất đông đảo - chiến tranh đi kèm sự mất mát người thân, đối với những người khác – là những khó khăn mà tất cả những ai sống ở Liên Xô thời kỳ đó đều phải đương đầu.
Họ hàng cả nội ngoại của tôi đều chịu tác động của chiến tranh. Cả hai ông nội (Afanasy Fiođorovich) và ngoại (Venhiamin Sergheevich) đều tham gia chiến tranh, cả hai đều trải qua những thử thách chinh chiến khác nhau. Lúc tôi còn nhỏ, mỗi lần về chơi nhà ông nội Afanasy ở Krasnodar, ông đều kể chuyện chiến tranh, khiến tôi xúc động mạnh. Ông nói chân thật, không giấu nước mắt. Ông kể những chuyện thời đó ít ai dám nói. Ông chiến đấu ở nhiều nơi, bị thương nặng, đã được tặng các huân và huy chương khác nhau. Tôi ghi nhớ các câu chuyện của ông, bởi tôi tiếp nhận chúng từ chính người ruột thịt của mình.
Và ông ngoại Venhiamin cũng kể cho tôi nghe nhiều về chiến tranh, về những cảm xúc của ông lúc đó. Tôi vẫn nhớ rõ: ông kể cho tôi nghe chuyện phải khó khăn lắm mới quen với việc bắn vào con người, những cảm giác nặng nề như thế nào khi phải hành động như thế, mặc dù hiểu là để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ những người thân khỏi kẻ thù xâm lược đất nước chúng ta, giết đồng bào của chúng ta, đốt cháy các thành phố và làng mạc của chúng ta. Đó là câu chuyện rất riêng tư mà lúc còn trẻ tôi ít nghĩ tới. Song với tuổi tác tôi hiểu ra - trận nghĩa là gì, khi mặt đối mặt với kẻ thù.
Cha mẹ tôi đi sơ tán. Mẹ tôi từng sống ở Tadzikistan, lúc đó còn nhỏ, vẻn vẹn vài tuổi, khi xảy ra chiến tranh. Mẹ tôi cùng bà ngoại sống nơi sơ tán, các ông nội ngoại ra trận. Kỷ niệm gia đình, tất nhiên, luôn tạo ra bầu không khí đặc biệt, mỗi khi chúng tôi kỷ niệm 9 tháng năm. Ví dụ, tôi luôn nhớ năm 75, khi tôi lên mười. Năm đó kỷ niệm 30 năm ngày kết thúc chiến tranh. Các cựu chiến binh phấn khởi, ai nấy đeo huân huy chương. Nhạc được bật lên, họ ôm nhau, lúc đó họ còn rất đông. Chỗ nào chúng tôi đến, bất kể tượng đài Chiến thắng hay nghĩa trang Piscariov, chỗ nào cũng thấy rất đông các cựu chiến binh, và không khí ngày hội. Kỷ niệm về những ngày đó đọng lại mãi trong trí nhớ của tôi.
V.A.: Ngài sinh ra hai mươi năm sau chiến tranh. Có nghĩa, chiến tranh đối với Ngài là một bộ phận của lịch sử, chứ không phải lý lịch. Thái độ của Ngài về lịch sử chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại đã thay đổi như thế nào với thời gian? Ai đã có thể ảnh hưởng tới sự thay đổi đó và như thế nào?
D.M.: Nó không thay đổi một cách tận gốc. Về các tiêu chí cơ bản thái độ đó vẫn như trước.
Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại có ý nghĩa gì với chúng ta? Đó là sự tấn công của cả một bộ máy xâm lược khổng lồ, những kẻ mang đến nỗi đau và chết chóc. Ở đây không thể thêm hay bớt điều gì, bất chấp thời gian bao lâu đã trôi qua. Mặc dù tôi sinh ra sau khi chiến tranh kết thúc rất lâu và thế hệ ngày nay biết về chiến tranh chỉ qua sách vở, phim ảnh, chuyện các cựu chiến binh kể, song điều này, theo tôi, là hoàn toàn hiển nhiên với tất cả những ai sống ở nước Nga.
Vì lẽ đó, chiến tranh là một phần lịch sử, song đồng thời là một phần lịch sử diễn ra cách đây không lâu, điều tôi muốn nhấn mạnh. Có thể bàn cãi rằng sự kiện này khác có thể diễn ra theo các cách khác. Song riêng về các sự kiện chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại – thì đến tận bây giờ vẫn còn sống một số lượng khổng lồ những người từng tham gia chiến đấu và là nhân chứng sống cuộc chiến đã xảy ra. Đây không phải chuyện xảy ra 200, 300 năm trước, mặc dù lúc đó cũng xảy ra các thảm họa toàn cầu, những cuộc chiến tranh lớn.
Vì thế thái độ của tôi với các sự kiện thời gian đó thay đổi một cách không tận gốc.
Tất nhiên, không ai lý tưởng hóa vai trò của Liên Xô thời kỳ sau chiến tranh. Song không bao giờ được phép gọi nạn nhân là đao phủ. Những ai đặt vai trò của Hồng Quân và phát xít Đức lên cùng một thớt là phạm tội ác đạo đức.
Tất nhiên, nhiều tài liệu chỉ được công khai hóa vào cuối những năm 80, khi các tài liệu lưu trữ bắt đầu được đăng, khi chúng ta có khả năng tiếp cận một phần các nguồn từng là tuyệt mật. Một thời gian dài chiến tranh chỉ được tung hô như chiến thắng vĩ đại của nhân dân Xô Viết và Hồng Quân. Song chiến tranh còn là một khối lượng khổng lồ các nạn nhân và những tổn thất khổng lồ mà nhân dân Liên Xô phải hứng chịu cùng các nước châu Âu khác. Có thể, về phần này, thì tất nhiên có một số thay đổi.
V.A.: Cách đây không lâu Ngài tuyên chiến tệ nạn viết lại lịch sử bằng việc thành lập một ủy ban chuyên môn. Những hành động viết lại lịch sử nào thúc đẩy Ngài làm việc đó?
D.M.: Cách xử sự đáng xấu hổ của một số nhà chính trị, những người để đạt được những mục đích nhỏ mọn, thậm chí tôi có thể gọi là tiểu nhân, của mình, bắt đầu áp dụng những cách diễn giải khoa học giả hiệu khác nhau để đơn giản gặt hái uy tín chính trị. Song sự việc không chỉ ở chỗ bác lại các nhân vật cụ thể, mà còn ở chỗ họ có quyền có ý kiến riêng của mình. Vấn đề ở tương lai của chúng ta, chúng ta sẽ để lại kỷ niệm gì về mình, con cháu chúng ta sẽ nghĩ gì, họ sẽ biết gì về chiến tranh và các bài học nào từ cuộc chiến tranh này.
Đối với thế hệ tôi và các anh, đối với những người trưởng thành và còn trẻ, những từ như “phát xít”, “đảng viên quốc xã” chỉ có thể mang ý nghĩa tiêu cực. Song , đáng tiếc, bây giờ điều đó đối với tất cả không phải như vậy. Ở nhiều nước châu Âu đang diễn ra việc phục hồi phát xít. Thậm chí ở Nga cũng có một số quái thai sử dụng biểu tượng Đức quốc xã và tụ tập lực lượng dưới những khẩu hiệu như thế. Vì thế đây không còn là vấn đề nhàm tản. Song điều quan trọng nhất – chúng ta phải đưa được sự thật đến cho con người. Vậy sự thật về cái gì?
Nhân dân chúng ta không có cuộc lựa chọn khác. Họ là những người sống vào thời điểm đó ở nước ta, - họ có thể hoặc chết hoặc trở thành nô lệ. Không có khả năng thứ ba. Và đây là một sự thật hiển nhiên. Đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai là câu hỏi ai khởi chiến và ai có tội trong chuyện đó? Đây cũng là một điều hoàn toàn hiển nhiên. Nó được công nhận không chỉ bằng hồ sơ vụ án Nuremberg Trials, trong các văn kiện, mà còn trong ký ức một số lượng người khổng lồ. Mưu toan đánh tráo các sự kiện lịch sử trông giống một ác ý.
Chúng ta phải đưa ra sự thật. Và điều này không có nghĩa phải đấu tranh với các cách diễn giải khác nhau các sự kiện chiến tranh hay với các học thuyết. Xin mời nêu ra và chứng minh những giả thiết mới, song có những bằng chứng không cần chứng minh – hoặc do tính hiển nhiên của chúng, hoặc do chúng được xác nhận bởi các văn bản quốc tế, như được tôi nhấn mạnh là các biên bản vụ án Nuremberg Trials. Về những vấn đề này thì tranh luận là không thể, bởi chúng được tiến hành theo hướng rất tồi tệ.
Nếu vào một lúc chúng ta sẽ cho rằng công việc đã kết thúc ở đây, thì ủy ban chuyên môn sẽ chấm dứt hoạt động.
V.A.: Các sự kiện ở các nước cộng hòa Baltic, Ucraine, Gruzia nói lên việc lịch sử chiến tranh thế giới thứ hai được lý giải theo cách có lợi cho một số thế lực chính trị. Tuy nhiên, không thể không tính tới sự thật lịch sử các dân tộc. Lịch sử đó khác nhau. Phải làm gì để những người hy sinh trong chiến tranh chống Đức Quốc xã được tưởng nhớ với lòng biết ơn ở mọi nơi?
D.M.: Tất nhiên, mỗi nước mỗi lịch sử. Và không thể nói rằng các sự kiện thời sau chiến tranh đều mang lại phồn vinh cho tất cả các nước được giải phóng. Tuy nhiên ở đây có một điều láu lỉnh. Chúng ta phải hiểu: nếu Liên Xô không cùng các nước khác thuộc khối chống Hitle giải phóng châu Âu, châu Âu đã hoàn toàn khác. Đó có thể chỉ là một trại tập trung khổng lồ làm việc cho một quốc gia. Đa số người châu Âu đang sống đơn giản có thể không bao giờ được sinh ra trên đời.Tôi từng nói về chuyện đó mới đây, khi chúng tôi cùng đồng nghiệp Slovakia kỷ niệm ngày giải phóng. Song, mặt khác, các sự kiện sau chiến tranh đã là phần khác của lịch sử, nó bị tư tưởng hóa tuyệt đối, và thật dễ hiểu là Liên Xô, như một nhà nước, đã theo đuổi những mục đích của mình. Liên Xô là một quốc gia rất phức tạp. Nếu nói thẳng, thì chế độ được xây dựng ở Liên Xô không thể gọi cách khác, ngoài độc tài. Đáng tiếc, đó là một chế độ chà đạp các quyền và tự do cơ bản. Và không chỉ đối với các công dân của mình (sau chiến tranh một bộ phận nhân dân, là những người chiến thắng, đã bị đưa đến tù giam tại các trại tập trung). Ở các nước XHCN khác cũng như vậy. Và, tất nhiên, không thể xóa bỏ điều đó khỏi lịch sử.
Song nghệ thuật của nhà sử học, một mặt, sự tỉnh táo lý trí của người bình thường, mặt khác, chính ở chỗ tách biệt sứ mạng của Hồng Quân và nhà nước Xô Viết trong giai đoạn chiến tranh vơí cái xảy ra sau đó. Đúng vậy, trong cuộc sống chuyện đó được phân chia rất phức tạp, song cần thiết phải làm để một lần nữa nhấn mạnh: nếu không có vai trò của Hồng Quân, nếu không có sự hy sinh khủng khiếp mà nhân dân Xô Viết phải gánh chịu vì chiến tranh, châu Âu đã hoàn toàn khác. Ai cũng hiểu là một châu Âu hiện đại, phồn vinh, thịnh vượng, giàu có, phát triển tốt có thể không có. Và tôi nghĩ, chỉ người điếc mới không nghe thấy những luận cứ này.
Tôi nghĩ, ở đây chỉ cần chúng ta đơn giản, không phải ngại ngùng gì, kể về điều đó, không phải ngại ngùng trở về những sự kiện thời kỳ đó, nói về điều đó ở khắp các diễn đàn khác nhau nhất: cả ở Nga, cả ở các nước láng giềng, các quốc gia châu Âu, cả từ diễn đàn Liên Hợp Quốc, và trong bất kỳ cuộc gặp gỡ, hội thảo nào. Không nên ngại kể sự thật về chiến tranh, sự thật mà vì nó chúng ta chịu quá nhiều đau khổ. Tôi nghĩ, như thế sẽ trung thực và đúng sự thật hơn cả.
Anh nhắc tên các nước, nơi diễn ra việc anh hùng hóa bọn tội phạm Đức Quốc xã. Điều đó rất đáng buồn. Tất nhiên, không ai lý tưởng hóa vai trò của Liên Xô thời kỳ sau chiến tranh. Song cương quyết không được gọi nạn nhân là đao phủ. Những ai đặt vai trò của Hồng Quân và phát xít Đức lên cùng một thớt là phạm tội ác đạo đức.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng về mặt này người Đức xử sự xứng đáng hơn nhiều đại diện các quốc gia Cận Baltic, mặc dù đối với họ đây là đề tài rất nhạy cảm. Mặt khác, có những bản án sau chiến tranh chưa hề bị ai hủy (và tôi tin là chúng sẽ không bao giờ bị hủy), kể cả các bản án của The Nuremberg Trials . Chính ở đó các tội ác của Đức Quốc Xã được chỉ định là tội ác chống nhân loại. Những tội ác này không có thời điểm hết hạn, và trách nhiệm về chúng phải là vô thời hạn.
V.A.: Sau những vụ án ầm ỹ mới đây xử các nguyên đảng viên Đức Quốc Xã ở châu Âu, trong xã hội xuất hiện tranh luận: có nên xử mấy người già nua hay không? Đã đến lúc ân xá tất cả những ai còn sống, thậm chí tội phạm Đức Quốc Xã, để giai đoạn đáng sợ đó mãi chìm vào quá khứ?
D.M.: Anh ngụ ý những tội ác mà vì chúng người ta xử Demianhiuk bây giờ ai cũng biết? Song sự việc không chỉ ở các tên cụ thể. Những tội ác như thế không có thời điểm hết hạn, bất kể người phạm tội là ai. Đây là vấn đề trách nhiệm đạo đức của chúng ta trước các thế hệ tương lai, và, nếu bây giờ chúng ta nhắm mắt làm ngơ những tội ác này, trong tương lai chúng có thể được lặp lại, bằng cách này hay cách khác, dưới hình thức này hay hình thức khác, ở các quốc gia khác nhau. Vì thế, điều này có thể nghe tàn nhẫn, song những tội ác này quả không có mốc hết hạn, thì những ai phạm những tội ác đó, phải bị trừng phạt, bất kể họ bao nhiêu tuổi.
Còn tiếp
Người dịch và chú dẫn: theviewingplatform
Chỉnh sửa lần cuối bởi Vovi vào 10-05-2010 lúc 03:11 AM Lý do: Chính tả
"It ain't the roads we take; it's what's
inside of us that makes us turn out the way we do."
O. Henry "The Roads We Take"
V.A.: Trong lúc ở Nga người ta viết những sách giáo khoa ít thành công nhất về lịch sử, xã hội phương Tây kịp quen với truyền thống đặt vòng nguyệt quế xuống đài tưởng niệm chiến thắng nước Đức phát xít cho quân đội đồng minh. Về việc Hồng Quân từng tiếp quản Berlin, về những tổn thất khổng lồ của Liên Xô trong chiến tranh, ở đó người ta nếu biết, cũng chỉ là các nhà sử học và chính trị. Chúng ta đang mất dần Chiến thắng của mình...
D.M.: Tôi cho rằng ở Nga về mặt này tương đối bình thường và, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau như tôi đã nói, nhìn chung không sức mạnh nào có thể thay đổi quan điểm của chúng ta về Chiến thắng.
Sự thật là quân đội Hitler chịu gần ba phần tư tổn thất là ở hướng Đông, ở Liên Xô. Gần bảy mươi phần trăm tổn thất vật chất, vũ khí là do quân đội Liên Xô gây nên cho phát xít Đức. Sự thật chính ở chỗ đó!
Hay nói chung có thể làm phim về đề tài này. Hiển nhiên, nếu đủ trình độ làm việc này (mà người Mỹ làm việc này rất giỏi), thì kết quả sẽ là chiến thắng thuộc về phương Tây và chân lý cuối cùng sẽ là phim “Saving Private Ryan”. Đây là một bộ phim hay. Song điều đó không có nghĩa là nó nói sự thật. Đây là một blockbuster về chiến tranh, mặc dù các tác giả phim có thể còn theo đuổi các thiện ý nào khác. Song chúng ta phải luôn nhớ chuyện thực xảy ra như thế nào.
Tiện đây tôi muốn nói nền điện ảnh của chúng ta, cả Xô Viết và Nga hiện đại, về mặt này, theo tôi, có trình độ rất cao. Vào thời Liên Xô, mặc dù điện ảnh bị chính trị hóa nặng và không phải lúc nào cũng chịu được thử thách thời gian, song phim thời kỳ đó tuyệt vời về chất lượng: “Đàn sếu bay”, “Nhà ga Belorusy”, “Họ chiến đấu vì Tổ quốc”. Thậm chí cả bộ phim phiêu lưu như “Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân”. Song đây đồng thời là bộ phim về chiến tranh, được làm một cách tài năng. Và chúng ta càng chiếu nhiều những bộ phim này bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu.
Phải làm những bộ phim mới. Với công nghệ điện ảnh mới. Nói chung không nên sao chép cái đã có. Tôi cho rằng ở đây cho phép các thử nghiệm. Điều quan trong để họ đạt được đích, để họ kể sự thật.
Với sách giáo khoa cũng thế. Đây là một đề tài riêng, một lúc nào đó có thể tiếp tục câu chuyện về nó. Tôi nghĩ thái độ với Chiến tranh Thế giới thứ Hai quả thực được hình thành bởi sách, ở giai đoạn, khi trẻ bắt đầu đọc. Về mặt này sứ mệnh của sách giáo khoa, sách lịch sử là hoàn toàn quan trọng. Hiện nay có nhiều công trình về Chiến tranh Vệ quốc đã được in. Những công trình này được đổi mới và bổ sung: xuất hiện các nghiên cứu mới, những chứng cớ được chứng minh, nảy sinh các đề tài tranh luận.
Song thiết nghĩ, tinh túy của các công trình dạng đó phải được đưa vào sách giáo khoa, hơn nữa phải tính tới cái mà tôi và anh vừa nói tới, tính tới khả năng không cho phép việc đánh tráo các sự kiện hiển nhiên. Bởi trẻ em, bất kể chúng sống ở đâu, ở Nga hay các nước khác, như trang giấy trắng sẵn sàng tiếp nhận kiến thức mới. Nếu ngay từ lúc bé, chúng hấp thụ thông tin không đúng, sau đó rất khó thay đổi quan điểm. Như chúng ta đều biết là nhiều công dân Nga đã bị sốc như thế nào sau một số sự kiện, khi họ được chỉ cho thấy những trang lịch sử nước nhà hoàn toàn nặng nề, đầy kịch tính, liên can tới hoạt động của một số nhà lãnh đạo nhà nước Xô Viết.
Afanasy Fiodorovich Medvedev, ông nội tổng thống Dmitry Medvedev cùng bà nội Nadezhda Vasilievna và hai người con của họ Anatoly và Svetlana. Năm 1941.
Còn tiếp
Người dịch: theviewingplatform
"It ain't the roads we take; it's what's
inside of us that makes us turn out the way we do."
O. Henry "The Roads We Take"
Video cuộc duyệt binh sáng nay tai Quảng trường đỏ.
http://en.rian.ru/video/20100509/158941685.html
Bác nào kiếm được diễn văn của TT Medvedev thì có thể post lên cho mọi người đọc. Ông này xem ra có tư tưởng và có nhân cách hơn Putin.
V.A.: Trong nhiều thập kỷ con số thương vong chính thức của Liên Xô trong chiến tranh được thay đổi nhiều lần. Liệu thống kê đau buồn này sẽ trở thành chính xác và dứt điểm một lúc nào đó?
D.M.: Đây là một chủ đề khó. Tôi còn nhớ rõ tập cuối của anh hùng ca điện ảnh “Giải phóng” kết thúc bằng một dòng chữ chạy – ai tổn thất gì trong thời gian Thế Chiến thứ Hai. Những con số đáng sợ. Và dòng cuối cùng về những thiệt hại của Liên Xô: “Số người dân Xô Viết chết là hơn hai mươi triệu”. Tất cả các con số: mười bốn triệu hay hai mươi triệu hoặc giả hai mươi bảy triệu – đều là những con số khổng lồ, nằm ngoài sức chịu đựng. Song chúng ta không thể giản lược hóa tình huống. Chúng ta phải tiến hành công việc này đến nơi đến chốn.
Đây là công việc gì? Phải xác định chính xác, chúng ta đang nói về những mất mát nào. Có những tổn thất trực tiếp trong chiến tranh – đó là những người đã hy sinh ngoài mặt trận. Có những người chết vì bị thương (cả trong và sau chiến tranh). Có những người chết trong trại tù binh, chết vì đói, vì bom, ở nơi chiếm đóng. Tất cả điều này đòi hỏi một công việc rất chính xác và công phu. Bây giờ tất cả các kho lưu trữ đã mở công khai, ở đây không còn vấn đề gì. Công việc tương tự cũng đang được tiến hành dưới sự chỉ đạo của Tổng Tham mưu, nơi có hẳn một tổ công tác đặc trách. Tôi hy vọng nó sẽ hoàn thành trọn vẹn công việc. Song chúng ta phải làm việc đó một cách thận trọng tối đa.
V.A.: Gần đây nhiều người hỏi ngài về vai trò của Stalin trong chiến thắng. “Izvestia” cũng không bỏ qua cơ hội đó. Trong ngữ cảnh nào? Đúng là Stalin đã lãnh đạo một đất nước chiến thắng phát xít. Song điều dó không cho quyền biến bạo chúa phạm tội ác chống nhân loại thành anh hùng?
D.M.: Có những sự thật hiển nhiên – người chiến thắng Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại là nhân dân chúng ta, chứ không phải Stalin và thậm chí không phải các tướng lĩnh với tính quan trọng của việc họ làm. Đúng thế, vai trò của họ hiển nhiên rất nghiêm túc, song chiến thắng chiến tranh chính là nhân dân bằng giá của những nỗ lực phi thường, giá sự sống của một số lượng người khổng lồ.
Còn về vai trò của Stalin, thì có thể đánh giá nó nhiều cách khác nhau. Có người cho vai trò của Tổng tư lệnh Tối cao là tuyệt đối, có người không cho như vậy. Vấn đề không phải ở đó, mà ở chỗ chúng ta đánh giá bản thân Stalin nói chung như thế nào. Nếu nói về sự đánh giá cấp nhà nước, về việc chính quyền chính thức nhà nước đánh giá Stalin như thế nào trong những năm gần đây, kể từ thời điểm khai sinh nhà nước Nga mới, thì ở đây có sự đánh giá rõ ràng – Stalin đã phạm vô vàn tội ác chống nhân loại. Và mặc dù ông ta làm việc nhiều, mặc dù dưới sự lãnh đạo của ông ta đất nước đạt được các thành tựu, song tội ác ông ta phạm chống nhân loại không thể được tha thứ. Đây là điều thứ nhất.
Điều thứ hai là những người yêu Stalin hay ghét Stalin đều có quyền bày tỏ quan điểm của mình. Và không có gì đáng ngạc nhiên việc nhiều cựu chiến binh, những người thuộc thế hệ những người chiến thắng có thái độ tốt với Stalin. Tôi cho rằng đó là quyền của họ. Mỗi người có quyền đánh giá riêng. Song những đánh giá riêng đó không có quyền ảnh hưởng tới những đánh giá của nhà nước. Và tôi một lần nữa vừa đưa ra những đánh giá đó.
Đôi khi có cảm giác đề tài này bị khai thác quá tải. Nếu nói về thái độ về Stalin và một số nhà lãnh đạo khác, thì ngay những năm 90 có không ít những người sủng bái nhân vật này, song không ai nói về sự khôi phục chủ nghĩa Stalin. Song bây giờ người ta rộ lên nói. Đúng thế, các nhân vật lịch sử có thể trở thành đối tượng ngưỡng mộ, thần thánh hóa. Đôi khi người làm việc đó là chính thanh niên, đặc biệt thanh niên Tả khuynh. Song đó suy cho cùng là việc riêng của họ. Còn hiển nhiên đối với tuyệt đại đa số con người trên thế giới hình ảnh Stalin là rõ ràng, nó không gợi nên bất cứ tình cảm ấm áp nào.
Song không bao giờ có thể nói rằng chủ nghĩa Stalin đang trở lại đời sống hàng ngày của chúng ta, rằng chúng ta khôi phục lại biểu tượng chế độ cũ, rằng chúng ta chuẩn bị sử dụng những khẩu hiệu nào đó, và bao nhiêu thứ nữa. Tất cả những cái đó sẽ không bao giờ có. Điều đó tuyệt nhiên bị loại bỏ. Và đây, nếu các anh muốn, chính là hệ tư tưởng nhà nước hiện nay và sự đánh giá của tôi như Tổng thống Liên bang Nga. Vì thế trong vấn đề này tôi luôn tách rời đánh giá chính thức của nhà nước khỏi những đánh giá cá nhân.
V.A.: Đmitry Anatolievich, Ngài, như một nhà chính trị, có thể giải thích như thế nào việc Stalin suốt cả một năm làm ngơ nhiều cảnh báo về âm mưu xâm lược của nước Đức?
D.M.: Anh biết tôi không phải nhà sử học. Mặc dù như bất kỳ nhà chính trị nào, như bất kỳ người nào đứng ở vị trí lãnh đạo nhà nước, tôi tất nhiên rất quan tâm tới lịch sử đất nước.
Tôi không thể tự ý khẳng định tại sao ông ta làm ngơ, mặc dù về đề tài này người ta đã viết không ít sách và làm không ít phim. Tôi nghĩ, ông ta đơn giản muốn là không thể xảy ra nguy cơ đó. Ông ta tin rằng những hiệp ước này nọ của ông ta sẽ không bị bội ước bởi Arthur Neville Chamberlain và Édouard Daladier , khi ký hiệp ước Munich Agreement. Song, như đã biết, họ ký cái họ không có ý định thực hiện. Sir Winston Leonard Spencer-Churchill từng có câu nổi tiếng về việc họ kén cá chọn canh giữa một bên là nỗi nhục bội ước với một bên là chiến tranh, song họ thoạt tiên nhận nỗi nhục bội ước, và sau đó vẫn là chiến tranh.
Với Stalin cũng thế - cuộc lựa chọn đầy khó khăn. Ông ta tính trì hoãn ngày xảy ra kết quả nặng nề này. Ở đâu đó, có thể, ông ta đã tính sai. Song rõ ràng là do hậu quả của đánh giá sai lầm đó đã buộc phải trả giá. Và cái giá thì khủng khiếp: đó là sinh mạng của đồng bào chúng ta. Dù sao chăng nữa, như chúng ta biết, lịch sử không biết giả định thuyết.
Venhiamin Sergheevich Shaposhnhikov, ông ngoại tổng thống Dmitry Medvedev
Đây là đề tài rất tinh tế. Tôi nhấn mạnh, đây đã không phải sự đánh giá Stalin như một cá nhân chịu trách nhiệm trước nhân dân Nga và lúc đó là Liên Xô, mà là sự đánh giá Stalin như nhà lãnh đạo thời kỳ đó. Ông ta có những giải pháp yếu, cũng như có những giải pháp rất mạnh, trong đó có cả thời kỳ chiến tranh. Không thể bác bỏ điều này được.
Mặt khác, đúng là ai cũng hiểu, để đề phòng chiến tranh với Hitler nước ta có thể chuẩn bị trước, kỹ lưỡng hơn, nếu không diễn ra việc thanh trừng các nhà lãnh đạo quân đội, nếu không nuôi ảo tưởng rằng Hitler không đời nào tấn công Liên Xô giai đoạn đó.
V.A.: Bất cứ cuộc chiến tranh nào suy cho cùng là bài học khó khăn cho cả người thắng lẫn kẻ thua. Tương lai của đất nước phụ thuộc nhiều vào việc các nhà chính trị lĩnh hội bài học đó như thế nào. Cá nhân Ngài, vị Tổng thống thứ Ba của nước Nga, rút ra những bài học gì từ lịch sử chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại?
D.M.: Bài học quan trọng nhất là ở chỗ chúng ta phải cùng các nước khác, các thành viên khác của cộng đồng thế giới cố gắng loại bỏ những nguy cơ như thế. Ý tưởng thuyết phục kẻ xâm lược, nhà độc tài từ bỏ dã tâm, như một quy luật, không bao giờ mang lại kết quả tích cực, đặc biệt khi tên độc tài này đã có đủ sức mạnh và đang say men hiếu chiến. Vì thế nhiệm vụ của chúng ta hôm nay là xây dựng một hệ thống an ninh quốc tế ổn định. Nhiệm vụ đó là gì? Là tiếp xúc thường xuyên với thế giới và xây dựng những khuôn khổ quốc tế cho việc giải quyết những vấn đề như thế.
Loài người đã rút ra những bài học đầy thích đáng sau Thế chiến thứ Hai, và chúng ta có một công cụ quốc tế rất quan trọng. Ví dụ, tổ chức Liên hợp Quốc. Chúng ta có các tòa án quốc tế. Chúng ta có nhiều công ước quốc tế nhằm mục đích trừng phạt tội chống nhân loại gây nên bởi tội phạm quốc tế.
Song mặt khác, hệ thống an ninh quốc tế hiện nay không hoàn thiện, điều tôi nhiều lần buộc phải nói đến. Chính vì thế mới xuất hiện đề nghị của chúng ta xây dựng một cấu trúc an ninh châu Âu mới – Hiệp ước an ninh châu Âu. Tính tức thời của nó đã trở nên rõ như ban ngày, mặc dù nó gây phản ứng khác nhau. Ai đó cho rằng đây là trò bịa đặt láu lỉnh của những người Nga láu lỉnh nhằm mục đích làm Mỹ suy yếu, chia rẽ Mỹ và các nước châu Âu, chơi trò chơi nào đó của mình. Còn tôi đã nhiều lần nói rằng hiệp ước này theo đuổi những mục đích hoàn toàn khác. Chúng ta đơn giản phải tìm được một mặt bằng nơi có thể tựu trung tất cả các vấn đề khác nhau. Chúng ta phải tìm được phương thức giải quyết mâu thuẫn.
Rõ ràng là nếu chúng ta có những cơ cấu an ninh châu Âu hữu dụng, thì, có thể, những sự kiện xảy ra tháng Tám 2008 đã có thể tránh được. Có thể, một tòa án quốc tế nào đó đã diễn ra giữa các tỉnh của Gruzia muốn tự trị và Gruzia còn lại. Có thể, các cơ chế quốc tế đã được đưa vào sử dụng. Tất cả chuyện đó đã không xảy ra. Xảy ra cái khác, cái đau buồn – người chết, xung đột vũ trang, buộc phải giải quyết nó.
Vì thế, nhiệm vụ đảm bảo an ninh trên lục địa Âu không phải trừu tượng và không mang tính xã giao, nó hoàn toàn thực tế. Tôi nghĩ, những người đi trước chúng ta đã nghĩ về điều tương tự vào những năm 30, song họ không đủ dũng cảm thông qua các quyết định thích hợp. Kết quả ai cũng biết – cuộc chiến tranh khốc liệt, đẫm máu nhất trong lịch sử loài người. Chính vì thế chúng ta phải xây dựng các cơ chế quốc tế hiện đại.
Như chúng ta biết, sau chiến tranh, năm 1975, đã xuất hiện Hiệp ước An ninh và cộng tác Helsinki ở châu Âu. Song thời gian không dậm chân tại chỗ. Nhiều thời gian đã trôi qua từ thời đó. Phải làm gì? Phải xây dựng những khung mới, không bác bỏ cái cũ, vận dụng kinh nghiệm hiện đại.
Còn tiếp
Người dịch và chủ giải: theviewingplatform
Chỉnh sửa lần cuối bởi Vovi vào 10-05-2010 lúc 02:32 AM Lý do: Chính tả
"It ain't the roads we take; it's what's
inside of us that makes us turn out the way we do."
O. Henry "The Roads We Take"
V.A.: Cấu trúc châu Âu và Xuyên Đại Tây Dương cuối cùng được hình thành vào năm 1975, 30 năm sau chiến tranh. Song sau đó không lâu, vào năm 1989, Công ước Helsinki bắt đầu bị vi phạm. Từ đó bản đồ châu Âu thường xuyên thay đổi. Nhiều người cho quá trình này là thất bại của Liên Xô, biểu hiện sức yếu của nước Nga mới. Ngài có thể nói gì về chuyện đó?
D.M.: Trong bất cứ trường hợp nào, chuyện xảy ra 14-15 năm sau khi ký Công ước Helsinki đã giúp liên kết châu Âu. Đó là một.
Điều thứ hai là việc chấm dứt “chiến tranh lạnh”. Mà trong chiến tranh lạnh, về thực chất, tất cả đều thua. Việc nó chấm dứt thực chất là thắng lợi của tất cả, bởi không còn sự đối đầu như trước, không còn đe dọa chiến tranh trực tiếp, không còn căng thẳng trong bầu không khí châu Âu. Các dân tộc tự do giao tiếp, đến chơi nhà nhau. Về tổng thể chúng ta đang sống trong một châu Âu khác, và trong thực tế đúng là như thế. Song, tất nhiên, các sự kiện thời gian đó quá bi đát đối với nhiều nước châu Âu và nước Nga trong số đó. Là một phần của quốc gia Xô Viết rộng lớn, tất cả chúng ta trải qua thời kỳ tan rã đất nước khổng lồ đầy kịch tính và sự hình thành các quốc gia mới, trong đó có nước Nga hiện đại. Đây là một quá trình rất phức tạp.
Tất nhiên, mỗi người có cách đánh giá riêng chuyện đó: người thì cho chuyện đó mang tính nhục mạ với đa số nhân dân, người thì thấy trong đó điều tích cực. Tôi nghĩ chỉ lịch sử có thể có đánh giá cuối cùng thời kỳ đó. Chỉ có điều nếu người ta luôn tự suy diễn, thì chúng tôi trực tiếp tham gia các sự kiện ở các mức độ khác nhau. Dù chúng ta có thái độ thế nào với chuyện xảy ra, đó là những sự kiện vô cùng bi đát.
V.A.: Kể từ khi “bức màn sắt” không còn nữa, ở Nga thường có thể nghe thấy câu hỏi cay đắng: tại sao người chiến thắng sống tồi hơn những người thua trận? Trong suốt hai mươi năm qua không một nhà chính trị nào trả lời được nó.
D.M.: Tôi không thể chịu trách nhiệm về tất cả những gì xảy ra ở nhà nước ta từ thời điểm chấm dứt chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, bởỉ về mặt pháp lý và tinh thần tôi chỉ chịu trách nhiệm về giai đoạn mà tôi được trao vinh dự và trách nhiệm lãnh đạo quốc gia của chúng ta. Song, tất nhiên, như một người từng sống ở Liên Xô và hiện sống ở nước Nga, tôi có quan điểm của mình về vấn đề này. Quan điểm đó như sau:
Liên Xô đã đạt được mục đích quan trọng nhất trong thời kỳ chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại là chiến thắng một kẻ thù rất mạnh, tiêu diệt nó và xây dựng điều kiện cho châu Âu tự do phát triển. Liên Xô đã đạt được mục đích đó bằng cái giá của những hy sinh khủng khiếp.
Tiếp theo Liên Xô đi bằng con đường của mình. Sống trong nó là một xã hội rất khắc nghiệt, về thực chất, độc tài, không cho phép nhiều quá trình kinh tế phát triển, chà đạp nhân quyền. Điều đó dẫn tới nhiều bất công và tất cả những gì liên quan tới độc tài.
Vì vậy, thời kỳ đó, tôi xin nhấn mạnh đây là đánh giá của tôi, thật đáng tiếc, không được tận dụng triệt để (bất chấp việc chúng ta đã khôi phục lại được nền kinh tế, chúng ta đã tạo ra được lượng trữ đáng kể để phát triển công nghiệp). Có thể phát triển quốc gia và nền kinh tế của nó theo cách khác, như cách chúng tôi làm đã hai mươi năm qua. Thời kỳ sau chiến tranh là thời kỳ của những thành tựu vĩ đại, song cũng là thời kỳ của những thử thách lớn lao, những vấn đề phức tạp. Tôi không cho rằng cấu trúc kinh tế tồn tại thời kỳ sau chiến tranh, cũng như chế độ chính trị lúc đó là thích hợp để phát triển bình thường. Chính do nguyên nhân này mà nảy sinh sự khác biệt về mức sống, về thái độ khác nhau của nhân dân đối với chế độ. Một thời kỳ đầy tủi nhục. Những cảm xúc như thế tất cả chúng ta đều cảm thấy, đặc biệt, khi lần đầu tiên ra nước ngoài. Song chúng ta đều hiểu sự phồn vinh châu Âu được tạo ra bằng cái giá như thế nào, sự thừa thãi vật chất, những quầy hàng lộng lẫy, những người dân sung túc, những nụ cười trên các khuôn mặt. Và chúng ta đã không tìm ra được câu trả lời thích đáng nhất cho câu hỏi: tại sao mọi sự ở nước ta không như thế.
Tuy nhiên cũng không nên bôi đen thời kỳ này: ông cha chúng ta từng sống và làm việc lúc đó , và cả chúng ta nữa. Từng có nhiều trang sử tươi sáng trong đó. Song, quả thực, đất nước thời kỳ đó đã không thể giải quyết được hàng loạt nhiệm vụ. Và cũng xin nói luôn, đây là nguyên nhân chính dẫn tới việc Liên Xô chấm dứt sự tồn tại.
Nếu Liên Xô tỏ ra có tính cạnh tranh hơn, nếu nó tạo ra được những điều kiện để phát triển nhân cách, cũng như kinh tế theo những nguyên tắc hiện đại, thì Liên Xô có thể có số phận khác, có thể hấp dẫn hơn với chúng ta. Và lúc đó đã không xảy ra những sự kiện đầy kịch tính cuối những năm tám mươi, đầu chín mươi.
V.A.: Người dân đến tận giờ vẫn chưa hoàn toàn có khả năng tiếp cận một khối lượng khổng lồ các tài liệu chiến tranh. Đã đến lúc vi tính hóa chúng hay chưa? Khả năng nhận hay chỉ là cho biết yêu cầu qua internet (như cách người ta làm trên website về dịch vụ và đơn đặt hàng của nhà nước) có thể cho phép nhiều người biết được về số phận người thân, giúp họ viết sử gia đình mình.
D.M.: Thời điểm đó đã đến và chúng ta đã đang làm như thế ở khắp nơi. Tôi bản thân là người hâm mộ công nghệ số. Chúng rất tiện để lưu trữ lượng thông tin lớn. Trước đây, nếu để nhận được tài liệu nào đó, phải cầm một quyển sách to, đào bới, ghi chép. Việc này có nhiều ưu điểm, bởi một cách vô tình hay hữu ý con người làm quen với một loạt các tài liệu hay được trình bày trong sách hay tập tài liệu nào đó ở đấy.
Bây giờ việc đó trở nên đơn giản hơn: chỉ cần cất tập tài liệu trong một địa chỉ mạng nào đó, cũng như chỉ cần đánh trên phím chữ thông tin cần tìm – và ngay lập tức anh nhận được thông tin. Thật tiện lợi! Và chúng ta phải làm như thế, làm việc đó một cách công khai, xóa con dấu tuyệt mật khỏi các tài liệu thời kỳ đó. Sáu mươi năm trôi qua là đủ rồi, và nhân dân phải biết sự thật về chiến tranh, cũng như các sự kiện thời kỳ khác.
Chúng ta có thể nhớ lại thời kỳ trước chiến tranh, cũng như các sự kiện lúc bắt đầu chiến tranh. Chúng ta sẽ nói về chuyện gì xảy ra ở Katyn. Đây là một trang sử đen tối. Hơn nữa lại một trang đen tối song sự thật về nó không được nói. Đến tận nay, như tôi thấy, người ta một cách nghiêm túc nhất tiếp tục tranh luận về việc ai là người thông qua quyết định tử hình các quân nhân Balan. Mặc dù các tài liệu về chuyện đó đã được công khai hóa, song tôi một lần nữa đã ra chỉ thị đưa chúng lên mạng. Song người ta vẫn tranh luận. Tại sao? Bởi đề tài này từng bị giấu – là lý do thứ nhất, và thứ hai là nó được công khai hóa theo cách hoàn toàn tráo trở. Và đây chính là trường hợp giả mạo lịch sử! Bởi giả mạo lịch sử không chỉ là những người ngoài cuộc, không chỉ những người sống ở các nước khác. Bản thân chúng ta cũng ngụy tạo lịch sử. Và sự thật suy cho cùng phải được chỉ cho biết không chỉ công dân của chúng ta, mà cả người nước ngoài quan tâm.
Đây chỉ là một trang lịch sử, song có lẽ là trang rất quan trọng. Vì thể càng có nhiều tài liệu lưu trữ được công bố công khai trên mạng bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu. Suy cho cùng, tôi cho rằng chúng ta cần tạo ra một hệ thống lưu trữ tài liệu chiến tranh cho phép bất cứ công dân Nga nào và bất kỳ người nước ngoài quan tâm nào tự do lấy được mọi giấy tờ đã được xóa triện tuyệt mật, và bây giờ đã đến lúc hành động như thế với tất cả các tài liệu.
V.A.: Dmitry Anatolievich, liên minh chống Hitler đã liên hợp được các nước tưởng như không thể liên hợp về cấu trúc. Sự liên kết theo khối đã giúp chiến thắng một kẻ thù hùng mạnh và có tổ chức tốt. Chính sách các khối được áp dụng sau đó. Nước Nga hiện nay chỉ vào khối Collective Security Treaty Organisation có lực lượng vũ trang không thể so sánh được với NATO. Liệu nước Nga có thể vào một liên minh quân sự nào khác?
D.M.: Theo quan điểm của tôi, việc “chiến tranh lạnh” chấm dứt và hết thời của tư duy liên minh đã giúp thống nhất châu Âu, nhận được một châu Âu, nơi có thể sống tiện nghi và thú vị đến đó. Ý tôi muốn nói cả Tây Âu, cả Đông Âu, cả Liên bang Nga. Hệ thống liên minh khối không dẫn tới điều gì tốt đẹp. Mặc dù có quan điểm cho rằng nếu có các khối, sẽ có cân bằng. Ví dụ, từng có khối Warsaw Pact và NATO, và tất cả trong trạng thái cân bằng. Song một khối biến mất, bắt đầu chiến tranh, bắt đầu vẽ lại bản đồ. Đó là lập trường phiến diện, mặc dù, sự có mặt của các đối trọng trên thế giới hiển nhiên là cần thiết. Vấn đề ở chỗ những đối trọng này là gì, chúng phải thế nào, chúng nhất thiết phải có nền tảng vũ khí hay không, chúng có phải chỉ nhằm hạn chế chiến lược . Quan điểm của tôi là không.
Chính vì thế chúng ta mới nói về thế giới đa cực, bởi trong trường hợp ngược lại sẽ phải kết luận rằng chỉ một hệ thống an ninh khối có khả năng bảo đảm hòa bình và phồn vinh trên hành tinh chúng ta. Song không phải như thế. Các sự kiện những năm 90 - ở châu Âu, ở Cận Đông, ở Caucasus, ở các nơi khác chỉ ra rằng: không một khối nào bằng cách như vậy có thể giải quyết được các nhiệm vụ của mình và an ninh, đáng tiếc, nó không thể đảm bảo được ở mức cần thiết. Chính vì thế mới cần xây dựng những cơ chế có thể làm việc trong chế độ ngoài khối.
Song chúng ta có bổn phận đối tác: có Collective Security Treaty Organisation – tổ chức “Hiệp ước an ninh tập thể, mà thành phần của nó là các quốc gia gần gũi với chúng ta. Đây không phải là khối quân sự theo nghĩa truyền thống của từ này, song đây là tổ chức có nhiệm vụ bảo đảm an ninh các quốc gia liên hợp lại. Tôi xin nhắc là theo Cương lĩnh của Hiệp ước này và tổ chức tương ứng, việc tấn công một nước được coi là tấn công tất cả, giống NATO. Song điều đó không có nghĩa là chúng ta phải trở lại tư duy khối và cố biến CSTO thành Warsaw Pact mới, bơm vào nó vũ khí, lực lượng và mãi mãi chạy đua với NATO. Chúng ta biết sự cạnh tranh này đã tác động thế nào tới Liên Xô, cuộc chạy đua vũ trang đã khiến nước ta kiệt quệ như thế nào và điều đó đã dẫn tới kết quả gì: nền kinh tế không hiệu quả, chạy đua vũ trang bất tận, nhà nước tan rã.
Tất nhiên, chúng ta phải giữ được các khả năng chiến lược của mình. Thế giới phức tạp, một loạt các nước muốn có vũ khí hạt nhân, ai đó thử vũ khí mới. Vì thế chúng ta không thể lãng quên an ninh. Vũ khí hạt nhân chiến lược của chúng ta là công cụ quá đỗi hiệu quả để bảo vệ các quyền lợi quốc gia. Chúng ta không cần phóng đại giá trị của nó, song cũng không được coi thường các khả năng và ảnh hưởng của nó tới cục diện các lực lượng. Chúng ta phải hoàn thiện hệ thống phòng thủ của mình và đồng thời thỏa thuận với các đối tác chính của chúng ta, điều chúng ta làm suốt thời gian qua, kể cả khi ký với người Mỹ Hiệp ước hạn chế vũ khí tấn công chiến lược. Bằng cách đó chúng ta đạt được thỏa hiệp, điều cho phép chúng ta bảo vệ quyền lợi của chúng ta, cho người Mỹ bảo vệ quyền lợi của họ và đồng thời không phá vỡ tình huống xung quanh. Tôi cho rằng con đường này là đúng nhất.
Còn tiếp
Người dịch và chú dẫn: theviewingplatform
"It ain't the roads we take; it's what's
inside of us that makes us turn out the way we do."
O. Henry "The Roads We Take"
càng ngày càng thấy con người càng phải nhìn nhận lại mọi thứ, cần phải thay đổi, để mà dễ tha thứ cho nhau, bảo vệ một thời kỳ lịch sử và con người được êm đẹp, để dễ sớm bước vào một thời kỳ hòa bình hơn.
con người phải có ước mơ, và hãy ủng hộ ước mơ của chính mình cũng như của người khác.
Khát vọng hòa bình.
chiến tranh là một tội ác. Nhưng hoàn cảnh lịch sử là biện minh.
và thay đổi để tiến bước.
em thấy rằng mình không đủ học thuật để đánh giá dựa trên những sự kiện của quá khứ, trong bối cảnh của riêng vn. Chỉ mong một điều là nhìn nhận về vấn đề của vn cần phải bao dung hơn bởi sự chia rẽ.
những người như theWF, như dr tran mặc dù làm mọi người phía trong nước sốc và phản cảm như vừa qua, nhưng khi em cố theo dõi và vứt bỏ ấn tượng ban đầu, nhìn nhận về sự việc và không gian, thời gian, thì em nhìn ở một góc độ nào đó, thấy thực lòng có tâm, còn cách thức thì dựa trên sự tưong phản và lý lẽ rõ rệt, dù ban đầu làm em thực sự shock khi bị chạm đúng vào quan niệm, niềm tin mà mình hình thành được.
hy vọng anh tqvn2010tự tin và kiên trì hơn, lão gấu bear gì đó và mọi người có niềm tin hơn và bớt cực đoan đi. bởi kẻ xấu ngoài kia đầy rẫy thì lại không cảnh giác, lại cảnh giác với mấy người này từ những bài viết "viết vậy mà không phải vậy (trong thực tế)" là không nên là không nên.
riêng mình tin ngoài đời, n~ dr tran, theWF sẽ là n~ người xung phong trước góp sức cho đổi mới trong hòa bình.
Tự do đúng là Muôn năm!
Khi có tự do trong tư tưởng, thì mới bước được qua một chướng ngại vật vô hình nào đó tự mình có (n~ mối liên hệ gia đình, xã hội mình được sống).
có tự do thì mới có đất cho sự sáng tạo.
X-cafe đã sinh ra vì điều đó, nên giữ gìn vì điều đó, và xứng đáng tồn tại vì điều đó.
Hy vọng những người trong nước vượt qua được ý niệm chủ quan của bản thân về phía đối diện.
Nếu ngoài đời đã biết về nhau, thì chí ít là phải có niềm tin vào nhau!
Thế giới quả thật là rộng lớn, và có quá nhiều việc mọi người để quên!
đúng là nhiều lúc tự mình phải tự khai sáng lại mình, điều đó cũng cực kỳ có ích.
Vậy tại sao các bạn không ủng hộ lẫn nhau???
em xin phép lan man tí![]()
V.A.: Thời “Perestroyka”, khi người Xô Viết mở cửa nhìn vào thế giới, có cảm giác rằng nền văn minh đã trưởng thành, cấu trúc thế giới đã vững chãi và sẽ không có chuyện gì tương tự chiến tranh thế giới thứ Hai sẽ xảy ra. Song đã hai mươi năm trôi qua. Và thế giới lại bị giằng xé bởi những mâu thuẫn. Theo Ngài, liệu có khả năng, dù chỉ là phỏng đoán, lặp lại xung đột quy mô tương tự chiến tranh thế giới thứ Hai?
D.M.: Đáng tiếc, khả năng xung đột như thế là có và điều đó liên quan tới việc tồn tại rất nhiều nước khác nhau với những quyền lợi rất khác nhau. Trên hành tinh có một khối lượng khổng lồ vũ khí, có những người đến tận bây giờ vẫn nhìn nhận chiến tranh với tư cách công cụ giải quyết các vấn đề chính trị của mình. Cuối cùng, có cả sự tình cờ. Vì thế chúng ta phải sẵn sàng cho tình huống đó. Cái gì cần cho việc đó?
Tôi đã nói về việc này: cần làm việc trong khuôn khổ cộng đồng quốc tế, trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc, trên lục địa châu Âu trong khuôn khổ OSCE, ký các hiệp định mới tương tự Hiệp ước an ninh châu Âu. Chúng ta đang và sẽ tiệp tục làm việc này.
Và tất nhiên chúng ta phải rất mạnh. Chúng ta phải sẵn sàng cho tình huống xuất hiện các vấn đề nào đó. Đây là một điều bất di bất dịch. Dù chúng ta yêu hòa bình đến thế nào, chúng ta luôn phải trong tư thế sẵn sàng bảo vệ đất nước. Và đây là các lực lượng vũ trang, đây là sự quan tâm tới quân đội, xây dựng vũ khí hiện đại, đây là những điều kiện sống và trả lương lao động bình thường cho quân nhân, là quân đội có hiệu quả, năng động, song mạnh và được huấn luyện tốt, nơi những sỹ quan và binh lính được huyến luyện tốt phục vụ. Tất cả những thứ đó là mệnh lệnh tuyệt đối, là quyền ưu tiên vô song của xã hội chúng ta. Là Tổng tư lệnh Tối cao, tôi đã và sẽ dành sự quan tâm tối đa nhất cho việc đó, bởi nếu không chúng ta có thể yếu trước nguy cơ xuất hiện.
V.A.: Thời Liên Xô “chiến tranh lạnh” bất tận được lĩnh hội như điều khó chịu, dù hiện tượng thật dễ hiểu – cuộc đấu tranh của hai hệ thống chính trị đối lập. Đã hầu như hai mươi năm không còn cả Liên Xô lẫn chủ nghĩa cộng sản, song “chiến tranh lạnh” vẫn tồn tại. Tại sao Mỹ và nhiều nước khác vẫn không tin nước Nga?
D.M.: Tôi sẽ còn nói cho anh nghe hơn nữa: cả ở nước ta người ta cũng không tin cả Mỹ lẫn các nước khối Bắc Đại Tây Dương, một số cường quốc khác trên thế giới. Điều này liên quan tới cái gì? Nó liên quan tới lịch sử của chúng ta, cách chúng ta lĩnh hội nhau. Tất cả chúng ta đều nhớ chuyện gì đã xảy ra thời Xô Viết. Đây là một chuỗi quan điểm, khái niệm về nhau. Anh thử nhớ lại ở trường người ta đã nói gì cho chúng ta nghe về người Mỹ, người châu Âu! Đây là một lập trường tuyệt nhiên mang tính tư tưởng hệ. Nó không đúng hay, trong bất kỳ trường hợp nào, không phải đúng trong mọi sự. Nó theo đuổi những mục đích hoàn toàn cụ thể, đẻ chúng ta nhìn những người sống ở đó như những kẻ thù của chúng ta. Đây là phương pháp đảm bảo tính hiệu quả lãnh đạo trong một nhà nước, đồng thời đạt được những mục đích chính trị nào đó.
Ở các nước đó cũng y như thế. Và theo tôi, nếu nói về tình huống hiện tại, thì nó vẫn giữ trong mình những đặc tính các giáo điều cũ. Điều này đặc biệt điển hình với thế giới phương Tây. Bởi, nếu nói thẳng, nhiều người ở nước ta thời kỳ cuối những năm 80, đầu những năm 90 rất khao khát lối sống mới. Và đã từng có giai đoạn lãng mạn như thế trong mối tương giao với phương Tây. Chúng ta từng cho rằng người ta đợi chúng ta, rằng chúng ta cởi mở, hiện đại, đã không còn đe dọa ai, chúng ta sẽ nhanh chóng và đơn giản hòa vào loạt các quốc gia phát triển văn minh khác.
Còn tiếp
Người dịch và chú dẫn: theviewingplatform
"It ain't the roads we take; it's what's
inside of us that makes us turn out the way we do."
O. Henry "The Roads We Take"
There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)