|
#41
|
|||
|
|||
|
Ngày hôm nay thì Sài Gòn không còn là một "khoảng trống chánh trị" nữa mà là một "bãi sa mạc chánh trị" nơi đó những "con ma" của CPLTCHMN được chờ đợi như một ảo tưởng. Thật vậy, cái CPLTCHMN đã từng bị tàn sát trong cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân (1968) chỉ là một con chim mồi không hơn không kém, cũng giống như cái gọi là "lực lượng thứ ba Việt Nam không cộng sản"... tất cả đều không ai nắm bắt được hết, và cũng không thể đại diện cho ai hết, nhưng chánh sách ngoại giao Pháp đã quá khờ dại dựa trên đó để đặt niềm hy vọng bảo vệ quyền lợi của nước Pháp . Không còn nghi ngờ gì nữa, quyền hành thật sự đang ở trong tay của Quân đội Nhân Dân Bắc Việt . Và tướng Trần văn Trà người "chủ" mới của Sài Gòn cũng chỉ là một công cụ của quyền hành đó mà thôi.
Vào ngày thứ năm 15 tháng 5, một cuộc diễn binh rầm rộ đã nói lên sức mạnh quân sự của những kẻ thắng trận. Dẫn đầu , đi sau một con rồng đỏ đang uốn khúc tượng trưng cho niềm vui và hạnh phúc, là các em nữ sinh rất ngoan với quần đen áo dài trắng, rồi đến các phái đoàn dân chúng mang biểu ngữ nhăng nhít đầy khẩu hiệu. Sau đó đến các trung đoàn thép của Bắc Việt đi thành một khối :các "bộ đội đi hàng mười, có bước đi như ngỗng, súng mang choàng qua cổ, mặt lạnh lùng. Kế tiếp là các chiến xa đi thành hình vuông, đồ sộ , ồn ào, các xe ra đa, các thiết giáp xa và hàng trăm khẩu pháo binh cơ giới hóa, và những giàn hỏa tiễn. Tất cả pháo binh Liên Xô ghê gớm đó lẽ ra đã bắn 70.000 quả đạn (3000 cho mỗi khu) và 6000 quả rốc kết để nghiền nát thành phố, nếu thành phố nầy không đầu hàng. Đó là một cuộc trình diễn vĩ đại của chiến xa T.54, của hỏa tiển S.A.M. 6 và S.A.M. 7... những chiếc "Kalachnikov", những chiếc "Molotova" và những cỗ pháo 130 ly kinh hoàng. Các phi cơ Mig 19 và 21 gầm rú trên bầu trời. Nhưng điều phải thấy trên hết và được thấy trước nhất phải là : chiến thắng của những người Bắc Việt (nguyên tác: Tonkinois). Ở giữa rừng người đang liên tiếp đi tới như những làn sóng lớn... họa hoằn chịu khó lắm người ta mới nhận thấy được một vài xe vận tải chở đám "du kích quân" của "M TGP MN" và một xe Jeep chở nữ binh mặc đồ đen và đội nón "tai bèo" nhỏ. Các hàng ghế danh dự trên khán đài được dành cho phái đoàn 12 "anh lớn" dẫn đầu là 3 nhà lãnh đạo trong Chánh Trị Bộ cộng sản : ông Tôn Đức Thắng, Chủ Tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, ông Lê đức Thọ, và tướng Văn tiến Dũng, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân đội Bắc Việt . Chủ Tịch Tôn đức Thắng hôm nay phải là người có một niềm vui thật lớn. Ông gốc người Miền Nam , sanh ở Long Xuyên, 85 tuổi, từng là một người nổi loạn ở Hắc Hải, một người thợ điện cũ của hãng Renault, nay là một ông lão trượng mệt mỏi và gần như điếc, được huân chương Lê Ninh, là một người đã có một quá khứ đấu tranh cách mạng hơn nửa thế kỷ . Vào năm 1927, chính ông là người đã thành công trong việc đánh cướp đầu tiên cho đảng cộng sản Đông Dương trên đường sông khi ông cầm đầu một toán đeo mặt nạ dùng súng lục chận cướp chiếc tàu đò Mỹ Tho. Ông bị bắt và bị kết án tử hình năm 1929, sau đó được ân xá giảm án xuống còn 16 năm tù giam ở Côn dảo trước khi vượt ngục năm 1945 để tiếp tục cuộc đấu tranh, Ông Lê đức Thọ, một thương thuyết gia bền bỉ của Hiệp Định Ba Lê và lý thuyết gia của đảng cộng sản Việt Nam , là một nhân vật được biết nhiều ở Tây phương . Tướng Văn tiến Dũng, người chiến thắng trong cuộc tổng tấn công khắp Miền Nam , là người chỉ huy của tất cả lực lượng vũ trang Bắc Việt từ sau khi tướng Võ nguyên Giáp bị lu mờ (2). Người béo lùn, cương nghị và bí mật, tướng Dũng là một người Bắc Việt chính cống, gốc ở tỉnh Nam Định giàu có. Là một người từng tham gia hết mọi chiến trận, cựu quân ủy trung ương, một người cộng sản trung kiên và một chủ chiến không chối cải được .. ông là một trong những nhân vật lãnh đạo chủ chốt của chế độ Hà Nội . Ông không quá kiêu ngạo và với một trình độ văn hóa kém hẳn ông Võ nguyên Giáp, con người tự học bền bỉ nầy đã chuẩn bị hành động có tính cách quyết định số phận của Miền Nam . Ông là người đã thành lập một sư đoàn đặc công để thi hành một trọng trách là làm tan rã hệ thống tiếp vận của địch quân, và là người đã biết xử dụng hợp đồng binh chủng giữa chiến xa và pháo binh của mình một cách toàn hảo. Sự có mặt của ba nhân vật nầy ở Sài Gòn đã mang lại cho buổi lễ "giải phóng" nầy một biểu tượng rất có ý nghĩa : "ánh sáng nầy đã đến từ Hà Nội" . Dù muốn dù không thì tương lai của quốc gia Việt Nam nầy cũng đã bị cột chặt vào một sự thật rồi : nó sẽ là một quốc gia cộng sản , cách mạng và không thể chia cắt được . Về điểm nầy không còn một chút nghi ngờ gì nữa, theo lời phát biểu sau cùng của ông Lê Duẫn, Tổng bí thư đảng cộng sản Bắc Việt, khi nói tới Việt Nam thì ông đã coi như một Quốc gia thống nhất rồi. Ông nói : "nước Việt Nam tốt đẹp đã trở nên toàn vẹn từ Lạng Sơn đến Cà Mau" * * * Sự mềm dẻo tạm bợ của những người "chủ mới" ở Miền Nam chỉ là một trạm dừng chân trên con đường phải đưa người dân Miền Nam đi những bước đầu của cuộc cách mạng . Chỉ là một sự tạm nghỉ chân có tính cách chiến thuật vì có một nhu cầu phải đặt lại các cơ cấu cải tạo và ghép vào một số cán bộ cần thiết cho dân chúng đang còn cứng đầu khó dạy, quen theo lối sống dễ dãi và khó thuyết phục, khó phục tùng bằng biện pháp quân sự . Thời gian vui chơi đã qua rồi. Các cán bộ chánh trị của Miền Bắc đã hoàn tất mọi công tác chuẩn bị. Cứng rắn, dẻo dai và năng nổ họ đặt dân chúng Sài Gòn vào một mảng lưới, rồi càng ngày càng siết chặt lại. Sài Gòn không còn được gọi là Sài Gòn nữa, mà là "thành-phố-Hồ-chí-Minh" để kỷ niệm người cha đẻ của cách mạng Việt Nam . Đã hết rồi thời điểm của "một nụ cười và một bàn tay thân thiện" . Bây giờ đã đến thời điểm của sự "đe dọa" và của những "bước đi mới". Gọng kềm đột nhiên khép chặt lại, trước hết là trong những khu vòng đai ở Gia Định, Tân Định, Gò vấp... nơi mà các "ủy ban nhân dân" đã được thàh lập xong, và tiếp theo đó lần lượt vào trong thành phố. Từng khu, từng đường, từng ngỏ hẻm, từng nhà một... tất cả đều được thanh lọc. Kiểm tra từng người, ai cũng được gọi lên, được hỏi về cá nhân mình, về gia đình mình, về những người chung quanh mình, và được trưng tập vào một lớp học tập chánh trị .... cũng được gọi là công tác làm sạch đường phố hay là "dọn cho sạch rác rến" Tất cả trường từ tiểu học trung học cho đến đại học đều phải đóng cửa. Tất cả những tổ chức và sinh hoạt văn hóa "phản động, đồi trụy và dơ bẩn của đế quốc và của tay sai Thiệu" đều triệt để bị nghiêm cấm.. Nói trắng ra là tiêu hủy hết mọi phim ảnh, đĩa nhạc ngoại quốc, tất cả những tác phẩm văn hóa thế giới như của Balzac, Dostoiievski, Faulkner, Camus, Gogol đều bị đốt hết lẫn lộn với các tạp chí tình dục loại Play Boy, kể cả các "cuộc phiêu lưu của Tarzan" . Các giáo sư, thầy cô giáo, sinh viên học sinh mỗi ngày phải đến họp từ 9 giờ đến 1 giờ trưa để tập đồng ca những bài hát cách mạng, tập vỗ tay cho ăn nhịp hay tập "đọc" tập "hô" những khẩu hiệu. Nhiều đoàn người mệnh danh là trưởng giả, là tư bản, là trí thức, là cựu công chức đã biết "ăn năn hối cải" bắt đầu đi riễu trên các đường phố với những tấm bảng đeo trước ngực với nội dung đại loại như "Tôi đã phản bội cách mạng", "tôi có bạn người Mỹ", "tôi đã cộng tác với kẻ thù" v.v... Hết khu nầy đến khu khác, nhiều toán người nhỏ thó mặc quân phục xanh lá cây trèo lên bao lơn, hay các cột điện để chăng dây và treo loa, để cho dân chúng nghe ra rã những bản nhạc quân hành ầm ĩ suốt ngày... Trên tường đâu cũng treo đầy hình to lớn của một ông già có chòm râu dưới cằm: hình của Chủ Tịch Hồ chí Minh. Nguyện vọng duy nhất của ông là tất cả nhân dân Việt Nam phải tôn thờ ông . Tất cả những sự tuyên truyền đều tập trung vào ông nầy, vào cuộc đời của ông, vào những tác phẩm của ông, vào những bài thơ của ông mà ai cũng phải học nằm lòng . Ông vừa là một Thánh nhân, một vị tiên tri vừa là một vị Thần hộ mạng của cựu thủ đô Miền Nam lúc này đã mang tên của ông. "Di chúc" của ông là một sự chỉ dẫn hoàn hảo, một giáo lý mà tất cả mọi người "Việt Nam thật sự" phải theo.. Nhịp nhàng với hành động tâm lý chiến của các "cán bộ" (ủy viên chánh trị), ảnh hưởng của mấy chú "bộ đội" thuộc quân đội nhân dân Bắc Việt mỗi ngày một nặng nề thêm lên, và càng ngày càng thấy rõ bộ mặt của một quân đội chiếm đóng. Ban ngày thì các đội tuần tra khoảng 20 chú "bộ đội", với nét mặt hùng dũng, căng thẳng, đi cách nhau chừng 5 thước, tay ghì vào cò súng, đi rảo khắp thành phố, canh chừng các ngã tư, hoặc thiết lập các rào cản. Ban đêm thì cả một trung đội đi khắp nơi trên đường phố lúc nào cũng vắng ngắt, vừa đi vừa lắc cắc khua cò súng AK.47 của họ. Thường thì họ phục kich sau các cây trồng dọc đường và bắn lên nhiều tràng súng dài vào các bóng đen thoáng qua, lặng lẽ. Thế nhưng mặc dầu lớn tiếng hăm dọa, với những áp phích, những phim ảnh phải xem, những buổi học tập cải tạo tập thể... người dân Sài Gòn vẫn cứng rắn và tham gia các buổi "sinh hoạt cách mạng" một cách lặng lẽ, hờ hững. Cả ba buổi họp lớn đầu tiên trong tháng 5 (ngày 1, ngày 7 và ngày 15 tháng 5) chỉ qui tụ khoản vài chục ngàn người , không hơn được. Ngày 15 tháng 5, "ngày lễ chiến thắng", trong khi các sư đoàn Bắc Việt rầm rộ diễn hành, các toán cán bộ cổ vũ đặt ờ các ngả tư đường không thành công được trong nhiệm vụ hô hào dân chúng vỗ tay hoan nghênh quân đội chiến thắng Miền Bắc . Chẳng những thế mà còn có rất nhiều khán giả Miền Nam khóc sướt mướt nữa. Chế độ cũ đã phát hàng chục ngàn súng cho dân vệ trẻ trong các khu gia cư. Thủ đô lại có gần trăm ngàn Cảnh Sát được trang bị súng M.16, súng lục 32 và lựu đạn. Phía Bắc Việt đã tự thú nhận là mặc dầu đã treo nhiều giải thưởng cao cho những sự tố giác, nhưng chỉ thu hồi được một số rất ít ỏi vũ khí nầy. Nhiều người dân Sài Gòn còn đi xa hơn nữa là họ từ chối không chịu đầu hàng..Một số tướng lãnh đã tự tử như: tướng Phú, cựu tư lệnh Vùng Cao Nguyên Trung Phần, đã uống nguyên một ống thuốc nivaquine và chết tại bệnh viện Grall; như tướng Nguyễn Vỹ, cựu Tư Lệnh sư đoàn 5 bộ binh , tướng Nguyễn khoa Nam và Tướng Lê văn Hưng, Tư Lệnh và Tư Lệnh Phó Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long; tướng Nguyễn văn Hai, Tư lệnh sư đoàn 7 bộ binh .... Nhiều sĩ quan khác, các nhân vật và các chánh trị gia đã tự kết liễu đời mình bằng thuốc độc hay bằng cách tự bắn vào đầu. Trong số những người nầy có ông Trần chánh Thành, cựu Tổng trưởng Thông Tin , một trong những người đối lập hàng đầu với Tổng Thống Thiệu; tất cả thành viên trong một gia đình công chức cao cấp (sáu người) và cả 3 người giúp việc trong gia đình. Một cựu hạ sĩ quan Dù tự tử ngay giữa chợ bằng cách tháo chốt một trái lựu đạn và nằm lên trên và la lớn lên :"Chúng bây không bao giờ bắt sống được tao đâu..đồ bọn cướp đểu giả !" Trái lựu đạn nổ tan xác anh thành nhiều mảnh, trừ chiếc mũ bê rê đỏ của anh, nhưng không một ai dám nhặt lấy... Một tuần lễ sau khi tượng đài "chiến sĩ VNCH" bị hạ bệ, có một vị cựu binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến của Miền Nam tẩm xăng tự thiêu như những nhà sư trước kia đã làm để phản đối "chế độ thối nát" . Ông ta cháy như ngọn đuốc trong nửa giờ, trước hàng trăm dân chúng Sài Gòn đứng sững sờ nhìn ngọn lửa trên bụng anh làm cháy đen cả hai cánh tay anh. Một giờ sau, đài phát thanh Hà Nội cố làm nhẹ biến cố nầy bằng một bản tin được loan đi, nói rằng: "người tuyệt vọng nầy cầm trên tay một tấm giấy trên đó ông viết "tôi đói lắm" ! (3) Ngày hôm sau phát ngôn viên của Ban Quân Quản lại đưa ra một lời giải thích thứ hai : - "đó là một phật tử chống đối chế độ Thiệu. Anh ta để lại một bức thư nói rằng: cuối cùng đất nước tôi đã được giải phóng khỏi ách độc tài, nhiệm vụ tôi đã hoàn tất và tôi chỉ còn có chết mà thôi." Cả hai luận cứ mâu thuẫn nầy không dối gạt được người nào hết. Người dân Sài Gòn chứng kiến tận mắt cái chết của anh Thủy Quân Lục Chiến có thể sẽ không nói được tại sao anh ta tự tử. Nhưng họ biết rõ nơi anh chết: đó là trên đống ximăng nát vụn của tượng đài hai anh lính Thủy Quân Lục Chiến tượng trưng cho lòng can đảm của người lính chiến VNCH. Tất cả những người chết để khỏi phải kéo lê kiếp sống nô lệ như thế rất xứng đáng được kính trọng.... Các nhà báo đôi khi đưa ra những nhận xét đơn sơ không muốn nói nhiều hay chỉ muốn mua lòng độc giả bằng một câu nói bâng quơ bóng bẩy. Một trong những bạn đó, một người cũng nổi tiếng lắm, được trui rèn trong tài nghệ và cũng có khá nhiều độc giả trên khắp thế giới, đã đưa ra một câu quá bất công và quá tàn nhẫn khi viết về cái chết của tướng Phú : - "Tướng Phú, Tư Lệnh Vùng Cao Nguyên đã từng là một người lính rất tốt ở Diện Biên Phủ, đã không còn tốt nữa khi ông ta nhận bổng lộc của ông Thiệu như những người khác". Nhà báo nầy không có quyền chửi bới, mạt sát hay lên án một người đã chết, nhất là khi anh chưa biết người đó là ai và dĩ nhiên chưa bao giiờ thấy được hành động của người ta trên trận địa. Những ông được xem như là "chúa tể" của Dù ở Điện biên Phủ, tôi muốn nói như Langlais, Bigeard, Bizard, Touret và Botella, can đảm tột bực và không bao giờ biết xúc động,, họ rất quý mến và đánh giá cao ông trung úy nhỏ con tên Phú nầy mà họ coi như là một sĩ quan rất có giá trị trong quân đội Việt Nam . Tướng Phú là bạn của tôi (tác giả). Tôi đã biết ông ta từ lúc 23 tuổi. Lúc nào ông ta cũng đánh trận và đánh giỏi ... trên khắp nước Việt Nam . Trong vùng thối nát như Cao Lãnh, khi ông là Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, cũng như khi ở Lào ông đã chiếm lại Tchépone và trong 2 ngày đã đánh tan một trung đoàn thiện chiến thuộc sư đoàn 312 Bắc Việt chuyên chiến trận ở miền núi. Ở phía Tây thành phố Huế, năm 1972, ông đã giữ vững vùng Bastogne với sư đoàn đầu tiên của ông và làm thất bại sư đoàn 308 được mệnh danh là sư đoàn sắt của quân đội Bắc Việt . Con người ông tướng Phú chỉ còn có một lá phổi, thường hay khạc ra máu và mặc dầu bị các bác sĩ cấm bay 10 năm nay nhưng ông vẫn tiếp tục lên trực thăng mỗi ngày, bay lên mặt trận và đáp xuống tiền tuyến. Tôi thường đi theo ông ta, thường ăn chung và ngủ chung một lều với ông ta. Tôi cũng biết bà tướng Phú, một người nông dân chất phát và 9 người con của ông . Tướng Phú nghèo nhưng được binh sĩ của ông kính trọng. Ông không biết buôn lậu và coi rẻ tiền bạc.Ông chỉ ở ngoài mặt trận, không bao giờ nghĩ đến chánh trị và cũng ít lui tới Dinh Tổng Thống.. Một buổi chiều nọ ở Huế, ông đã buồn bã tâm sự với tôi: "Ở Điện Biên Phủ, thiếu tá Botella mà tôi thương mến như cha tôi vậy, đã có nói là tôi sẽ được tuyên dương với "Bắc Đẩu Bội Tinh". nhưng tôi chưa bao giờ nhận được nó.Tôi đã được tuyên dương 27 lần với tất cả huy chương cao quý nhất của Việt Nam và của Hoa Kỳ . Nhưng tấm huy chương "Đỏ" đó mới là huy chương đẹp nhất thế giới!" Một buổi sáng nào đó năm 1954, tướng Phú là người sĩ quan Việt Nam cuối cùng đã bắt đoàn quân hát bài quốc ca Marseillaise của Pháp trên một trận tuyến ở Đông Dương khi ông dẫn quân xung phong lên chiếm vị trí "Élianne I" ở Điện Biên Phủ . Hai mươi mốt năm sau, mất hết quyền chỉ huy lại bị vu khống và tuyệt vọng, ông đến tìm cái chết trong một bệnh viện của người Pháp, trước các bác sĩ quân y người Pháp, dưới bóng của lá cờ tam tài Pháp.... Để được biết chắc chắn rằng các người bạn cuối cùng, các người bạn chiến đấu của ông khi về Pháp phải được biết rõ là ông ta không hề phản bội lại hai chữ Danh Dự mà họ đã cùng nhau thề thốt trên những ngọn đồi đẫm máu ở Điện Biên Phủ. Thật là kỳ lạ và bi đát thay cho số phận của các tướng lãnh nói trên và của những chánh trị gia Miền Nam hay Cam Bốt được kết hợp với nhau không phân biệt trong chiến dịch bôi nhọ và vu khống, được phổ biến rộng rãi khắp nơi trên thế giới từ bao nhiêu năm qua. Nhất là báo chí Mỹ không ngớt nhắc đi nhắc lại là Phnom Penh và Sài Gòn "đầy rẫy tham nhũng". Đặc biệt tôi nghĩ tới ông Long Boret, Thủ Tướng Cam Bốt và hoàng thân Sirik Matak, nhân vật thứ hai ở Cam Bốt. Lẽ ra họ đã đi được trên một trực thăng Mỹ với ông Đại Sứ Hoa Kỳ khi ông nầy ra đi với một lương tâm thanh thỏa của một công chức cao cấp đã thi hành xong khế ước, còn bình tĩnh ôm theo trong tay lá quốc kỳ Mỹ được xếp cẩn thận, y như trong một kịch bản vậy. Nhưng hai người nầy lại không thèm đi, họ thích ở lại đất nước họ và có chết thì chết trên mảnh đất quê hương của họ, giữa đồng bào của họ còn hơn là đi sống lưu vong trong một đất nước mênh mông xa lạ đã phản bội họ. Họ không phải là những người độc nhất đã chọn "ở lại", vì sau khi cân nhắc kỹ lưỡng rồi họ mới ngả hẳn về cái chết để chứng minh phẩm cách và giá trị của niềm tin của mình. Còn nhiều người nữa, rất nhiều người nữa cả ở Phnom Penh và ở Sài Gòn . người ta còn tiếp tục nói về những người nầy bằng cách gọi họ là "bọn tham nhũng" , mà vào một thời kỳ khác, khi mà Tây Phương bị những nguyên tắc vĩ đại của lịch sử La Mã chi phối, thì người ta phải gọi họ là những "vị anh hùng"! * * * Hơn thế nữa, ở Sài Gòn đâu phải chỉ có những vụ tự tử. Từ ngày 30-4 đến tuần lễ thứ ba của tháng 5, hơn 60 binh sĩ Bắc Việt đã bị ám sát ngay ngoài đường phố. Một tử thi của một đại tá bộ binh Bắc Việt mình đầy vết dao được khám phá ra ở trong hẻm rạp chiếu bóng Eden , trước mặt khách sạn Continental. Ba sĩ quan Bắc Việt khác đã bị hạ sát "rất lặng lẻ" gần sở Ba Son.. Chánh quyền xác nhận can phạm là "du đảng" và "kẻ trộm" . Để làm gương họ đem ra xử bắn công khai một số "can phạm" trước mặt gia đình họ và hàng ngàn khán giả. Ngày 24 tháng 5, lúc 7 giờ sáng, 80 người ngoại quốc rời Miền Nam Việt Nam trên một chiếc phi cơ 4 máy, Illouchine 18 sơn xanh trắng của Liên Xô. Đó là những phóng viên nhiếp ảnh , những nhà báo từ khắp nơi trên thế giới đã đến Sài Gòn và bị kẹt lại sau khi thủ đô bị Bắc Việt chiếm cứ. Trong số nầy có gần 50 nhà báo Pháp và một tướng lãnh Pháp đã về hưu bị trục xuất khỏi Việt Nam vì lý do "hai bàn tay của ông đã dính đầy máu của nhân dân Việt Nam " !(4) Trước khi được đi, các nhà báo nầy đã bị quá nhiều phiền nhiễu về hành chánh mới được tờ chiếu khán xuất cảnh, sau đó phải nằm chờ đợi được ghi tên vào một chuyến bay kéo dài ngày nầy qua ngày khác...Trước khi lên phi cơ, tất cả đều phải qua một cuộc khám xét, một cuộc khám xét thật tỷ mỉ, thật lâu và rất là lạnh lùng. Các anh "bộ đội" nhờ một nữ tiếp viên hàng không quân sự làm thông dịch viên, đã bóc hết hành lý của họ. Có nhiều xấp thơ và phim ảnh bị tịch thu. Sau đó họ được đưa đến Vạn Tượng (Lào) và phải trả 120 đô la bằng tiền Mỹ hẳn hòi (gấp đôi giá bình thường) và được một chú "bộ đội" đội nón cối và các phi công Việt Nam đeo súng lục hộ tống . Xuyên qua cửa kính, các nhà báo nhìn Tân sơn Nhứt lần cuối . Hình ảnh sau cùng mà họ cố mang theo từ Việt Nam là cảnh tượng của một phi trường bị tàn phá: nhà kho sập, phi cơ nằm phơi bụng, chiến xa bị cháy đen...Trong số những anh gan lỳ và đầy tình huynh đệ đi về Pháp chuyến nầy, vắng mặt một anh bạn hạng nặng: đó là anh Michel Laurent, bị một tràng liên thinh tự động bắn hạ trong trận chiến ở Hố Nai. Anh là một nhà báo cuối cùng chết ở Đông Dương.. Chúng tôi vẫn còn hy vọng đến giây phút cuối cùng là anh sẽ còn sống để trở về. Nhưng bây giờ thì hết mong rồi. Chúng tôi không còn thấy bóng dáng mảnh khảnh, trẻ trung mãi của anh nữa, cũng như gương mặt thiên thần với mớ tóc lòa xòa và một điếu xì gà cắn chặt ở môi. Anh công tử có vẻ uể oải nhưng không lo lắng gì cả nầy thuộc nòi nhà nghề sáng giá.Có cả thảy 52 nhà báo đã chết ở Việt Nam từ năm 1945. 26 anh khác đã coi như mất tích ở Cam Bốt. Phần đông là các nhiếp ảnh viên, những tinh hoa trong nghề.. Họ không tường thuật về chiến tranh, mà họ chuyển chiến trận thành hình ảnh, gay cấn, tàn bạo và lâm ly thống thiết. Những hình ảnh nầy các nhiếp ảnh viên thường thu nhặt trong tư thế đứng, giữa những người sắp chết mà họ thường chứng kiến được cử chỉ và cái nhìn lần cuối cùng của họ. Cho tới khi Thần chết tức giận vì bị người ta thu hình quá gần, nên đã bắt họ chết luôn vì đã đến lượt của họ rồi.... Và đùng một cái những người còn sống sót mới khám phá ra là luôn luôn những anh bị tử thương y như rằng là những người rất giỏi trong nghề,. Người đầu tiên mà tôi thấy chết vào ngày 28 tháng chạp năm 1946 là một anh người Bỉ ốm yếu mà tôi quá xấu hổ vì không nhớ được tên, làm việc cho một thông tấn xã Hoa Kỳ . Anh đến từ Nam Dương, một quốc gia chán chê vì chiến trận, nhưng những trận đánh trong đường phố tuy lẻ tẻ nhưng hung dữ đến dã man trong thành phố Hà Nội đã kích thích anh, như một cuộc đi săn kích thích con chó săn còn tơ vậy. Anh đội một nón sắt quá rộng, đeo choàng chiếc máy ảnh Rolleiflex và một cây súng lục Webley to tướng ở ngang lưng. Anh ta rất là can đảm, can đảm hết nói ! Anh ta chạy trên các mái nhà để đi tìm những anh chàng bắn sẻ. Một anh Việt Minh bắn tỉa phục kích đâu đó đã cho anh một phát vào giữa mặt và anh té lộn nhào rớt xuống đất từ trên cao 10 thước.. Sau đó thì có anh chàng Kowal mà chúng tôi gọi là "siêu thiên thần", một anh lực sĩ tóc vàng hoe, một con người yếu bóng vía và khắc khổ với một máy thu hình cộm lên đầy lịch sử hào hùng.. Ba mươi tám tháng đi toàn những trận ác liệt gần hết miền Thượng Du Bắc Việt ... rồi một tràng liên thanh ngắn một buổi sáng nào đó của tháng 2 năm 1952 đã kết liễu đời anh. Lúc đó anh mới vừa 27 tuổi. Tôi cũng biết anh Péraud, to con, mập mạp, vai rộng, người rất mạnh khỏe, đã từng thoát khỏi trại tù Đức quốc xã, đã từng chứng kiến những trận đánh xáp lá cà ở Na Sản và Điện Biên Phủ... đã bị xem là mất tích trong chiến khu cộng sản sau một cố gắng vượt ngục và không bao giờ được gập lại nữa. Anh Martinoff, bị đạp phải một trái mìn... Anh Bob Capa lúc nào cũng có một điếu thuốc tàn trên miệng , là một trong những người nhiếp ảnh viên nổi tiếng và đắt giá nhứt trên thế giới, già dặn trrong gần 20 chiến dịch mà bị chết như một người mới bước vào nghề ngày 25 tháng 5 năm 1954 trên một con đê nhỏ ngoài ruộng, chỉ cách đồn Đội Tân vài cây số, ở Đồng Bằng Bắc Việt . Còn nhiều người khác , rất nhiều người khác nữa...: như các anh Burrows, Huet, Shimimoto, Flynn, Arpin... và cuối cùng là anh Michel Laurent, mình đầy đạn trong một làng công giáo di cư không đầy ba ngày trước khi Sài Gòn bị thất thủ. Từ anh nhà báo nhỏ con người Bỉ đội nón sắt quá rộng bị bắn chết ở thủ đô Hà Nội đến anh Michel Laurent bị giết vì quá gan dạ gần một nhà thờ có treo cờ của Tòa Thánh Vatican, nơi mà các thanh niên tự vệ kháng cự đến viên đạn cuối cùng... . coi như cuộc chiến ở Đông Dương đã qua rồi..... Khi đã trở về đến nước Pháp, các anh nhà báo bị kẹt lại gần ba tuần lễ ở Sài Gòn , cựu thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa, đã viết lại và phổ biến tất cả những gì mà họ đã thấy và đã nghe: Bộ máy của chế độ Hà Nội đã được áp đặt. Cảnh khốn cùng của dân chúng Sài Gòn . Có các cô gái đã đề nghị trao hết gia tài sự nghiệp để chỉ được cưới và cùng đi ra ngoại quốc. Trẻ em thì van xin cho được làm con nuôi, dù là giả định. Lại còn dịch tự tử nữa. Rồi có tin đồn là có nhiều sự nổi dây ở các tỉnh, hay thành lập "chiến khu" ở Miền Nam ... Khi tất cả các nhà báo đã bị đưa đi hết rồi....thì một cái lồng sắt chụp ngay xuống Miền Nam Việt Nam . Muốn có được tin tức, người ta không còn có cách nào khác hơn là phải nghe những bản tin chánh thức được loan đi sau khi người ta đã kiểm duyệt cẩn thận. Phải đợi cho có người đi du lịch trong thời gian sắp tới.. Rồi phối kiểm lại tin tức. Rồi phỏng vấn liên tục những người ngoại quốc, những linh mục hay một vài công chức Pháp khi họ hồi hương. Hay những người Hoa Kiều theo đường giây buôn lậu hay theo các tàu đánh cá đến được Thái Lan..(họ phải trả trên 30 lượng vàng để được đưa đi ) Từ từ các tin tức đó giúp hé mở được bức màn tre đang bao chặt nước Việt Nam , và nhờ vào những chứng cớ và những chi tiết sống, người ta mới có thể thiết lập lại được cả một mảng biến cố đã xảy ra trên đất nước nầy. Đầu tháng 5, các sĩ quan, Cảnh Sát , công chức, thành viên trong các đảng phái chánh trị , các kỹ thuật gia, nhân viên trong nghiệp đoàn của Miền Nam ... đều nhận được lệnh phải tự kiểm kê. Người ta ấn định cho họ một thời hạn, từng loại một phải đi trình diện với chánh quyền . Phần đông các sĩ quan và Cảnh Sát khi đến trình diện không bị điều tra hỏi han gì hết như họ đã nghĩ. Mà người ta chỉ ghi tên tuổi rồi họ được tự do về nhà. Một thống kê đầu tiên vào cuối tháng 5 cho thấy là khoản 25 trên 100 cán bộ của quân đội và của Cảnh Sát là có làm thủ tục khai báo. Một buổi sáng sớm nào đó, vì chánh quyền đã nắm được địa chỉ và căn cước của từng người nên số người nầy bị bắt hết , cho lên xe vận tải và đưa đi đên một nơi nào không biết. Nhiều bản thông cáo được dán khắp nơi "ra lệnh cho "tất cả các anh phản động" chưa trình diện phải đến trình diện ngay "nếu không sẽ bị nghiêm trị". Đồng thời lại có nhiều áp phích khác cảnh cáo tất cả dân chúng trong thành phố "không được chứa chấp người nào trong nhà mà không khai báo cho công an biết" Các giáo sư, các thầy cô giáo, các hiệu trưởng và viện trưởng của tất cả các trường trung tiểu học và đại học ở Sài Gòn, tất cả đều bị gọi đến "làm việc" với các ủy viên "đại biểu đại học", ăn mặc như các "bộ đội", quân phục xanh lá cây, mang dép râu và đội nón cối. Các ông đại biểu nầy lạnh lùng thông báo với họ là: - "Chương trình và chu kỳ học vấn sẽ được thay đổi chiếu theo nhu cầu thật sự của đất nước. Kỷ luật sẽ được áp dụng triệt để. Nhưng tất cả các sách giáo khoa cũ đều bị loại. Sẽ có những sách khác đang in sẽ được tàu chở đến từ Hà Nội. Ít nhất cũng phải từ ba đên 4 tháng nữa mới có đủ số lượng sách cần thiết trong kho.Và tất cả trường đều phải đóng cửa. Về đại học, Luật Khoa và Văn Khoa sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn. Vì hai khoa nầy không có ích lợi gì cho xã hội hết, chỉ đào tạo những người "mơ mộng" và những "ký sinh trùng". Thay vào đó sẽ có một trường thông dịch, dạy bốn ngoại ngữ : Nga, Tàu, Anh và Đức ngữ. Tiếng Pháp sẽ không bao giờ được dùng tới nữa. nên không cần phải có thêm người biết tiếng Pháp. Các ông giáo sư thuộc Văn khoa và Luật khoa phải tự chuyễn ngành trong kỷ luật xây dựng thì hơn." Tất cả các giáo chức đều phải trút bỏ hết "quần áo trưởng giã", không phải thắt cà vạt, không phải mặc áo vét nữa, và cũng không được mang giầy "kiểu cọ" nữa (nguyên tác : "fantaisie" trong dấu kép) Sẽ có nhiều giáo sư từ Hà Nội đến để điều khiển các lớp về chuyễn hướng giáo dục và lớp cải tạo.. Đầu tháng 6: các sĩ quan cao cấp "dù đã về hưu", các công chức cao cấp và các chánh trị gia, các dân biểu, nghị sĩ,, các tổng bộ trưởng đều được gọi đi học một khóa "học tập cải tạo". Thời gian học tập là 10 ngày. Khi đi phải mang theo "chăn màn, áo ấm, áo mưa, một chiếc chiếu, 3 ram giấy và viết để ghi chú. và phải đem theo 15.000 đồng để đóng tiền ăn." . Trong suốt thời gian học tập cải tạo, không ai được phép về nhà, hoặc liên lạc với gia đình. Đối với các công chức hàng thấp, các hạ sĩ quan và binh sĩ, chương trình học tập cải tạo được dạy trong 3 ngày. Công chức sau đó được trở về nhiệm sở cũ, các quân nhân sau khi học tập thì được phát cho một giấy chứng nhận cho phép họ đi tìm việc làm, và được đặt dưới quyền kiểm soát của các trưởng khóm đã được thành lập trong mỗi khu.. Một bản báo cáo sau đó được chuyển cho trưởng "công an khu vực", nơi người binh sĩ được kiểm kê. Về sau nầy, anh trưởng công an đó sẽ phát cho người quân nhân đó một giấy "phục hồi quyền công dân" nếu xét thấy người đó có hạnh kiểm tốt. Trong hiện tại thì tất cả cựu quân nhân đều được coi như "kẻ có tội" vì "các cây súng của Mỹ mà các anh đã có trong tay, không phải tự nhiên mà nó đến tay các anh." đó là lời nói của các ủy viên chánh trị phụ trách lớp hoc tập cải tạo đã nói với họ như vậy. Trong khi chờ đợi được phục hồi quyền công dân thì các cựu quân nhân phải chịu đói meo, vì tờ giấy cho phép đi tìm việc làm không giúp ích gì được cho họ cả. Vì trên thực tế không một người nào được quyền thuê mướn người chưa có quyền công dân. Sau đợt các chánh trị gia và các quân nhân thì đến lượt các thợ thuyền và các chú cai thợ. Lớp học tập cải tạo cho các chuyên viên ở nhà máy điện được mở ra ở Dalat vào tháng 6, đã xảy ra nhiều vụ rắc rối và nhiều phản đối. Bị bắt buộc phải mang theo 15.000 đồng (ba phần tư số lương trong tháng của họ), sống xa vợ xa con, họ đã phản đối tập thể để yêu cầu Chánh Phủ phải bảo đảm đời sống của gia đình họ vì thiếu thốn và không có ai lo. Họ đe dọa là sẽ không làm việc trở lại nếu Chánh Phủ từ chối yêu sách nầy.Vì chánh quyền cần phải có sự làm việc của họ nên đã chấp thuận một phụ cấp cho gia đình họ. Lúc mãn khóa học tập cải tạo, các ủy viên chánh trị đã cố xác nhận với họ là "thời gian học tập cải tạo được kéo dài trong 6 tuần lể mỗi năm". Trong suốt thời gian học tập không thấy có một lời nào ám chỉ đến cái CPLTCHMN. Chỉ có hai đề tài duy nhất được khai triển: - Nước Việt Nam từ đây sẽ là một quốc gia duy nhất, độc lập và xã hội chủ nghĩa , gắn liền với di chúc của Bác Hồ (nguyên tác :oncle Hô) từ cửa Trung Quốc (nguyên tác :porte de Chine) ở Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. - "ngụy quyền bù nhìn" - có nghĩa là những kiểu suy luận, những lối sống thừa hưởng tử chế độ cũ và của đế quốc Mỹ- là một "căn bệnh" mà đất nước phải loại bỏ. Phương thuốc duy nhất được coi là hữu hiệu là cải tạo. Lần lần bộ máy nặng nề và tỉ mỉ để nghiền nát các bộ não đã được đặt xong.. và đã chạy đều.. vì nó đã chứng minh được ở Miền Bắc rồi, ở đó nó đã được điều hành từ hơn 20 năm qua.. Công tác đóng khung dân chúng được tiến hành rất có phương pháp. - Giai đoạn thứ nhất: áp dụng kỹ thuật công an cảnh sát mềm dẻo nhưng quyết liệt. Mỗi công dân phải điền hai văn bản in sẳn. Một số câu hỏi chánh thức: lý lịch, trình độ học vấn, nơi cư trú trong những năm chiến tranh, việc làm. Một số câu hỏi riêng tư liên quan đến tất cả những người từ 18 đến 70 tuổi, đòi hỏi phải kê khai "tên của những người bạn tốt nhất của mình, hay tên của những người mà mình chịu ảnh hưởng"; Và những tên, địa chỉ của "những mối giao lưu tình cảm cũ" . Công tác kiểm kê tất cả dân chúng ở Sài Gòn được tiến hành từng khóm một, từ khóm nầy sang khóm khác... Khi đã kiểm kê xong, người nào muốn thay đổi địa chỉ thì phải xin phép cơ quan chánh quyền khu vực mình đang ở và phải có sự chấp thuận của cơ quan chánh quyền nơi mình muốn tới ở. Mỗi người xin như vậy phải có 2 nhân chứng chịu trách nhiệm về lời khai không gian dối. - Giai đoạn thứ hai: kỹ thuật gia nhập vào tập thể và đề nghị một lý thuyết mới. Nghi lễ thật chu đáo đúng mức. Một Đức Chúa nhân từ :Bác Hồ; Một lý thuyết: Mácxít; Các linh mục đọc thánh kinh: các ủy viên chánh trị thánh ca: các bài hát cách mạng ; Các lời cầu nguyện :các khẩu hiệu ; Các đám rước lễ: các cuộc diễn hành, các cờ hiệu và biểu ngữ , thợ thuyền, sinh viên, các "bà nội trợ và trẻ con" ; Các cuộc "xưng tội" : công khai. Hình của Hồ chí Minh được treo dán khắp mọi nơi, trên tường, trong các nhà máy, trong thành lính và cho tới các phòng khách của các cộng đồng tôn giáo. Có lệnh cho tất cả dân chúng phải treo trước nhà lá cờ đỏ sao vàng của Cộng Hòa Miền Bắc Việt Nam (nguyên tác : Républic du Nord Việt Nam ) bên cạnh lá cờ của CPLTCHMN. vấn đề thi hành cũng phải lâu. Mua một lá cờ thứ hai đối với nhiều người là một sự tốn kém không nhỏ. Những người nghèo phải cắt xén vải và làm những lá cờ nhỏ hơn. Chánh quyền coi đó là một ác ý. Tức thời có những chỉ dẫn đã phổ biến về cách treo "cho đúng" hai "lá cờ anh em" với kích thước phải bằng nhau. Các sinh viên rảnh rang từ khi nhà trường bị đóng cửa, đã được thành lập thành "tiểu đoàn" và tham gia vào công tác làm sạch sẽ thành phố.. Các học trò thì tham gia vào sinh hoạt cách mạng ở khu vực với những em từ 8 tuổi. Các "liên đoàn thanh niên giải phóng" đón nhận gái trai từ 10 tới 15 tuổi. Mỗi ngày tờ nhật báo chánh thức "Sài Gòn Giải Phóng" đưa ra những công tác của vài đại hội, của các văn sĩ, của các nhà văn tiểu luận hay nghệ sĩ "giải phóng" và đăng những kiến nghị của họ: những lời khen tán tụng cách mạng , những bài hát nhớ ơn bác Hồ và Đảng Lao Động đã dẫn dắt nhân dân đến chiến thắng. "... Phải chăng những người cộng sản Bắc Việt thật sự hy vọng rằng bằng cách áp dụng những phương thức mà họ đã dùng ở Hà Nội vào năm 1954 thì họ có thể tẩy não được dân chúng ở Miền Nam ? Đầu tiên nhìn vào, thì hình như khó tin được . Hà Nội là một thành phố được ngăn ra từng khu vực thợ thuyền, công chức, và các công nhân tiểu công nghệ.. Đồng bằng sông Hồng thì rất hẹp và có quá nhiều dân. Dân quê Miền Bắc còn dùng những chiếc cày tay cổ lỗ mà họ đẩy được . Chiến tranh chống Pháp đã đẩy họ lên rừng hay vào những làng mạc thu hẹp trong lũy tre xanh. Chiến tranh với người Mỹ lại đưa họ thụt lùi lại trong thời quá khứ bằng những cuộc dội bom dày đặc, bắt họ phải sống trong hang hoặc sống chui xuống đất trốn ở dưới hầm . Cầu đường bị phá, nhà ga, nhà máy, phi trường đâu đâu cũng ăn bom làm cho dân chúng gần như trở về thời kỳ đồ đá. Họ đã quen sống cách ly hẳn với thế giới bên ngoài, không có một tờ báo nào gọi là đối lập, không xa hoa không có yếu tố nào để mà biết so sánh, sống đoàn kết với nhau vì cảnh bất hạnh. họ không thể tranh cãi dễ dàng với sự tuyên truyền nhồi nhét quá sơ đẳng và tập thể của các cán bộ.. Trong khi Sài Gòn là một thành phố của thương gia, của các chủ tiệm chủ quán, của những nhà trí thức và những chuyên viên. Đồng bằng sông Cửu Long rộng mênh mông, giàu có, mầu mỡ, mở cửa hằng mấy thế kỷ nay ra biển cả, với hàng hải, với thương thuyềm, với ngoại quốc. Làng mạc ở đây trải rộng ra dưới những hàng dừa, hàng cọ, và dọc theo sông rạch đầy phù sa phì nhiêu, và là nơi dự trữ dồi dào và vô tận cho nghề đánh cá. Cuộc chiến tranh chống Pháp đã bảo vệ cho Miền Nam . Cuộc chiến chống Mỹ dù có một số điều quá mức, nhưng đã hiện đại hóa Miền Nam với một số trang thiết bị đến dư thừa. Trong suốt thời gian 20 năm, mặc dầu có mất ít nhiều trật tự, có chiến trận, có những chuyện ám sát, kinh tế khủng khoảng thường xuyên, và nhờ những chuyện đó mà dân chúng Miền Nam đã có lối sống của người Tây Phương hoàn toàn. Họ khám phá ra được máy móc, mô tô, xe hơi, phi cơ, trực thăng, điện thoại.... máy tính, trăn-zi-to và truyền hình; máy cày đã thay thế chiếc cày tay, xe vận tải, thuyền máy đã thay thế chiếc tam bản. Họ biết thưởng thức phim ảnh và các sách ngoại quốc, thích nhạc jazz, và biết xài các vật dụng mới lạ, tối tân. Bất cứ anh phu xe xích lô nào cũng đọc 2 tờ báo hằng ngày... Như vậy thì làm sao tưởng tượng được là dân chúng Miền Nam có thể buông xuôi chịu bước theo hướng đi nhỏ hẹp duy nhất và một chiều mà Miền Bắc cố tình muốn áp đặt cho họ ? Hà Nội muốn thống nhất đất nước và đưa nước Việt Nam vào con đường cộng sản dưới bàn tay sắt náu của họ. Hà Nội có 3 yếu tố trong tay: sức mạnh, một ý chí chánh trị không lay chuyển , và một lý thuyết mạnh. Nhưng những trở ngại cũng không phải ít. Đưa ra một phương thức để mang ra thực hành, như thế cũng chưa đủ. Xác nhận một sự thật để biến nó trở thành một chuyện hiển nhiên, như thế cũng chưa đủ. Đề nghị thống nhất hai Miền của Hà Nội là một sự thống nhất trái với thiên nhiên đe dọa gây xáo trộn đời sống của người dân. Miền Bắc và Miền Nam có thể là 2 Miền anh em, nhưng đó là anh em thù địch. Họ đã từng đánh nhau trong suốt 300 năm trước khi người Pháp đặt chân lên Đông Dương. Cuộc giết chóc trong 30 năm vừa qua chỉ có làm tăng thêm sự rạn nứt trong quá khứ. Mỗi bên đều có ít nhất cả triệu người bị giết và gần 2 triệu bị tàn phế. Hàng trăm ngàn trẻ mất cha ...mất mẹ. Hằng triệu triệu người tản cư bị vứt ra ngoài đường. Nhiều thành phố bị tàn phá đến điêu tàn, nhiều làng mạc bị đốt cháy.... Vĩ tuyến 17 chỉ là một gạch ngang trên bản đồ năm 1954, được các thương thuyết gia hấp tấp gạch lên một cách vội vàng vì muốn chấm dứt cho xong. .Một đường phi quân sự trừu tượng và hão huyền.. Hai chục năm chiến trận khốc liệt đã biến nó thành một giới tuyến đầy máu. Hòa giải cách nào đây ? để cho có được sự kết hợp giữa hai Miền, giữa hai loại xã hội với hai trình độ khác nhau, hai nền kinh tế khác nhau, hai tâm tính và tâm trạng khác nhau ? Giữa một Miền Bắc với lý thuyết cộng sản khắc khổ và quá cứng đơ vì nguyên tắc, với một Miền Nam quá tự do như vô chánh phủ, hoài nghi và thích hưởng thụ ? Giữa một bên thì đang tự kiêu vì là kẻ chiến thắng, và một bên thì đang nhục nhã vì là kẻ chiến bại và mất nước ? Các nhà phân tách đã đơn giản hóa những bài toán nầy thành một sở đồ và nói rằng những người Bắc Việt với đầu óc cứng rắn và với kỷ luật sắt của họ, sẽ đạp nhẹp Miền Nam . Tôi không tin ở sơ đồ. Con người không phải là những con số để người ta đưa vào phương trình. Miền Nam không phải nguyên một khối và hay cố chấp. Họ có niềm tin của họ và những tín ngưỡng riêng của họ. Họ không để mất đi một cách dễ dàng đâu. Các Phật Tử, các Tín đồ Công Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, và Cao Đài Giáo đều một lòng gắn bó với các chùa chiền, với các nhà thờ và với các thánh thất của họ. Miền Bắc có thể đi tới đích mà họ muốn, nhưng còn phải mất nhiều thời gian... và thời gian đôi khi rất thuận lợi cho kẻ chiến bại.... Chú Thích: (1) Chỉ vài tuần lễ sau đó, tướng Minh được bí mật chuyển ra Hà Nội bằng phi cơ. Ở đó ông được các nhân vật lãnh đạo cộng sản trong Chánh Trị Bộ thẩm vấn trong suốt 10 ngày về " tiến trình mưu toan với thực dân Pháp để cướp chánh quyền chống lại quyền lợi của cách mạng " . Khi được đưa trở lại Sài Gòn tướng Minh bị "quản chế tại gia", mỗi ngày có một cán bộ của đảng cộng sản đến nhà để "cải tạo" ông" (2) tướng Võ nguyên Giáp bị mắc một chứng bịnh nan y (không chữa được) và phải nằm ở một bệnh viện bên Mạc tư Khoa một thời gian dài. (3) )(lời bàn của dịch giả: mảnh giấy nầy không cháy mà vẫn còn nằm trong tay người tự thiêu để cho Ban Quân Quản lấy được thì đó là cả một "phép lạ" của xã hội chủ nghĩa !) (4) đó là đại tướng Vanuxem . |
|
#42
|
|||
|
|||
|
CHƯƠNG HAI MƯƠI LĂM
SỰ HIỆN DIỆN CỦA NGƯỜI PHÁP ? R ồi đây số phận của cộng đồng người Pháp ở Miền Nam Việt Nam sẽ ra sao đây ? Những người "bi quan" trong đó có tôi (tác giả) nghĩ rằng tất cả rồi sẽ giống như những gì đã từng xảy ra ở Bắc Việt năm 1954. Nghĩa là cũng phải tới kỳ hạn mà cục "bướu" ngoại quốc cuối cùng nầy cũng phải bị trục xuất. Những người "lạc quan" thì vẫn còn tin rằng rồi cũng có khả năng cho một giải pháp thỏa hiệp nào đó. Các sự việc xảy ra đã chấm dứt ngay cuộc tranh luận nầy. Những người Pháp từng được mến mộ vào những ngày trước khi Sài Gòn bị thất thủ, không có một chút quyền lợi đặc biệt nào sau khi Bắc Việt chiếm được thành phố. Còn trái ngược hẳn lại là khác!Những người đầu tiên biết rõ được như vậy là những nhà báo đã bị kẹt lại Sài Gòn . Họ không bị ngạc nhiên gì cả khi nhận thấy là họ được xếp sau hẳn, sau thật xa các đồng nghiệp người Anh và người Nhật ... và cả người Mỹ, trên danh sách những người được ra đi. Người Pháp được xếp vào loại "những người có quốc tịch khác", gần như họ là nạn nhân của những nỗ lực sau cùng của Chánh Phủ Pháp nhằm tìm một giải pháp chánh trị cho Miền Nam Việt Nam . Nhưng chỉ có khoảng 50 nhà báo thôi..., và họ đeo theo chánh quyền mới với sự tò mò liên tục, với nỗi lo âu muốn biết thêm tin tức, và vì sự hoài nghi của họ. Một chiếc phi cơ thôi cũng đủ để dẹp gọn họ rồi. Khi họ đi rồi thì còn khoản 12.000 người Pháp ở lại Việt Nam . Trong số đó có chừng 2.500 là người Pháp chánh gốc (cộng tác ở đây, thương gia, nhà trồng tỉa, về hưu, nhân công các hãng xưởng Pháp..), trên lý thuyết là những người có thể tùy hoàn cảnh hoặc sẽ rời khỏi đây sau khi quan hệ bình thường được tái lập, hoặc sẽ ở lại nếu xí nghiệp của họ được phép tái hoạt động. Thật ra lý thuyết và thực hành không đi đôi với nhau được : nhiều lắm là vài trăm người trong số nầy có thể ra đi. Những đường liên lạc hàng không thật là rất bất thường và rất kỳ lạ. Đều đặn thường có thông cáo dán trên một tấm bản đen trước cửa Bộ Ngoại Giao cũ hay trước sở Di trú. Hôm đầu tuần, một ủy viên chánh trị nào đó đã lấy phấn viết lên tấm bản đen đó rất rõ ràng như sau: " Sắp tới sẽ có chyến bay đi Vạn Tượng... Ngày , giờ khởi hành sẽ được thông báo đúng lúc." Thấy vậy các anh đã có hộ chiếu đều lo sửa soạn va li, nhảy lên tắc xi và chạy thẳng ra sân bay Tân sơn Nhứt . Binh sĩ giữ an ninh ở đó đẩy họ ra. Không có một chuyến bay nào được dự trù. Họ lại trở về thành phố. Lại chờ đợi... Vào cuối tuần một anh lính gác bôi bỏ thông cáo nói trên, và sáng thứ hai, lại cũng anh ủy viên chánh trị đó, lại viết lên bản đen những giòng thông báo cũ với một vẻ nghiêm trọng không kém tuần trước .... cho đến khi cuối cùng có một chuyến bay cất cánh. Chuyện nầy có nhiều lý do không giống nhau. Các chuyến bay con thoi của Lào đã ngừng bay vì chánh quyền cộng sản ở Sài Gòn lúc bán vé thì thu vào đồng đô la Mỹ, mà muốn trả cho hãng Hàng Không Lào bằng tiền đồng của Việt Nam, một loại tiền tệ gần như chỉ có một giá trị nào đó ở Sài Gòn mà thôi. Ngoài ra các chuyên viên của Miền Nam Việt Nam (truyền tin, ra đa, điện tử, kỹ sư thông tin liên lạc v.v..) đều đã ra đi với người Mỹ và chánh quyền cộng sản không có lấy một người để thay thế vào đó. Có một số trở ngại khác, một phần dụng cụ của Hàng Không Pháp (Air France) tối cần thiết cho công tác điều hành khi phi cơ đến và đi (máy điện toán, máy truyền tin, tổng đài điện thoại, kho dụng cụ thay thế, xe đẩy và kéo phi cơ, xe nâng hàng và tiếp tế xăng nhớt v.v..) đã mất hết không còn một dấu vết nào cả. Kho hàng gởi đi gồm cả 8 tấn hàng quý giá ( trong đó có 3 tấn ngọc thạch quý của một người buôn đồ cổ giàu có) đã không cánh mà bay mất. Không biết người nào đã cướp sạch. Ban Giám Đốc Hàng Không "Air France " của Pháp ở Ba Lê đã dề nghị với chánh quyền cộng sản để cho họ đưa sang những toán chuyên viên và một số dụng cụ thay thế. Họ nghĩ rằng như thế là họ có thể tái tục được các chuyến bay vào tuần lễ đầu của tháng 7. Ban Quân Quản Sài Gòn đã không nói là "không", mà cho biết nhận xét của cách mạng là hãng Hàng Không "Air France" của Pháp trong nhiều năm qua đã không tỏ thiện chí trong việc tái thiết lập lại đường bay giữa Ba Lê và Hà Nội.. Ngoài sự nguy hiểm mà đường bay nói trên được mở lại trong lúc Hoa Kỳ đang dội bom Bắc Việt , đường bay nầy cũng không có lời. Dù muốn dù không thì cả 3 hãng Hàng Không "Air France" và U.T.A của Pháp đã không có một hoạt động nào từ khi Sài Gòn bị cộng sản chiếm cứ. Mà dường như là họ không thể tìm lại một đường bay nào cả. Hàng Không Dân sự được Hà Nội trực tiếp quản lý. Mặc dầu đã cố nài nỉ nhiều lần, đại diện của hãng "Air France" cũng không được phép đến phi trường để xem xét các cơ sở của hãng để thiết lập một bản kiểm kê chính xác về các phương tiện và vật dụng đã bị bị mất hết. Và như thế là việc tái lập các đường bay đến Sài Gòn coi như bị đình hoãn vô hạn định. Chỉ có một chuyến bay duy nhất là phi cơ của Liên Hiệp Quốc. Như thế thì những người Pháp nào được bảo đảm là có quyền ra đi.. trong một thời hạn nào đó, thì chỉ có kiên nhẫn nằm chờ. Vả lại, những người Pháp bất cứ gốc gác thế nào, người Pháp chính cống hay là người có quốc tịch Pháp cũng vậy, đều không chờ đợi được gì ờ Lãnh Sự Quán hay Đại Sứ Quán của mình. Đại sứ Pháp, ông M. Mérillon không còn thấy ở đâu nữa cả, và ông cũng không có tiếp ai hết. Tòa đại sứ Pháp có đầy đủ tiền bạc, lương thực, nước uống .. không thiếu món chi, nên đã đóng kín cửa rào. Và Đại sứ, mà bổn phận đầu tiên lẽ ra là phải đi thăm những người Pháp vốn đang ở trong cảnh khốn quẫn, để an ủi họ, để cho họ yên tâm, vững lòng, để giúp họ vượt qua được tình thế hay giải quyết những bài toán khó khăn mà họ đang gặp phải, để bênh vực quyền lợi của người Pháp đối với chánh quyền mới.. nhưng ông không bao giờ bước ra khỏi nhà. Ông ta chỉ có khuyên người Pháp không nên treo cờ Pháp quá nhiều , vì theo ông, dù là chỉ treo tạm nhưng sự kiện treo quá nhiều cờ tam tài có thể được coi là một sự "khêu khích". Thế nhưng, người Pháp đã gặp rất nhiều khó khăn... Những người có biệt thự với đầy đủ tiện nghi hoặc nhà thường thôi mà ở khu vực ngoại ô.. thì cũng bị đuổi đi hết. Lý do : không bảo đảm được an ninh đầy đủ. Tất cả các ngân hàng đều bị đóng cửa, các chương mục bị khóa lại hết, các xí nghiệp phải ngưng hoạt động, các đồn điền cao su và cơ sở kỹ nghệ của họ đều không xử dụng được vì đã bị hư hại nặng nề, các bãi đậu xe bị "trưng dụng".. Ai cũng thiếu tiền. Các công chức chưa được lãnh lương từ ngày 1 tháng 5, chỉ được nhận một số tiền ứng trước nào đó thôi của lương mình. Các ông chủ xí nghiệp nhỏ , dù đã ngưng hết mọi hoạt động từ ngày có biến cố cộng sản , vẫn phải tiếp tục trả lương cho nhân viên dù họ không làm việc. Các hãng xưởng lớn thì bị "ủy ban nhân dân xí nghiệp" đòi hỏi phải bồi thường tiền phụ cấp nghỉ việc. Mỗi lần mà những chủ nhân người Pháp muốn nói chuyện dàn xếp thì lại không thấy có một người nào có đủ thẩm quyền. Các nhà trồng tỉa còn kẹt ở Cao Nguyên Trung Phần mà muốn xuống Sài Gòn đều phải nộp đơn xin phép với ông ủy viên quân sự của tỉnh. Những nhà trồng tỉa ở vùng Bảo Lộc đã bị bắt và tài sản của họ bị tạm giữ. Những nhà truyền giáo trong nước không bị phiền nhiễu gì nhưng bị quản thúc và đang lo sẽ bị trục xuất. Khách sạn Continental thì vắng hoe từ lúc các nhà báo ra đi hết .Tầng trệt của Trung tâm Văn Hóa bị ủy ban của khu vực chiếm đóng.. Bệnh viện Grall phải thay lá cờ Pháp bằng lá cờ Hồng Thập Tự và cờ của Chánh Phủ Lâm Thời. Thơ từ từ bên Pháp gởi sang được Hà Nội chuyển tiếp phải đến rất trễ, mấy tuần lễ sau mới nhận được .Tờ báo "Tin Tức Viễn Đông" một tờ nhật báo duy nhất bằng tiếng Pháp, tường thuật về tình hình tài chánh, ghi lại tin tức của thông tấn xã A.F.P . và thường mô tả đời sống ở Ba Lê ... đã bị đình bản như tất cả các tờ báo cũ của chánh quyền Miền Nam . Nỗi lo âu của người Pháp đã trở thành nỗi bi quan, vì ai cũng phải hoàn toàn tự lo cho mình. Sau một loạt sự việc không hay xảy ra như : - việc đóng cửa hãng Citroen, và Giám Đốc đã bị giam giữ vì không thể trả lương được cho nhân viên, - như việc bắt ông Giám Đốc hãng Michelin phải "nộp phạt", vì bị toán nhân viên có mang võ khí đe dọa , với sự có mặt của các đại diện của ủy ban quân sự hành chánh , ông bị bắt buộc phải nộp một khoản "bồi thường nghỉ việc rất lớn" cho tất cả nhân viên người Việt Nam ở các văn phòng và các đồn điền cao su của hãng. - như khách sạn Continental đã bị trưng dụng để cho các cán bộ Bắc Việt đi công tác vào ở: sĩ quan cao cấp, chuyên viên kế toán vào thanh lọc các chương mục ngân hàng và thanh tra hoạt động của tất cả các xí nghiệp ngoại quốc. - như "Câu lạc bộ thể thao" mất hẳn quy chế của một câu lạc bộ tư nhân.Trước hết là một tiểu đoàn quân Bắc Việt vào chiếm đóng, và từ đó được mở cửa cho nhân dân xử dụng. - như "ga ra Charner", sau khi bị một cuộc kiểm kê vật dụng tỉ mỉ cho đến tận những con bù lon, công ty nầy đã nhận được một "lệnh cấm bán" dù đó là phụ tùng thay thế nhỏ. - Có một số nhân viên người Pháp ở những đồn điền cao su còn ở lại làm việc ở các nhiệm sở nằm trong vùng đã được cộng sản kiểm soát. Có những người khác thì đã trở lại nhiệm sở sau khi Sài Gòn bị thất thủ. Nhưnng tất cả hai loại người Pháp nầy cuối cùng đều phải chuẩn bị để rời khỏi những nơi nầy. - Nổi gian truân đã đến với nhân viên của đồn điền S.I.P.H thì lại rất đặc biệt. Ngày 7 tháng 5, một tuần lễ sau khi Sài Gòn bị thất thủ, những cán bộ trồng tỉa thuộc đồn điền S.I.P.H trở lên những vùng mà họ đang khai thác nằm ở gần Xuân Lộc. Bộ đội chánh quy Bắc Việt đã chiếm đóng tại đây rồi. Những binh sĩ trú đóng trong những dãy nhà thuộc Phòng Nghiên Cứu Kỹ Thuật của đồn điền đã dùng các hồ sơ lưu trữ để đốt lửa nấu cơm. Giám đốc đồn điền người Pháp (nói thông thạo tiếng Việt) đã báo động với một ủy viên chánh trị Bắc Việt rằng: - " Các anh "bộ đội của ông đã làm một việc ngu xuẩn tày trời. Các hồ sơ mà họ xé nát hết để đốt đi có một giá trị không lường được .Đó là kết quả của 50 năm làm việc, tìm tòi, nghiên cứu và thực nghiệm về việc trồng tỉa cây cao su. Không phải tôi phản đối vì để bảo vệ quyền lợi của sở tôi, mà bởi vì nếu sau nầy người Việt Nam muốn tiếp tục sản xuất cao su cho đất nước mình và muốn nâng cao năng suất và sản lượng cao su, thì những hồ sơ nầy có một giá trị hàng đầu cho đất nước. Tôi xin lưu ý với ông là không có gì thay thế được cho các hồ sơ nầy." Ông ủy viên nầy đã quở trách binh sĩ của mình và cho lệnh họ không được đụng tới những tập hồ sơ nầy nữa. Nhưng từ ngày hôm sau đó, các chú "bộ đội" lại tiếp tục dùng các tập hồ sơ quý giá đó để nấu cơm nữa , và chỉ trong vài ngày sau họ thiêu hủy hết tất cả kết quả của công tác nghiên cứu khoa học trong nửa thế kỷ đã được cập nhật hóa rất là công phu và cẩn thận. Về phần mình, người Pháp đã khai triển trở lại mọi công việc trong đồn điền. Việc cạo mủ cao su đã trở lại nhịp độ bình thường. Nhưng ngày 21 tháng 5, tất cả các công nhân người Việt, được Ủy Ban của Đồn diền hướng dẫn đã nổi lên biểu tình tập thể và ép các nhà trồng tỉa người Pháp phải rời ngay khỏi đồn điền, không cho họ kịp thu dọn các vật dụng cá nhân của họ nữa. Đó là tình hình của cộng đồng người Pháp khi Đại Sứ M. Mérillon được "gọi về" Ba Lê, hồi đầu tháng 6. Một thông cáo báo chí của Tổng Thống Phủ từ Ba Lê đã xác nhận: - "Trái hẳn với những gì mà một vài thông tấn báo chí đã dự đoán từ trước , sự ra đi của Đại sứ Mérillon không phải do CPLTCHMN bắt buộc" Quả nhiên điều nầy rõ ràng là rất đúng với sự thật cũng giống như cái CPLTCHMN không bao giờ có mặt ở Sài Gòn vậy ! Thói quen nổi bật nhất của các nhà ngoại giao là hay "chơi chữ", là chuyển đổi những điều "lăng nhục" ra thành những sự "hiểu lầm" Nhưng sự kiện là sự kiện, không thể nào biến thể nó một cách dễ dàng được . Ông đại sứ Jean Marie Mérillon đã rời khỏi nước Việt Nam mà không bao giờ được tướng Trần văn Trà tiếp kiến. Tướng Trà là chánh quyền duy nhất tại Sài Gòn . Người ta nói là ông Mérillon đã gặp một số "cán bộ cách mạng ", trong khi người đồng nhiệm Bắc Việt của ông ở Ba Lê lại danh dự được điện Élysée tiếp kiến. Một ngày trước khi ông rời khỏi Miền Nam Việt Nam , ông được gọi tới Bộ Ngoại Giao. Ông đã gặp 3 nhân vật vô danh vì đứng trước mặt ông họ không thèm xưng danh tánh, cấp bậc của họ. Họ "cám ơn" ông về hoạt động của ông và thông báo cho ông biết là sẽ có "một người nào đó thuộc ban nghi lễ" sẽ đợi ông ở phi trường để giúp ông khỏi bị phiền phức về thủ tục khai báo với Công An và Quan Thuế. Đúng giờ, có một công chức cũng vô danh đã đợi ông Đại Sứ Pháp để đưa ông đến tận phi cơ và cho ông được ưu tiên lên phi cơ trước những hành khách khác. Đó cũng là một niềm an ủi cho một chút tự ái mỏng mành cho một người Đại diện của một quốc gia đã từng đóng góp "quá nhiều cho nền hòa bình" ! Tuy nhiên đức tánh bình dân của ông Đại sứ Jean Marie Mérillon đã đặc biệt bị hạ quá thấp so với những người Pháp ở Sài Gòn . Có một số người đã nói ; - " Ông Đại sứ đã thực hiện một tiết mục lớn : Ông đã thúc hối cho ông Thiệu sớm rời khỏi chức vụ, và sau đó cả ông già Hương nữa để đưa cho được tướng Dương văn Minh lên. Ông đã tưởng rằng như vậy là đã đem lại hòa bình và một sự hòa hợp. Nhưng ông ta chỉ thành công trong việc nhanh chóng làm tan rã nền chánh trị của Miền Nam và đưa Miền Nam đến một sự đầu hàng không điều kiện mà thôi. Trước ngày mất thủ đô, người ta chỉ thấy có một mình ông Đại Sứ Pháp. Nhưng sau đó thì ông đã biến thành một luổng gió... Và giờ đây ông ra đi, để lại sau lưng ông trên mười ngàn con tin người Pháp..... Thật vậy, nước Pháp có quyền hy vọng một ân huệ nào đó trong thái độ đối xử - để tưởng thưởng những nỗ lực của mình - Nhưng trái lại nước Pháp chỉ nhận được những điều ức hiếp và lăng nhục ! Ngược lại, những Đại diện của Hà Nội và của CPLTCHMN ở Ba Lê (có mặt thường hơn ở thủ đô Pháp hơn là ở thủ đô Miền Nam) lại được hưởng một sự tự do phát biểu và tự do đi lại trong toàn lãnh thổ nước Pháp. Vấn đề an ninh của họ được hoàn toàn bảo đảm. Họ được có những đoàn hộ tống chánh thức. Báo chí và đài phát thanh đã giúp họ phổ biến những bản tuyên bố và thông cáo báo chí. Họ lại được bênh vực luận cứ và quan điểm của họ trên đài truyền hình. Chánh Phủ Pháp không hề gây cho họ bất cứ một khó khăn hay phiền toái nào. Phải chăng đó là một điều không hợp lý khi phải đòi hỏi để đơn giản có được một sự đối xử tương ứng ? Sự ra đi của Đại Sứ Pháp Jean-Marie Mérillon khi ông chỉ thật sự là một nhân viên thừa hành trung thành với đường lối chánh trị lệch lạc từ Bộ Ngoại Giao của ông ta , đã không giúp cải thiện được bao nhiêu những mối giao hảo giữa "chánh quyền cách mạng" và các công dân người Pháp của chúng tôi. Trong đêm 16 rạng 17 tháng 6, bệnh biện Grall bị các "bộ đội" với súng ống đầy đủ, vây kín. Các binh sĩ Bắc Việt và các sĩ quan an ninh tràn vào lục soát khắp nơi : các phòng mổ, các tủ thuốc, phòng của các bác sĩ và của những người bệnh. Họ đã nói là họ muốn "biết chắc chắn là không có một vũ khí nào được cất dấu trong bệnh viện và không có một người nào ở phòng bịnh nhân bị coi là trong tình trạng bất hợp lệ. Đến sáng ngày 17 / 6 tờ "Sài Gòn Giải Phóng loan báo là kể từ nay chỉ có một ngân hàng duy nhất ở Việt Nam .Tất cả các ngân hàng khác, của quốc gia, của tư nhân hay của ngoại quốc đều phải đem nộp hết sổ sách, chương mục, và bản kết toán cho ngân hàng quốc gia mới của Việt Nam. Các biệt thự của nhân viên ngoại quốc đều bị sung công. Các thanh tra phải vào tạm trú ở các cư xá thuộc 3 ngân hàng: Ngân Hàng Á Châu của Pháp, (tên địa phương là Ngân Hàng Đông Dương) , Ngân Hàng Thương Mại Pháp và Ngân Hàng B.N.P. Các ông giám đốc của ba ngân hàng nầy thảo một bản tuyên bố chung gởi cho Ban Quân Quản, có đoạn kết như sau : - " Trong hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi không thể nghĩ tới bất cứ một hình thức hợp tác kỹ thuật nào và chúng tôi chỉ có một nguyện vọng: được trở về Pháp càng sớm càng tốt." Các hãng "Chargeurs Réunis" và "Messageries Maritimes" từng phụ trách hầu hết dịch vụ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển đến Âu Châu đã nhận được lệnh phải ngừng hoạt động để biến thành một công ty quốc doanh độc quyền của Nhà Nước . Ba ngày sau khi ông Giám Đốc hãng thuốc lá Đông Dương trở về Pháp thì hãng thuốc lá nầy bị chiếm giữ ngay. Hãng thuốc lá Bastos và hãng bia và nước ngọt nước đá Đông Dương (Brasseries-Glacières d'Indochine) chỉ sản xuất 30 % năng suất vì đã gặp nhiều khó khăn với các "ủy ban của xí nghiệp".. - Vì gia đình đã về Pháp từ tháng 4 nên các giáo sư sống xa gia đình, (các trường học đều bị đóng cửa).; các bác sĩ quân y mãn khế ước, các nhân viên xí nghiệp đang ngừng hoạt động, các thương gia không có khách (tiệm tùng bị đóng cửa, các khách sạn bị trưng dụng) ... tất cả những người nầy sống thu hẹp như một xã hội bị đóng kín trong sự tuyệt vọng và buồn nản..Trong khi chờ đợi các đường hàng không có thể được cho mở lại, họ không có việc gì làm, nên chạy đi chạy lại thăm nom nhau để giết thì giờ, rồi mang hết những gì họ còn lại như rượu và thức ăn ra ăn nhậu cho hết. Nhưng sự bực dọc của các anh "bộ đội" thường gây ra những chuyện rắc rối bực mình cho những người Pháp nầy (như xét căn cước liên tục, viếng nhà bất thần và thường xuyên, không cho di chuyển) vì họ cho là những người ngoại quốc nầy khinh thường họ khi lái xe hay khi ngồi tán gẫu trên sân thượng , nên bất cứ một vi phạm nhỏ nào họ cũng có thể bị đưa tới công an để được nghe những lời giáo huấn hằng giờ... hoạc nghe thuyết về sự cần thiết phải thay đổi "tánh phản động" của mình. - Tất cả những đồn điền cao su lớn đặt dưới quyền chỉ đạo của một "ủy ban cao su" hiện nay do nhân viên Việt Nam quản lý, phối hợp với chánh quyền địa phương. Một số nhà trồng tỉa phải trở về Sài Gòn và họ tuyên bố là lúc nào cũng sẵn sàng giữ một vai trò cố vấn kỹ thuật , nếu chế độ mới đòi hỏi. Nhưng chánh quyền cộng sản đã cho họ biết là họ "chỉ mong hợp tác với những người chưa bao giiờ làm việc ở Việt Nam trước ngày chiến thắng của cách mạng". Họ đã chỉ rõ ràng cho thấy ví dụ như "những linh mục, những chuyên viên hay những nhà ngoại giao" đã từng có những quan hệ với chánh quyền bù nhìn của ông Thiệu trước khi ông nầy ra đi." Những người Việt Nam có quốc tịch Pháp tiếp tục vây quanh văn phòng Di trú và tòa Lãnh Sự Pháp (Sài Gòn giờ đây đã xuống hàng thành phố cấp vùng nên chỉ được phép có một đại diện Lãnh sự, các tòa đại sứ đều ở Hà Nội). Không một người nào được phép hồi hương vì là "công dân da vàng". Ba Lê vẫn không thể làm gì được trong lúc nầy. Và các công chức trong lãnh sự quán chỉ biết nói là sự di tản của tất cả người Pháp" nói chung có thể đòi hỏi 2 tháng hoặc 2 năm". Những đồng bào Pháp nào đã ra đi được sau một thời gian chờ đợi khá lâu đều phải giao chìa khóa nhà và chìa khóa xe của họ cho chánh quyền mới để họ "quản lý giùm". Họ chỉ được quyền mang theo "quần áo và giấy tờ cá nhân" mà thôi. Họ không được rút tiền từ chương mục ngân hàng của họ. Họ không được phép nhờ một thân nhân hay môt bạn thân nào coi sóc giùm căn phòng , biệt thự hay xe cộ của họ. Các tài sản nầy không phải bị cưỡng đoạt mà chỉ bị di lý thôi để giao lại cho "nhân dân quản lý" trong khi chờ đợi bị sung công... Và chờ thủ tục bồi thường. Trong ngắn hạn, dù sao thì sự có mặt một trăm năm của người Pháp ở Việt Nam cũng đã được bôi xóa đi một cách quá nhanh chóng. Sau ba mươi năm cách mạng và tranh đấu, không phải chỉ để dùng tên của bao nhiêu những vị anh hùng mà kẻ chiến thắng không bao giờ thiếu, để thay thế vào tên đường như tên của ông Pasteur chẳng hạn. * * * Trong tuần lễ thứ ba của tháng 7, một người Pháp từ Sài Gòn về nước đã trao cho tôi một bức thơ của một ông bạn Việt Nam của tôi, giáo sư T.. .mà ông đã viết từ lâu không gởi được . Bức thơ viết : - " Anh Pierre thân mến, Có quá nhiều biến cố đã xảy ra từ sau lần chúng ta gặp nhau chỉ mới vào khoảng cuối tháng 4 đây thôi nhưng tôi có cảm tưởng là chuyện đã xảy ra cả trăm năm trước và trong một thế giới khác không bằng. Đứa con trai lớn của tôi, thằng Viên. là trung úy ở sư đoàn 18 bộ binh, đã bị tử thương trên đường Long Thành ngày 29 tháng 4. Nó được 24 tuổi. Nhưng ba đứa khác thì lại được đoàn ngũ hóa vào những hội đoàn mới. Chúng nó đi vẽ biểu ngữ trên tường, và đi kiểm kê những người dân tỵ nạn. Nổi buồn của chúng tôi không thể diễn tả ra bằng chữ được. Tôi đã cố gắng gạn lọc những tư tưởng của tôi vì tôi có quá nhiều điều phải nói với anh.. Nhưng trước hết tôi cố gắng cho anh biết qua một số tin tức hay hay. - Tinh thần của quân đội Miền Bắc cả ở Sài Gòn và ở Đồng Bằng sông Cửu Long, không có quá tốt như người ta đã tưởng đâu. Họ đào ngũ quá nhiều . Đài phát thanh cộng sản và các bản thông cáo dán ở trên tường thường xuyên cảnh giác dân chúng không được chứa chấp những binh sĩ đào ngũ nếu không sẽ bị "nghiêm trị". Lúc họ vào Sài Gòn, các "bộ đội và cán bộ có rất nhiều tiền đồng (của Miền Nam ) mà họ đã thu nhặt được trong các cơ quan của chánh quyền ở các thành phố mà họ vừa chiếm được. Phần đông đã dùng tiền nầy để mua đồng hồ tự động, quẹt máy và rất nhiều món khác mà họ chưa từng thấy biết qua bao giờ. Hết tiền rồi họ trở lại tình trạng thật sự như trước, nghĩa là không sáng sủa gì cả. Để giữ tinh thần họ, cấp chỉ huy đã tăng gấp đôi phụ cấp gạo cho họ. Nhưng lương thì không tăng: 1200 $ hằng tháng.Chỉ vừa đủ mua 4 bao thuốc lá. Có một số binh sĩ đã bị động viên nhiều năm rồi rất là bất mãn vì không được phép trở lại gia đình. Theo ước tính của họ thì họ nghĩ rằng họ còn sẽ bị lưu giữ lại ở Miền Nam từ hai năm tới hai năm rưỡi nữa.. Nhiều đơn vị tác chiến vừa được thông báo là họ sẽ qua một khóa huấn luyện đặc biệt trong thời gian 18 tháng để được chuyển thành "lực lượng gìn giữ an ninh và trật tự". -Trên phương diện kinh tế, chánh quyền cộng sản chưa có một biện pháp nào thuyết phục hết. Một đội ngũ được gọi là chuyên viên tài chánh (đúng hơn phải gọi họ là nhân viên kế toán ) đã từ Hà Nội vào đây với những thùng "bàn toán" của Tàu (trong lúc tất cả ngân hàng và các công ty xí nghiệp sẽ được họ kiểm soát đã và đang xử dụng máy điện toán). Các "ông chuyên viên" nầy thường nhắc đi nhắc lại với những ai muốn nghe là ưu tiên hàng đầu của họ là phải " đập tan bộ máy kinh tế bù nhìn". Theo họ thì đời sống của người dân ở thử đô Sài Gòn quá dễ dàng là nhờ viện trợ của Hoa Kỳ . Hầu hết dân chúng Sài Gòn chỉ là những con "ký sinh trùng" sống ăn bám vào mưu mô thủ đoạn và sự đầu cơ. Tất cả những tích trữ trong ngân hàng sẽ bị tịch thu hết. - Tiền lương của tất cả những công chức và chuyên viên được giữ lại trong nhiệm vụ của họ sẽ được trả phân nửa bằng gạo và phân nửa bằng tiền. Lương thấp nhất được 10.000 đồng (khoản 120 quan Pháp) và phụ cấp gạo: 10 kí lô cho mỗi người lớn và 5 kí lô cho trẻ con. Lương cao nhất không được quá 25.000 đồng (tương đương 250 quan Pháp). Các cán bộ địa phương của Mặt Trận khuyên những nhà buôn nên mua vàng và hàng vải hơn là tích trữ tiền mặt. Có nhiều cuộc chuẩn bị cho thấy sắp sửa có đổi tiền cũ lấy tiền mới. Chánh quyền sẽ hành động bất thần, không báo trước, và thời gian đổi tiền chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Tiền mới đã được in rồi (1) - Đời sống đã đổi thay khác hết. Không ai còn tìm đâu được một giọt xăng. Tất cả đều phải đi xe đạp ( hãng L'U.C.I.A của người Pháp đã gặt được một mẻ to vì đã bán hết số xe đạp còn tồn kho). Chánh quyền cũng có cho mở lại vài trạm xăng, nhưng chỉ dành cho xe buýt và xe vận tải công cộng. Cho đến những ngày đầu tháng 6, các chợ còn được tiếp tế khá đầy đủ và giá cả còn được bình thường. Trừ ra cá, càng ngày càng ít đi và càng ngày càng mắc. Cũng vì không có đủ xăng, 90 % tàu đánh cá không thể ra khơi được . Vào tháng 6, gạo đã bắt đầu khan hiếm. Các chợ không nhận được gạo. Có kêu than cũng vô ích thôi. Mà nếu như chợ có đầy đủ như trước kia ... thì chúng tôi cũng không còn tiền. -Những bạn bè từ Miền Trung vào đã nói với tôi là hầu hết tất cả vùng ngoài đó đã bị cộng sản kiểm soát khá chặt chẻ, đến độ chỉ có lá cờ đỏ sao vàng của Hà Nội được treo ở các quận lỵ của tỉnh. Cuộc thanh trừng thật là khủng khiếp. Tất cà những sĩ quan trình diện đi học tập đã được đưa đi các trại lao động khổ sai ở tận trên núi rừng. Họ phải mở những con đường xuyên qua rừng rậm, để chở những mảng gổ to và những tảng đá nặng. Vì khí hậu ở đó quá khắc nghiệt và không được trong lành, lại thiếu thuốc men, mặc không đủ ấm, ăn không đủ no.. nên họ chết rất nhiều .Phần lớn các Cảnh Sát đã bị hành quyết. Con gái hay những bà vợ góa của các quân nhân, của những người tư bản và của những công chức cao cấp , bị gả ép cho các thương phế binh Bắc Việt để vừa làm bạn vừa làm y tá cho họ. - Trái lại, ở Vùng Đồng Bằng và ở Sài Gòn tình trạng mất an ninh và vô trật tự càng ngày càng lớn. Trộm, cướp, và ám sát ngày càng nhiều . Báo chí và đài phát thanh cộng sản quy trách cho binh sĩ của "chế độ bù nhìn cũ đã dùng vũ khí của họ để hành động phá rối trị an" . Chuyện đó còn phải chờ xem, vì từ ngày chấm dứt chiến trận, các cựu quân nhân của quân đội chúng tôi sống vất vưởng không có một lợi tức nào cả. Họ đâu còn lãnh lương, không có quyền lãnh một hột gạo và dĩ nhiên là thất nghiệp. Nhưng không phải chỉ có những anh cựu quân nhân mà thôi. Còn có những anh "chiêu hồi", những anh Việt Cộng đã trở về vời quân đội VNCH. Có khoản 200.000 người . Cộng sản Bắc Việt đã cho lệnh họ phải trở về với những đơn vị cũ của họ trước kia. Khiếp sợ vì phải rơi trở lại vào tay của những người mà họ đã chối bỏ và đã chống lại trước kia nên họ lẩn trốn và sống gần như ngoài pháp luật. - Cộng sản cũng đã phạm nhiều lỗi lầm không giải thích được .Trong tuần lễ đầu của tháng 5, họ đã mở cửa các khám và đã thả ra tất cả tội phạm, kể cả những người mắc bệnh tâm thần ở bệnh viện Chợ Quán.Tất cả những tội phạm đều không phải là tù nhân chánh trị , mà có cả ngàn người trong số được thả ra là những tội phạm hình sự, phạm tội giết người và trộm cướp chuyên nghiệp. Những bệnh nhân tâm thần ở Chợ Quán phần đông là những người điên rất dữ dằn, rất nguy hiểm cho xã hội . Chuyện thả hết những tôi phạm bất lương và những người điên chỉ làm cho tình hình trở nên trầm trọng thêm mà thôi. - Ở trung tâm Sài Gòn thì sự kiểm soát có phần khá hơn, nhưng trong tất cả những khu vực đông dân và ở ngoại ô, thì ban đêm thường có những sự đụng chạm. người ta thường nghe tiếng súng nổ. Trong những khu vắng vẻ ở Phú Nhuận và Tân sơn Hòa, có những vụ trộm, những vụ ném lựu đạn, và ám sát có khi xảy ra cả ban ngày. Chúng tôi được biết là hiện nay có những chiến khu ở nhiều nơi trong vùng Đồng Bằng, cũng như trong rừng và vùng đầm lầy ở Miền Đông của Sài Gòn . Có một số binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến , biệt động quân và lính Dù còn đầy dủ trang bị, di chuyễn gần như khắp nơi và phục kích. Ở Miền Tây thì Hòa Hảo nổi dậy chống đối công khai. Họ tấn công các đoàn xe cộng sản , bắn phá các trung tâm đô thị, và phá hoại các đường dây liên lạc . Ở Cao nguyên, có hàng chục ngàn đồng bào Thượng đốt bỏ làng rút vào rừng sâu. Về những chuyện như thế chúng tôi biết nhiều chi tiết chính xác, nhưng nếu viết ra đây thì quá dài. Bạn của anh là Paul Ph. biết rành các chuyện nầy. Chắc không bao lâu nữa anh ta sẽ về Ba Lê, vì anh là công dân Pháp. Anh ta có liên lạc được nhiều nơi, và đã đi lại khá tự do. Tôi thích nói cho anh vài chi tiết về những người công giáo. Những trận đánh cuối cùng, đẫm máu nhứt và khốc liệt nhứt không phải do các đơn vị chánh quy của Miền Nam Việt Nam mà là do những anh dân vệ công giáo ở Hố Nai. Có nhiều em chỉ mới vừa 15 tuổi đầu, do các linh mục chỉ huy, cầm thánh giá và lá cờ vàng trắng của Đức Thánh Cha, đã chiến đấu dữ như cọp . Họ đã phá hủy được 8 chiến xa T. 54 chỉ bằng lựu đạn và các chai xăng "mô lô tốp (molotov) và đốt cháy nhiều xe vận tải chở đầy lính Bắc Việt . Trận chiến đã kéo dài trong 2 ngày và hai đêm.. Lúc trước, khi quân đội chánh quy Miền Nam đóng ở Hố Nai rút đi, lực lượng dân vệ ở đây đã giữ lại được mấy khẩu pháo binh và đã xử dụng. Linh hồn của trận chiến là cha Sữu người mà anh đã từng biết rõ. Ông đã bị tử thương. Các em dân vệ đã đem được ông vào nhà và ở đó chiến đấu luôn mấy giờ. Những người sống sót, hầu hết đều bị thương, đã bị cộng sản đem ra xử bắn hết... Ở Sài Gòn , người công giáo trên nguyên tắc không có gì lo lắng hết. Các nhà thờ đều mở cửa và các linh mục được phép làm lễ. Các nhà thờ đều đầy nghẹt tín đồ. Nhưng cũng vẫn có nhiều chuyện rắc rối đã xảy ra : - Chuyên thứ nhất nhằm vào Đức Ông Le Maitre đại diện của Tòa Thánh Vatican . Các tín đồ tiến bộ (cánh tả) đã tràn ngập vào Tòa Đại diện của Tòa Thánh. Họ lôi Đức Ông và thơ ký của ông ra ngoài đường, ở đó họ đang họp mết tinh để tố khổ. Đức Ông bị họ lên án là đã hỗ trợ cho hành động của Chánh Phủ bù nhìn của ông Thiệu. Họ xô đẩy và la ó lớn tiếng với Ông. Những người trong mết tình đã hạ lá cờ của Tòa Thánh Vatican xuống và thay vào đó lá cờ của CPLTCHMN. Cảnh Sát đã đến can thiệp bằng cách bắn chỉ thiên vài phát súng. Đức Ông được giải tỏa và được dẫn lên phòng của ông . Nhưng sau đó Ban Quân Quản đã trao cho ông một quyết định trục xuất, với lý do :" sự hiện diện của Ông sẽ làm xáo trộn trật tự công cộng" Và Đức Ông đã rời khỏi nước Việt Nam - Một chuyện rắc rối khác, quan trọng hơn nhiều, được xảy ra vào đêm mồng 4 tháng 6, ở khu Trương minh Giảng mà như anh đã biết đó là một địa bàn của những người công giáo cứng đầu, khó chịu nhất. Ngày 3 tháng 6, có vài trăm tín đồ cánh tả đã biểu tình đòi Đức Cha Thuận phải từ chức. Đức Giám Mục Ngyễn văn Thuận vốn là cháu của Tổng Thống Diệm và là Giám mục của địa phận Nha Trang, mà Vatican vừa mới bổ nhiệm ông vào nhiệm vụ Phụ Tá Đức Tổng Giám Mục Địa phận Sài Gòn .Đức Cha Thuận là người được mọi người giáo dân thương mến và kính trọng, kể cả những người không phải là tín đồ cũng vậy. Hàng ngàn tín đồ công giáo thuộc giáo khu Fatimah đã tổ chức một cuộc xuống đường chống-biểu tình và hô to những khẩu hiệu chống cộng sản . Vì đã quá giờ thiết quân luật, nên một đội tuần tiễu của "bộ đội" đã đến cánh cáo họ phải giải tán. Các giáo dân đã giựt chuông inh ỏi ở các nhà thờ. Đám biểu tình đã giải giới mấy anh "bộ đội" và đã đánh đập họ. Quân đội đã đến can thiệp và có bắn vào đám đông. Có 2 người chết và 6 người bị thương. Ngày hôm sau người ta tìm thấy xác của 3 chú "bộ đội" bị cắt cổ và được treo ở thành cầu. Còn đức cha Thuận thì bị bắt buộc phải rời khỏi Tòa Giám Mục và về sống ẩn cư ở Nhà Dòng lớn. Ở Miền Trung và các tỉnh ở Miền Nam , tất cả cơ sở tôn giáo (trường học, nữ tu viện, cơ sở y tế lớn nhỏ...) đều bị sung công và xử dụng làm trại lính. - Trong khu vực của tôi, từ 5 ngày nay những sự khám xét càng ngày càng tăng và lương thực càng ngày càng khan hiếm.. Là một giáo sư về Luật, tôi không còn có việc làm nữa. Như thế là không có lợi tức. Tuy vậy mà tôi cũng phải tham gia vào các"buổi họp tập của các luật gia" để tự "cải tạo" mình Người ta chỉ bàn cãi về chánh trị . Mọi người đều tranh đua nhau tưởng tượng để sáng chế ra những khẩu hiệu mới mẻ theo chìu hướng " Pháp luật dính liền với chánh trị , đó là một công cụ đấu tranh, một phương tiện để đạt tới mục tiêu cách mạng " . Đó là một khẩu hiệu quá ngu xuẩn, nhưng khi người ta lập đi lập lại nhiều lần và viết đi chép lại chừng ngàn lần, người ta không còn nhớ rõ tại sao người ta đã bắt đầu phải học Luật . Thà là tôi chịu khó đi cuốc đất, xuống hàng cho các xe vận tải hay cưa củi. Có thể người ta sẽ đưa tôi đi một trại lao động. Tôi là một tín đồ Thiên Chúa giáo như anh Pierre đã biết đó. Nhưng có đôi lúc tôi thấy Đức Chúa Trời ở xa Việt Nam quá ! Và tôi có cảm tưởng rằng chúng tôi còn phải ở lâu lắm trong thế giiới cộng sản ." * * * Đầu tháng 8. sau 3 tháng thương lượng đầy gay go và thất vọng, cuối cùng nước Pháp cũng mở được một cầu không vận với Sài Gòn, để di tản trong thời gian hơn một tháng, 1600 công dân Pháp. Còn những người khác thì sao ? Chú thích : (1).- Tiền mới đã được thực sự lưu hành trong tuần lễ thứ hai của tháng : Tiền đồng (nặng) trị giá 500 đồng tiền cũ của Miền Nam hay là 3 quan Pháp. Nhưng mỗi người chỉ đổi được có 200 đồng (tiền mới), tất cả người Việt Nam và người ngoại quốc đều được lệnh phải đem nộp cho Ngân Hàng Quốc Gia số tiền còn lại mà họ đang có. |
|
#43
|
|||
|
|||
|
CHƯƠNG HAI MƯƠI SÁU
THẬT CHUA CHÁT THAY CHO CÁI GỌI LÀ "GIẢI PHÓNG"!!! Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 9, anh Phạm, một người bạn của tôi, cuối cùng được một chỗ trên chuyến bay về Pháp. Khi vừa đến Ba Lê, anh điện thoại cho tôi ngay tại phi trường Roissy: - " Tôi phải đi gặp anh liền, để cho anh biết, để cho anh nói với tờ báo của anh những gì đã xảy ra ở Sài Gòn . Trầm trọng lắm !" Anh bạn tôi có vẻ bị quá căng thẳng , bị kích thích quá độ như một người vừa bị một cú sốc nặng, muốn phản đối và kêu cứu vậy . Đó không phải là thói quen của anh. Anh Phạm là một người Việt Nam , người Miền Tây, đặc biệt rất cứng cỏi và rất bình tĩnh. Anh là một sĩ quan thiết giáp, tỵ nạn chánh trị ở Pháp từ năm 1955, sau đó anh đã tiếp tục học và đã giật được bằng kỹ sư điện toán và cử nhân hóa học một cách vẻ vang.. Anh ta có một chỗ đứng vững chắc trong một công ty viễn thông lớn từ hai mươi năm nay. Vào dân Pháp năm 1958, anh chưa về Việt Nam lần nào từ hai mươi năm nay. Hôm 2 tháng 4 vừa rồi anh trở về Sài Gòn để thăm gia đình anh, và bị kẹt lại đó trong 4 tháng. Tôi phải gấp rút đi gặp anh bạn tôi mới được. Tôi gặp lại bạn tôi, lúc nầy người trông quá gầy, vẻ mặt mệt mỏi, với cặp mắt lo lắng bồn chồn. Anh nắm tay tôi trong hai bàn tay của anh thật chặt và nói với tôi một hơi -" Anh Pierre ơi, ở Sài Gòn chỉ còn có một sự đói rách khốn khổ, một nỗi thất vọng, một sự chống đối và một cái chết mà thôi. Con người đáng ghét nhất đáng khinh nhất ở Miền Nam ngày nay không phải là ông Thiệu, cũng không phải tướng Trần văn Trà, mà là tướng Dương văn Minh. Chẳng những ông ta đã bán đứng Miền Nam mà ông ta đã cúi đầu quy lụy trước những người cộng sản Bắc Việt . - Hãy bình tĩnh đi ông bạn ơi, Anh hãy cố gắng sắp xếp những ý của anh cho có thứ tự một chút đi... Anh Phạm nhìn tôi như một người mộng du, đang tập trung vào một thế giới nào đó mà chỉ có riêng một mình anh biết thôi, rồi mới nói: - "Anh không thể nào hiểu được cái gì đã xảy ra bên đó đâu. Anh không thể nào tưởng tượng nổi là tất cả đều đã thay đổi hết. Và cả một sự thù hận !.... Anh ta ngưng một lúc, lấy tay dụi cặp mắt như một người ngủ vừa mới thức dậy, một người vừa mới qua một giấc mơ hãi hùng, rút từ trong túi ra một cuốn sổ tay màu đen, lật qua lật lại vài tờ rồi nói: - " Tôi giữ được cuốn sổ tay nầy qua cuộc khám xét. Tôi có ghi lại rất đầy đủ, tất cả những gì tôi đã thấy, đã nghe và đã hiểu được .Trong suốt hai mươi năm qua, tôi gác bỏ chánh trị ra ngoài tai. Đến tháng 3 năm nay, khi tôi nằm rất thoải mái ở ghế phô tơi để xem truyền hình ở Ba Lê, cũng như tất cả những người Pháp khác, tôi tưởng người Việt Nam chạy trốn chiến tranh hoặc là họ đã bị sự tuyên truyền chống cộng đầu độc. Anh biết không, thật sự tôi đã lầm ! Bây giờ tôi mới hiểu là tại sao người Việt Nam đã chạy trốn đầy đường. Không phải họ chỉ chạy trốn đạn pháo và các đơn vị cộng sản Bắc Việt . Mà họ thật sự chạy trốn bộ máy ở phía đằng sau bộ đội cộng sản đó anh Pierre ! Các loa phóng thanh, các sự tố giác và lên án, mọi sự chuyển đổi bắt buộc của đời sống, những trại tập trung cải tạo, những tòa án nhân dân, và những "cán bộ" vừa cuồng tín vừa cuồng nhiệt không mệt mỏi, mặt lạnh như tiền, ngoan cố và khắt khe còn hơn các thầy tu của Tòa án Dị giáo. Những tên cán bộ nầy khi họ nắm được anh rồi, họ không bao giờ buông tha anh ra cho đến khi nào anh phải tưởng tượng tìm ra được những trọng tội của mình để mà tự thú tội mới xong . có nghĩa là cho tới khi nào anh phải tự nhận là anh có phạm tội dù đó là một tội trạng do anh tưởng tượng ra, nghĩa là cho tới khi nào anh chối bỏ tất cả, chối bỏ tín ngưỡng của anh, chối bỏ bạn bè của anh, gia đình của anh, cho tới khi nào anh hội nhập vào giáo hội của họ, vào lý thuyết của họ, vào lối sống của họ... dĩ nhiên là đi ngược lại hết với đời sống cũ... Anh Phạm ngừng một vài giây rồi lại tiếp tục: - " Tôi đã nhìn thấy bộ máy đó điều hành rồi, nó núp kỹ ở đàng sau các "bộ đội" ngây ngô từ Miền Bắc đi vào Miền Nam . Nó rất là khủng khiếp. Tôi sẽ cố gắng giải thích cho anh, cố gắng kể cho anh nghe những gì tôi đã thấy. Tất cả binh sĩ vào chiếm Sài Gòn đều cầm là cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.mà họ gọi là "lá cờ của C PLT CHMN". Dân chúng Miền Nam đều nghĩ rằng: "giữa người Miền Nam với nhau, cuối cùng rồi người ta cũng có thể thỏa thuận được với nhau, để có được một giải pháp". Nhưng làm gì có người Miền Nam ? Chỉ có toàn là "bộ đội" người Bắc . (nguyên tác :des Tonkinois), những chú "nhà quê" chỉ thích mua những chiếc đồng hồ có chỉ ngày tháng mà từ ngày cha sanh mẹ đẻ họ mới được thấy lần đầu tiên và họ gọi là "đồng hồ có cửa sổ", và họ thích chụp ảnh với các anh phó nhòm chuyên chụp dạo ở ngoài đường phố. Người dân Sài Gòn bắt đầu gọi họ là "những con ếch" vì họ mặc quân phục màu xanh lá cây và thường "đi hai hàng". Cũng không có gì quá đáng lắm đâu. Chỉ châm biếm chơi thôi. Và các sĩ quan thì vào ở khách sạn. Họ chưa từng được thấy thang máy bao giờ. Một ngày nọ, ở khách sạn Palace, tôi được chứng kiến một cảnh đặc biệt lạ lùng. Một bà cụ già dùng thang máy đi lên lầu ba. Một cô gái còn trẻ cũng dùng chiếc thang máy đó để đi trở xuống, khi cửa mở cô gái bước ra và đi về phía trước. Một anh sĩ quan người Bắc đang đứng ở tầng trệt, bước lui lại mấy bước và kinh ngạc la lên: "Đây là máy móc gì đây ? kỳ lạ vậy ? Một bà cụ vừa bước vào đây đi lên, bà ta rất già, nhưng lúc trở xuống thì bà ta trẻ lại gần 50 năm !" Nghe tôi nói như vậy chắc có người cho là tôi kể chuyện lịch sử của thành phố Marseille hồi xa xưa phải không anh? Nhưng không, đây là một chuyện thực, một chuyện sống ! Còn nhiều chi tiết nữa lắm. Anh có muốn tôi kể thêm cho anh nghe không? Họ cũng không bao giờ thấy biết những phòng tắm nữa. Họ lấy nước trong những cầu tiểu của mấy bà để rửa mặt. Có một buổi chiều các thương gia và mấy ông "Bang" Tàu vừa "hiến" cho quân đội giải phóng một bệnh viện tư lớn nhất ở Chợ Lớn và đã mở tiệc khoản đãi các sĩ quan cao cấp của họ. Tối đến, người Tàu cho gọi mấy nhiếp ảnh viên tới để chụp ảnh . Họ chụp ảnh bằng đèn . Khi ánh đèn chớp của máy ảnh vừa lóe lên, các sĩ quan đều đứng bật ngay dậy và cùng rút súng lục ra. Họ tưởng đó là một cuộc mưu sát. Tất cả những giai thoại nầy cả Sài Gòn ai cũng biết hết cả. Người dân ở thành phố cười riễu. ! Họ không thể nào hiểu được là những người mà họ đang khi dể nầy chỉ biết có những làng mạc nghèo khổ, những trại huấn luyện, núi rừng và chiến tranh. Một thế giới mà không hề có một chiếc tủ lạnh, hoặc một máy ghi âm, cũng không có khách sạn, không có đèn chớp để thu hình ban đêm. Khi người ta cười là người ta tưởng là mình che dấu cái lo sợ của mình. Nhưng dân chúng Sài Gòn đã nhanh chóng hiểu rằng "họ cười là sai" . Đã có những chuyện rắc rối xảy ra.. Các chú "bộ đội" đã bắt gặp kẻ trộm đang chuyển xăng trong nón sắt của họ, và kẻ trộm đã bị bắt buộc phải uống hết những gì họ chứa trong nón sắt của họ. Họ đã bắt được những anh móc túi, và họ đã dùng súng lục bắn vào hai bàn tay của những người nầy trước khi thả cho họ đi. Sau đó họ cũng sẽ cho thấy là họ cũng xử binh sĩ của họ y như vậy. Một anh tài xế xe Molotova đã cán chết một em bé ở Gia Định. Bà mẹ la lên, đám đông tựu lại đòi phải được sửa chữa. Anh trưởng xa đề nghị bồi thường ba bao gạo. người mẹ từ chối hẳn và nói lớn :"Anh ta giết chết con tôi, tôi muốn anh ta đền mạng". Nghe vậy, người trưởng xa lập tức lấy cây súng của một "bộ đội" gần đó và cho ngay một phát đạn vào đầu anh tài xế. Và về sau đó đã có những cuộc xử tại chỗ các phạm nhân bị trói tay và được cột vào hai miếng gỗ, ngay trên đường phố, như vậy gọi là để làm gương . Kể từ đó dân chúng Sài Gòn mới thấy sợ và họ bắt đầu nói là "Họ còn độc ác hơn bọn Nhật nhiều !" Nghỉ một chút để hút thuốc, anh Phạm kéo một hơi dài thật ngon rồi lại tiếp tục kể : - " Kỷ luật sắt và sự tàn ác của mấy chú "bộ đội" đã gây xúc động cho người dân Miền Nam . Nhưng họ còn chưa biết bọn "cán bộ" đảng viên của đảng cộng sản . Bọn nầy không có mặc quân phục xanh như "bộ đội". Họ thường mặc quần dài màu xám hay màu sậm hơn và một áo sơ mi trắng không bao giờ ủi và bỏ ra ngoài. Đó mới thật sự là chủ nhân ông. Họ không ồn ào nhưng có mặt khắp mọi nơi. Họ quan sát, đặt câu hỏi, ghi vào sổ tay, tìm hiểu, nghiên cứu và quyết định. Họ là những người hướng dẫn các lớp học tập cải tạo. Lúc ban đầu, người dân Sài Gòn thấy mình tiến bộ nhưng còn hoài nghi . Họ đã theo các buổi học tập cải tạo nầy với cảm nghĩ là mình đang ở một lớp mẫu giáo dành cho những em bé chậm tiến. Họ hát theo những gì người ta bắt phải hát, họ cũng vỗ tay , cũng lập lại những gì họ bảo phải lập lại . Khi bước ra khỏi lớp họ cười khẩy.Và sau đó một lần nữa là họ hết cười nổi, họ hết còn cười khẩy được nữa. Bởi vì "cán bộ" bắt họ phải viết đi viết lại 10 lần, 20 lần những lời tự thú của họ. Không một người nào trong dân chúng thấy mình có phạm tội, và như thế là coi như tất cả đều thấy sai hết. Đây nhé: - các tiệm buôn đã bán thuốc ngừa cho Mỹ để họ ngủ với các cô gái : là có tội; - người thợ ở cơ xưởng đã đóng góp vào nỗ lực chiến tranh : là có tội; - thương gia người Tàu đã mua lại chiến cụ phế thải: là có tội; - cô gái ăn sương đã làm mất danh dự dân tộc khi bán mình cho người ngoại quốc: là có tội; - anh sinh viên đã có cả một bộ sưu tập các đĩa nhạc giật gân... là có tội Tất cả mọi người mọi giới đều đã, đang hay sẽ là kẻ phạm tội hết. Như vậy là phải biết tội của mình, phải biết sửa mình, phải biết bắt buộc cha mẹ mình, con cháu mình, bạn bè mình phải sửa chữa, cải tạo; phải biết "vạch trần" có nghĩa là phải tố giác những người nào từ chối không chịu thay đổi. Và kế tiếp sau đó là bắt đầu có những cuộc ruồng bắt, những cuộc khám xét. Các công an mật vụ đến nhà ban đêm, lục lọi khắp mọi nơi, gõ vào tường, tháo hết bàn ghế, các vật dụng trong nhà, khám xét hết quần áo, có khi mở tung những chỗ khâu vá ra xem. Chỉ cần có một quyển sách nhỏ chống cộng nào đó, một bức tranh ảnh nào đó của Mỹ, hay một hình ảnh nào đó của ông Thiệu còn bỏ quên trong ngăn kéo, là người chủ nhà sẽ bị bắt mang đi. Buổi sáng thật sớm người ta có khi người ta gặp những hàng người tay bị trói quặt ra sau lưng, bị binh sĩ mặt lạnh như đồng dẫn đi. Có đôi lúc các bà vợ chạy theo sau vừa la vừa khóc. Các anh "bộ đội" đuổi họ đi bằng báng súng... Và như thế là người ta quây mặt đi không ai dám nhìn vào cảnh nầy. Không phải họ chỉ bắt người mà họ còn tịch thu, trưng dụng nhà cửa nữa. Tất cả những ai có nhà rộng rãi, nghĩa là có hơn hai phòng cho cả gia đình, thì phải cho một số "bộ đội' vào cư trú, phải giặt giũ cho họ, nấu cơm cho họ. Các sĩ quan thì ở biệt thự. Những anh nhà giàu nào đã bị tịch thu chương mục trong ngân hàng thì phải giao nộp tất cả đồ mỹ nghệ, sổ sách và hàng sơn mài cho các ủy viên tài chánh. Còn lại món nào thì họ đem bán lần bán hồi để mà sống. Đến khi không còn gì để bán được nữa thì họ tự tử. Sài Gòn là một thành phố tuyệt vọng mà các tủ ở đầu giường có đầy đủ hóa chất hay những viên thuốc giết người đủ màu, trắng, hường và xanh. Người nào không có thuốc thì cạo diêm sanh ở các vỏ quẹt để uống. Tất cả mọi chuyện đều nhằm dồn con người vào con đường cùng của thất vọng. Các cuộc điều tra thẩm vấn, các cuộc bắt bớ, nhất là tình cảnh khốn khổ và sự đói rách. Có trên một triệu người không có việc làm và không có gì để ăn, đólà chỉ mới tính riêng cho Sài Gòn mà thôi đó. Chánh quyền cộng sản đã loan báo trên đài phát thanh là họ đã phát không sáu ngàn sáu trăm (6.600) tấn gạo cho một triệu ba trăm ngàn (1.300.000) dân nghèo ở đô thành trong 2 tháng 5 và tháng 6. Như vậy tính ra bổ đồng chỉ có chưa tới 100 gram gạo cho một người mỗi ngày. Con đường Tự Do thì đã vắng ngắt, tất cả các tiệm đều đóng cửa. Trên vỉa hè đường Charner, người ta bày bán đủ mọi thứ trên các tấm vải dù, nào là quạt máy, dao muỗng, thượng vàng hạ cám, bán với giá thật rẻ mạt. Người bán ăn mặc rất tươm tất nhưng quá gầy. Với một nắm bạc chỉ mua được vài kí gạo. có nhiều người còn đem bán cả bàn thờ ông bà. Tôi đã chứng kiến được rất nhiều chuyện rắc rối. Ở khu vực Chợ Cũ, đằng sau Kho Bạc, một người trạc năm chục tuổi đã giựt một túi xách của một bà qua đường.Bà ta la lên. Một đội tuần tiễu đã đến kịp và bắt kẻ cướp giựt, Anh ta đứng thẳng người lên và cao giọng nói lớn lên với "bộ đội": - Đúng vậy, tôi là một kẻ trộm . Các anh hãy làm giùm tôi một việc : hãy đi tìm giùm vợ và 5 đứa con tôi lại đây và hãy bắn hết chúng tôi giùm tại đây trước mặt mọi người , bởi vì chúng tôi không còn gì để ăn hết. " Cũng có những cô gái còn tiếp tục mặc quần áo kiểu Tây Phương. Lúc đầu thì cộng sản còn châm chước cho. Nhưng bây giờ thì bị cấm hẳn. Các anh "bộ đội" dùng kéo lớn cắt bớt mấy chiếc quần quá rộng. Tôi đã chứng kiến tận mắt một cô gái giận dữ vì người ta xé quần Gin của cô. Cô tức giận xé cả áo cánh và cởi luôn nịt vú của cô ta ra, cầm ném vào mặt của "Bộ đội" và đưa bộ ngực trần ra nói với họ :"Sẵn các anh ở đây thôi thì hãy cắt giùm cặp vú của tôi luôn giùm đi !" Cô nầy không phải là một cô gái ăn sương. Đài phát thanh đã loan báo là trong vài tuần lễ nữa, mọi người dân "nam cũng như nữ" đều phải mặc một loại quần áo như nhau: áo quần bằng vải thô nhẹ nhuộm củ nâu, màu đỏ nâu. Anh Phạm nhăn mặt, nhíu mày có vẽ hơi buồn cười, ngưng giây lát, xong lại tiếp tục nói nữa: -" Anh Pierre biết không ? bọn cộng sản cũng dùng nhiều trò tiểu xảo nhưng rất là đơn sơ và người ta cũng mắc bẫy như thường.Tôi sẽ kể cho anh nghe một giai thoại không quan trọng lắm, nhưng biểu lộ được cái cách của họ gạt gẫm những người chưa được cảnh giác. Một tháng sau khi Sài Gòn bị chiếm, một giờ trước khi thiết quân luật, tôi cùng một ông bạn giáo sư đi dạo cách rạp chiếu bóng Casino không bao xa. Thình lình chúng tôi nhận thấy hàng đèn trước quán rượu "Đêm Đông Phương" đã được bật cháy sáng và từ trong tiệm có tiếng nhạc xập xình vọng ra ngoài. Bạn tôi vừa cười vừa nói ; "Có thể họ đã mở cửa hộp đêm trở lại. Chúng ta hãy vào đây uống một ly cho nó bớt căng thẳng. Chúng tôi đẩy cửa bước vào. Có nhiều cặp đang nhảy trên sàn và ban nhạc đang chơi một bản nhạc giật gân. Quầy rượu cũng được thấp sáng, và có một số vũ nữ đang ngồi uống trên ghế cao trước quầy. Chúng tôi đang đi đến một cái bàn. Hai "bộ đội" đột nhiên xuất hiện từ phía sau một cây cột, chĩa súng vào chúng tôi và đẩy chúng tôi ra cửa , chẳng nói chẳng rằng. Ngày hôm sau chúng tôi được nghe một cô gái nhảy của tiệm Las Végas cũ giải thích câu chuyện đó như sau:" Chúng tôi hơn một chục người cả nam lẫn nữ đã được gọi tới một "sân khấu", là cái hộp đêm nầy, được trả cho mỗi người 1000 đồng và được đãi một bữa cơm. Bù lại chúng tôi phải nhảy với nhau suốt hai tiếng đồng hồ, "như hồi còn chế độ bù nhìn" vậy. Có những chuyên viên quay phim chiếu bóng của những nước cộng sản ở Âu Châu đến thu hình chúng tôi, và sau đó thì các anh bộ đội đã đưa chúng tôi về nhà bằng xe quân vận. Cuốn phim đó nghe nói sẽ được dùng để tuyên truyền ở ngoại quốc, để cho người ta thấy là chế độ mới thật sự đã quá dễ dãi. Một tuần lễ sau đó, họ lại làm y như vậy một lần nữa ờ nhà hàng "Arc en Ciel" trong Chợ Lớn, với những người khách ăn mặc sang trọng, với mọi thức ăn bày trên "búp phê" thịnh soạn, từ món heo quay vàng cháy, thịt heo ghim nướng, đủ thứ trái cây, rượu vang, rượu khai vị v.v.. nhưng tất cả khách hàng đều là đóng trò hết, họ được đãi ăn vì nhu cầu dàn dựng để quay phim. Cảnh phim được quay để nhằm cho thấy Sài Gòn không thiếu món gì, bởi vì các nhà hàng sang trọng vẫn tiếp tục được tiếp tế đầy đủ và thường xuyên. (1) - Và cái gọi là CPLTCHMN thì ra sao rồi ? trong tất cả những chuyện đó ? - Các tổng bộ trưởng của cái Chánh Phủ đó đã ở Sài Gòn nhưng không có gì để điều hành. Họ được ở trong những dãy nhà thuộc Bộ Tổng Tham Mưu cũ của Miền Nam, gần sân bay Tân sơn Nhứt . Có lính gác chung quanh doanh trại, súng ống hẳn hòi. Công an chánh trị Bắc Việt không rời họ nửa bước và họ không tiếp một ông khách nào. Các thành viên của "Ủy Ban Lãnh Đạo" thì ở trong thành phố, trong những khách sạn hạng nhì mà có nơi không có nổi một cái điện thoại. Thỉnh thoảng họ cũng có mặt trên khán đài. Lâu lâu từng định kỳ đài phát thanh và báo chí cũng có loan báo những bản tuyên bố hay đăng những bài nói về các "nhân vật của Miền Nam và của Miền Bắc", hay nói về đường lối chánh trị "không liên kết" của Miền Nam . Nhưng cũng không dối gạt được ai. Các sĩ quan Bắc Việt đồn trú đều mang phù hiệu của C PLT CHMN trên nón cối. Tôi đã có trò chuyện với một trong những sĩ quan nầy, một đại tá thuộc sư đoàn 320 B. Anh ta vừa nhún vai vừa nói với tôi: - "Chỉ là một phù hiệu thôi mà, cũng như những lá cờ vậy. Những dấu hiệu tượng trưng cần thiết để tiến hành "chiến dịch Hồ chí Minh" thôi. Phải cho có một sự tin tưởng đó là bộ đội của CPLTCHMN đang giải phóng Miền Nam . Sự thật thì chúng tôi đều là quân đội Miền Bắc và do Hà Nội chỉ huy" Những gì mà đại tá đó đã nói với tôi đều được chứng thực bằng sự kiện.. Những người Bắc thì chiếm hết các biệt thự và nhà đẹp, các khách sạn hảo hạng, các cơ quan công cộng. Chỉ có họ mới được xử dụng các xe du lịch loại tớn của người Mỹ bỏ lại. Những những lãnh đạo cách mạng Miền Nam được chia ra làm hai thành phần: thứ nhứt là những người "tập kết", những người đã chọn lựa đi ra Miền Bắc hồi năm 1954, và thứ hai là những kháng chiến quân của Mặt Trận Giải Phóng. Cả hai thành phần đều chống người Bắc (nguyên tác :anti-Tonkinois).Họ bị đối xử như những người anh em nghèo và thực sự không được có một trách nhiệm nào rõ ràng hết, mặc dầu họ được gán cho những danh vị chánh thức. Tôi đã có trò chuyện với nhiều người trong số những anh "tập kết". Họ nói : "Ở ngoài Bắc, chúng tôi không phải là người ngoại quốc. Nhưng bây giờ thì chúng tôi đã về nhà chúng tôi rồi, chết sống gì chúng tôi cũng ở đây, chúng tôi không trở ra ngoài đó nữa đâu." Tình cảm của người dân Miền Nam mạnh hơn bao giờ hết. Cách xử sự của những người Miền Bắc trong tư thế chiếm đóng đã giúp cho người dân Miền Nam gắn bó với nhau hơn. Dân chúng Miền Nam không biết cười nữa rồi mà vẫn gọi người Bắc là bọn "xâm lăng" (nguyên tác:les "xam-lang" ), những kẻ xâm lược, hoặc những " cá rô cây" (nguyên tác : "caro-cay"). Danh từ khinh bỉ nầy muốn nói ra nhiều điều lắm. Con cá rô là loại cá mà người dân nghèo thường ăn. Vì có một số người Bắc đã làm những con cá rô bằng cây bỏ vào chén nước mắm để lúc nhìn thoáng qua cũng thấy họ có ăn cá, nhưng thực sự là họ chỉ có ăn cơm không mà thôi. Danh từ "cá rô cây" cũng đồng nghĩa với "đói nghèo mà kiêu căng". - Anh có nghe nói gì về kháng chiến hay là chiến khu gì không ? - Dĩ nhiên rồi. Chỉ cần đi một chút thôi, nghe đài phát thanh, đọc báo chí hay những thông cáo dán ở tường, thì thấy ngay bằng chứng. Tại Sài Gòn thiết quân luật đã được tái lập lại. Và đó không phải là chuyện đùa đâu. Về đêm "bộ đội" hễ thấy cái gì nhúc nhích là họ bắn liền. Đài phát thanh kêu gọi dân chúng hãy "tố cáo những người phản động nào còn lẩn trốn". Báo chí thường loan báo nhiều lần hàng tuần là "lực lượng an ninh đã bao vây và hạ sát những toán phản động còn ngoan cố giữ vũ khí đạn dược". Lúc đầu thì "bộ đội" bị đâm bằng dao găm, hay bị siết cổ. Đó là những hành động lẻ tẻ, do những phản ứng tức giận của một vài sĩ quan lạc lõng. Bây giờ thì đã có nhiều hệ thống, bắt đầu có tổ chức và những vụ ám sát có lựa chọn. Người ta thường nhắm vào các cán bộ và công an. Người ta làm giấy căn cước giả mạo. Có truyền đơn được rải trong trường học kêu gọi sinh viên ra chiến khu.Tất cả các sinh viên đâu có đễ bảo đâu. Có lần họ đã đánh một ủy viên của đại học. Vào cuối tháng 6, đã có một sự nhen nhúm biểu tình. Một cán bộ đã bị đập chết bằng búa. Người cầm đầu đã bị bắt và bị xử bắn ngay. Cái chết nầy đã làm cho sinh viên hoang mang.. Vào tuần lễ đầu của tháng 7, lại có xảy ra một chuyện rắc rối nữa trầm trọng hơn.. Sáu trăm sĩ quan thuộc QLV NCH (600) đi trình diện hồi tháng 5 đã bị đưa đi đến một trại tù khổ sai ở giữa rừng, ở vùng núi Bà Đen cách Sài Gòn khoảng hơn 100 cây số về hướng Bắc. Tình trạng sinh sống của họ rất là vô nhân đạo. Hằng ngày họ chỉ được phát có hai nắm cơm với muối và phải đốn cây to với những chiếc rìu thường, từ sáng cho đến chiều.. Một buổi sáng nọ vào cuối tháng 6, các "bộ đội" giữ họ (chỉ có chừng 100 chú) đã tập hợp họ lại và nói : "Các anh đông quá, nên vì lý do an ninh, chúng tôi sẽ cột các anh lại từng cặp hai người một". Các sĩ quan nầy phản đối :"Chúng tôi không có làm gì sai trái, chúng tôi làm việc như trâu rồi mà mấy anh còn muốn cột chúng lại như súc vật ? Chúng tôi không thể nào làm việc cặp đôi như vậy được, cũng không thể đi vệ sinh riêng rẽ được nữa." Các chú "bộ đội không cần biết và bắt đầu cột họ lại từng cặp với nhau. Bấy giờ các sĩ quan tù nhân mới chơi xả láng. Họ ùa vào tấn công các bộ đội giữ tù. Dĩ nhiên bộ đội đã nổ súng và có hơn 100 sĩ quan bị tử thương, nhưng những người khác đã tước được khí giới của bộ đội và đã tàn sát hết toàn bộ . Cộng sản đã đưa nhiều xe binh sĩ đến tăng cường và cuộc trấn áp thật là rất tàn nhẫn. Chỉ có một nhúm sĩ quan đã chạy trốn được vào rừng có mang theo vũ khí. Vài ngày sau, Bộ Nội Vụ đã loan báo trong một bản thông cáo báo chí là :" có vài trăm phản động đã chết trong một tai nạn trên đường Tây Ninh." Ngay sau khi được biết tin nầy, hàng trăm vợ con của những sĩ quan đã tụ tập trước Bộ Nội Vụ gần Nhà Thờ Chánh Tòa. Họ yêu cầu phải giải thích, họ đã xô đẩy các lính gác và chửi người phát ngôn viên của Chánh Phủ : - "Chúng tôi không tin. Không thể nào có đến hàng trăm người chết trong một tai nạn trên quốc lộ. hãy trả thây của chồng con của chúng tôi và chúng tôi sẽ thấy biết tại sao họ chết." . Họ quá bị khích động gần như cuồng loạn. Nhưng môt giờ sau đó, tất cả khu vực nầy được bộ đội đến bao vây, họ chĩa súng và lên cò súng liên thanh nghe răng rắc và các bà bị giải tán bằng báng súng. Đó là những gì đã xảy ra ở Sài Gòn , anh Pierre . Độc tài và chỉ có độc tài ! - Và đã có những gì đã xảy ra ở các tỉnh ? - Trong các thành phố ở Miền Tây, vì không có báo chí để có thể thấy được những gì đã xảy ra trong những ngày đầu của việc cưỡng chiếm, thật là đẫm máu. Công tác tái lập tình hình "đạo đức" thật là vừa tàn bạo vừa vụng về. Các cô gái và các bà còn trẻ bị buộc tội vì ăn mặc "lố lăng". Các buổi họp có nhảy đầm bị binh sĩ "công phẫn" giải tán, nhạc cụ bị tịch thâu vì đàn guy ta điện và cả bình điện là của đế quốc. Tòa án "nhân dân", cho hành quyết ngay. Cảnh Sát và cán bộ của tỉnh bị gán tội "tham nhũng". Quân đội Miền Nam không có hành động chống đối sau khi Sài Gòn bị chiếm.. Nhưng các đơn vị được phân tán và mới bắt đầu có những vụ đánh úp, sau đó vài tuần. Có mấy trung đoàn thuộc sư đoàn 21 bộ binh (một trong 3 sư đoàn đồn trú ở Tây Nam Sài Gòn ) đã đi vào vùng ly khai của Hòa Hảo. Như anh đã biết , Phật Giáo Hòa Hảo là một giáo phái địa phương chống cộng sản dữ dằn nhất và cũng được ghi nhận là không tùng phục chánh quyền trung ương. Họ vẫn có một lực lượng bán quân sự . Giáo phái nầy có mặt khắp trong số 11 tỉnh và có gần mấy triệu tín đồ. Vùng kháng chiến mạnh nhất của họ nằm gần biên giới Cam Bốt, trong tam giác Long Xuyên - Châu Đốc - Tân Châu, một vùng giàu có với nhiều sông rạch và ruộng lúa, một vùng chằng chịt đầy đường nước, dễ dáng chăng bẩy, dính liền với vùng núi Thất Sơn, Tôi đã dùng giấy tờ của anh tôi để đi xuống được Miền Tây thăm gia đình. Các trục lộ giao thông chính và các trung tâm thành phố đều được quân đội chánh quy Bắc Việt trấn giữ. Nhưng có vẻ như họ không được nghỉ ngơi theo kiểu dưỡng quân: thường xuyên có các đội tuần tiễu bằng chiến xa và binh sĩ luôn luôn để tay vào cò súng, còn pháo binh thì ở tư thế sẳn sàng tác xạ.. Các trục giao thông phụ và các đường nước thì không được họ kiểm soát. Có rất nhiều sông rạch, với nhiều nhánh tua tủa và nhiều bờ đê. Bây giờ thì ngược lại hết, đến lượt cộng sản bị phá rối, cộng sản phải gác và giữ cầu và phải duy trì trật tự.. Trong hiện tại thì họ không làm xuể. Cũng có nhiều nhóm dân quân tự xưng họ là người của Mặt Trận và họ không chịu nghe lệnh người khác. Có nhiều cuộc biểu tình và nhiều cuộc chống biểu tình. Kiểu như tình trạng vô Chánh Phủ giống như thời kỳ khởi nghĩa hồi 1945 vậy. Lực lượng phản loạn của Miền Nam táo bạo lắm, họ nã bách kích pháo, họ đặt mìn các cầu, kho xăng và kho đạn. Tại Cần Thơ, một trung tâm chính buôn bán lúa gạo của các tỉnh Miền Tây và là một giang cảng chính của Vùng Đồng Bằng, lệnh thiết quân luật được áp dụng rất nghiêm túc từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng. Đã có nhiều đường dây vượt biên ra ngoại quốc. Nhưng phần nhiều là người Trung Hoa. Vì trước hết là các tàu đánh cá và các tàu hàng hải đã lấy tiền quá mắc : mười triệu đồng mỗi người cho một chuyến vượt biên. Và sau nữa là khi họ tới Mã Lai, Singapore, hay Thái Lan, thì ngay lập tức họ được cộng đồng người Trung Hoa ở quốc gia đó giấu kín, và có trách nhiệm làm giấy tờ hợp pháp cho họ. Trong khi người Việt Nam thì không có một tổ chức nào tiếp đón họ nên thường bị đuổi về. - Cộng sản họ không thể ngăn chặn được chuyện đó sao ? - Đâu có dễ dàng. Họ không có bao nhiêu tàu chiến. (Hải Quân Miền Nam đã đưa được hết tất cả tàu chiến loại đi biển về hết ở đảo Guam ). Bờ biển Miền Nam đã được phát triển tối đa và những người dân chài thuộc lòng hết từng chi tiết nhỏ của các sông ngòi từ những ngõ ngách cho đến các vịnh nho nhỏ. Tất cả những gì người cộng sản có thể làm được chỉ là tăng cường kiểm soát đường sông, bắt buộc hành khách nào đi đến các thành phố ở ven biển đều phải đi bằng các đoàn tàu có hộ tống. Ngoài ra cũng có một số chiến khu khác không phải ở Miền Tây. Thí dụ như ở vùng Đông Bắc của Sài Gòn, giữa Xuân Lộc và Phan Thiết, dọc theo Rừng Lá, có một số binh sĩ Dù thường chận xe đò rồi dẫn hành khách vào rừng để họ tuyên truyền chống cộng.. Các quân xa cộng sản cũng thường cán phải mìn. Một ông đại tá cựu tư lệnh lực lượng Đặc Biệt của Nha Trang và Biên Hòa đang chỉ huy hết vùng kháng chiến nầy. Ông đã tập trung được một lực lượng rất có kỷ luật khoảng vài ngàn người gồm có Dù, biệt động quân Thủy Quân Lục Chiến và những người chạy thoát được của sư đoàn 18 bộ binh . Họ chỉ chiến đấu về đêm. Trên vùng Cao Nguyên thì có lực lượng Fulro (Mặt Trận Thống Nhứt của các sắc tộc bị áp bức), một lực lượng đã từng không nhìn nhận chánh quyền của Tổng ThốngThiệu mà cũng đã bị cộng sản làm cho thất vọng. Họ vào chiến khu với khoảng 4 tiểu đoàn chuyên tác chiến vùng rừng rậm . Đặc công của họ đã tấn công Pleiku 2 lần. Trong vùng Hố Nai, những trận đụng độ đã tiếp tục xảy ra giữa những người công giáo và lính chánh quy Bắc Việt . Đã có gần 300 chú "bộ đội" đã bị giết từ sau ngày Sài Gòn bị chiếm. Con đường đi Dalat và đi Vũng Tàu bị cắt đứt nhiều lần. Ở về hướng Bắc của Sài Gòn có nhiều binh sĩ thuộc giáo phái Cao Đài đã vào rừng ở vùng Núi Bà Đen. - Có một Bộ Tham Mưu bí mật nào khả dĩ đủ khả năng để phối hợp thành một hành động chung giữa các lực lượng đó không ? - Tôi không có một chi tiết nào khác ngoài những gì mà tôi đã nói với anh. Các truyền đơn mà các lực lượng nầy rải ra có mang chữ ký của tướng Lạc, cựu Giám đốc Nha Chiến Tranh Chánh trị , của tướng Trưởng, cựu Tư Lệnh Vùng I , và của tướng Bùi thế Lân, cựu Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến . - Thế mà người ta nói là cả 3 tướng nầy đều đang ở Hoa Kỳ. - Cũng có thể lắm. Ai cũng biết là họ rất bình dân và anh em cựu quân nhân Miền Nam không biết là họ đã được người Mỹ bốc đi. Có thể là những sĩ quan chỉ huy các lực lượng kháng chiến đã dùng tên tuổi và uy tín của mấy tướng lãnh nầy để dễ kêu gọi và mộ thân binh cũng nên. Dù muốn dù không thì dân chúng ủng hộ những người kháng chiến mới nầy, tiếp tế cho họ và không tố giác họ. Anh Phạm lau mồ hôi trán và lại tiếp tục nói: - " Nầy anh Darcourt, tôi cũng cần phải nói với anh về người bạn của anh, Đức cha Thuận đó. Ngày 14 tháng 8 vừa qua, Đức Tổng Giám Mục Bình và Đức Phó Tổng Giám Mục của ông là Đức Giám Mục Thuận được gọi tới Dinh Độc Lập, nơi làm việc của Ban Quân Quản. Khi đến nơi thì người ta cách ly hai người ra. Đức Cha Bình phải ngồi nghe một bài diễn văn dài của chánh quyền . Người ta nói nhiệm vụ của ông là giữ gìn an ninh và trật tự trong cộng đồng giáo dân và theo dõi sát cộng đồng để họ thi hành nghiêm chỉnh luật lệ cách mạng . Vào cuối buổi nói chuyện, Đức Cha Bình yêu cầu họ giao hoàn lại cho ông Đức Phó Tổng Giám Mục . Người ta đã trả lời cho ông là : -"Đức Giám Mục Thuận đã được xe công an đưa trở về địa phận của ông ta ở Nha Trang. Sự có mặt của ông ở đây làm rối loạn trật tự công cộng" Giờ đây Đức Cha Thuận bị quản thúc trong một ngôi làng nhỏ cách thành phố Nha Trang vài chục cây số về phía Nam . Ông sống trong một căn nhà lá, mỗi ngày được lãnh 100 $ (tương đương với 50 xu đủ để ông mua vài món rau cải.) và 200 gram gạo (Khẩu phần hằng ngày của một trẻ em 6 tuổi), và không được tiếp bất cứ ai. Vả lại không phải chỉ có các linh mục công giáo là đáng cho mình lo lắng. Thượng tọa Thích trí Quang của chùa Ấn Quang, người đã góp công trong việc hạ bệ chế độ của Tổng Thống Diệm năm 1963 với chiến dịch tự thiêu của các sư sãi,, và là người chống đối tới cùng Tổng Thống Thiệu... đã bị bắt ngày 12 tháng 8 và bị giam vào phòng tối ở khám Chí Hòa. Từ lâu rồi Thượng tọa Thích trí Quang đã được coi như là người của cộng sản. Nhưng, từ sau ngày Sài Gòn bị chiếm, và cho tới khi ông bị bắt, ông không ngớt kêu gọi các tu sĩ của ông " thay vì tự thiêu thì hãy chết trong chiến đấu". Ngày 6 tháng 8, ông đã có một buổi họp ở sân chùa Ấn Quang và cực lực tố cáo "Các Ban Quân Quản Bắc Việt đã cho lệnh hành quyết quá nhiều người bằng vũ khí thô sơ". Chỉ vài ngày sau đó là công an mật đã đến bắt ông . Anh Phạm đến ngồi sát vào tôi, ôm cứng vai tôi và với một giọng gần như vừa thịnh nộ vừa tuyệt vọng anh nói : - " Thật là một thảm kịch. Tất cả mọi người ai cũng đã tưởng rằng sau khi Sài Gòn bị chiếm là phải có "hòa bình" và "hòa giải", và như thế là dân chúng Miền Nam không còn gì để mà lo sợ nữa. Thật là cả một sự điên rồ ! Nỗi lo sợ của ngày hôm nay còn tệ hơn nỗi lo sợ bị bom và đạn pháo nữa. Bởi vì nó không có thuốc chữa. Đây là một chứng bệnh nan y.. Những người không chịu bỏ súng xuống sẽ chịu đựng được bao lâu nữa ? hai năm ? ba năm ? nhưng cuối cùng rồi họ cũng sẽ bị tiêu diệt, nếu không có một người nào giúp họ. Nếy Hoa Kỳ muốn... - Không bao giờ , anh Phạm ơi ! Hoa Kỳ không có muốn nữa đâu. Họ sẽ không làm gì nữa cả. - Như vậy là sẽ có một cuộc nổi loạn. Một cuộc nổi dậy đầy tuyệt vọng của dân chúng Miền Nam . Anh cũng biết là cộng sản đã thả hết tù trong khám ra ? như thế là các khám đường sẽ không có trống lâu nữa đâu. Không bao lâu nữa nó sẽ đầy ấp tù nhân trở lại. Và chưa kể tất cả những trại cải tạo đã có trong rừng núi... đã làm chết dần chết mòn không biết bao nhiêu người, mà không có một nhân chứng... Tôi từ giã anh Phạm, bạn tôi, với lòng se thắt lại. Tôi biết rõ hệ thống tù đày mà anh vừa nói với tôi. Tôi đã từng là tù nhân của người Bắc Việt. Không có một sự nhân đạo nào được tách rời khỏi những mục tiêu mà người cộng sản đã nhắm vào. Phương pháp của họ, đặt trên nền tảng bí mật và tuyệt đối khắc nghiệt, là bất di bất dịch. Miền Nam Việt Nam đang bị biến đổi tận gốc rễ. Nếu cho là còn quá sớm để có thể đoán được kết quả sau cùng, thì lúc nào người ta cũng có thể dựa vào các biện pháp mà họ đang thực hiện để nhận định được đường hướng của sự biến đổi đó. Kể từ lúc Sài Gòn bị chiếm , và từ khi chế độ cũ bị sụp đổ ngày 30 tháng 4, trên phương diện hành chánh, Miền Nam Việt Nam đã bị đặt dưới quyền cai trị của các Ban Quân Quản ở trung ương Sài Gòn hay ở các tỉnh, trên thực tế không có liên lạc gì với nhau cả. Vấn đề được đặt ra là "một Chánh Phủ dân sự" trong tương lai sẽ được thành lập ở Sài Gòn ; nếu không có thực quyền thì Chánh Phủ nầy sẽ chỉ là một phái bộ đại diện của Chánh Phủ Hà Nội trong những lãnh thổ bị chiếm đóng mà thôi.. Các cơ quan hành chánh và quân sự sẽ bị ám ảnh vì những vấn đề chánh trị và những bài toán về an ninh; nhiệm vụ chủ yếu của họ là chuyển đổi tâm trạng và tinh thần của dân chúng Miền Nam cách nào để họ có thể chấp nhận một cuộc thống nhất nhanh chóng hai Miền Nam Bắc Việt Nam . Nỗ lực trước tiên là phải tiến tới việc đặt một nền tảng chánh trị và một cơ cấu hành chánh mới, nhằm bảo đảm cho dân chúng có được một môi trường vững chắc hầu tránh mọi lệch lạc về tư tưởng cũng như về hành động. Đồng thời cũng phải có nỗ lực về sự tổ chức và điều hành các trại tập trung cải tạo trong đó hầu hết các cựu cán bộ quân cán chánh phải chịu qua một thời gian tùy theo sự tiến bộ của các tù nhân theo như báo chí của Chánh Phủ đã loan báo. Các vấn đề kinh tế chỉ là hàng thứ yếu và không phải là mối bận tâm của chánh quyền mới. Không có gì gấp rút phải làm cho bộ máy kinh tế chạy lại, và một sự trì hoãn như vậy ở Miền Nam được giữ cùng lúc với sự hạ thấp mức sống của người dân sẽ giúp thống nhất dễ dàng hơn với Miền Bắc vốn đã nghèo đói sẳn từ lâu rồi. Ngoài ra vì con số thất nghiệp tăng lên quá nhanh, một phần dân chúng Miền Nam bị đói; hành động phát gạo cho các gia đình không có lợi tức, và cho thợ thuyền của nhiều xí nghiệp, đã tập cho dân chúng Miền Nam thói quen nhờ vả vào chánh quyền . Một hành động quan trọng khác được tiến hành để buộc những người dân lánh nạn, những người không có công ăn việc làm và tất cả những người "vô ích" phải rời khỏi thành phố để trở về nguyên quán, hoặc đi định cư trong những vùng ít dân cư mà chánh quyền đã quyết định nâng lên hàng có giá trị. Chủ tịch Huỳnh tấn Phát vừa tuyên bố là 3 triệu rưởi người phải rời khỏi thành phố ( trong số đó chỉ riêng thành phố Sài Gòn đã có 1 triệu rưởi). Mặc dầu có nhiều cố gắng trong công tác tuyên truyền và kích thích về vật chất, dân chúng chỉ trở lại ruộng rẫy của mình hết sức chậm chạp. Nền kinh tế Miền Nam đang xuống dốc vì nạn lạm phát phi mã do không có thu nhập công cộng, do vì nền hành chánh cũ đã biến mất, do vì sự ngưng trệ gần như hoàn toàn của mọi hoạt động kinh tế . Từ ngày 1 tháng 5 đến 1 tháng 8, giá cả đã tăng vụt, lên 70%. Từ những lời tuyên bố của những đại biểu đến từ Hà Nội, người ta suy ra là Miền Bắc có khuynh hướng về kỹ nghệ, và Miền Nam thì có khuynh hướng về nông nghiệp.. Do đó mới có nhu cầu chuyển số lớn dân chúng từ thành thị về thôn quê, và chuyển cơ sở kỹ nghệ từ Miền Nam ra Miền Bắc . Chương trình của CPLTCHMN đã có ghi rõ là tài sản của tư nhân sẽ được giữ lại và đời sống cũng như tài sản của người ngoại quốc sẽ được bảo vệ. Tuy nhiên có nhiều tin tức có thẩm quyền từ Hà Nội và đặc biệt là bài báo được đăng ngày 28 tháng 5 trong tờ Nhân Dân, một bộ phận của đảng cộng sản, đã cho thấy nhiều hạn chế trầm trọng trong bản tuyên bố của CPLTCHMN , như : Chỉ có tài sản của tư nhân thuộc các xí nghiệp nào không có cộng tác với đế quốc hay với chánh quyền phản động cũ thì mới được bảo đảm được giữ lại. Ông Phó Chủ Tịch của "Tổng Liên Đoàn Lao Công Tự Do" vừa tuyên bố là 70 phần trăm các xí nghiệp của Miền Nam Việt Nam kể từ nay sẽ được đặt dưới sự quản lý hành chánh . Có rất nhiều quyết định đã khiến cho nền kinh tế tự do bị sụp đổ. và đẩy các xí nghiệp đến chỗ phá sản hoặc bị chánh quyền cộng sản "quản lý" : - đóng cửa các ngân hàng ngay từ ngày 30 tháng 4 và phong tỏa các chương mục gởi tiền tiết kiệm, nhưng lại bắt buộc phải trả tiền ứng trước của ngân hàng; một hệ thống ngân hàng mới được thiết lập thật chậm chạp, nhưng chỉ có những xí nghiệp có "phép điều hành" mới xử dụng được. - bắt buộc các xí nghiệp phải gánh chịu các chi phí quan trọng: tái thu nhận các nhân viên đã bị sa thải từ trước ; Phải trả lương cho thợ thuyền không làm việc (vì xí nghiệp bị đóng cửa theo lệnh của chánh quyền); phải trả tiền bồi thường cho nghỉ việc thật nặng, từ ngày 30/4 / 75, cả cho nhân viên không bị sa thải hay không xin nghỉ việc. - có biện pháp "cấm bán" mà không nghĩ gì tới nhu cầu của xí nghiệp hay các nhu cầu của thị trường. - quyết định "quản lý" các xí nghiệp mà chủ nhân đã rời khòi nước Việt Nam hay những xí nghiệp nào mà chánh quyền còn nghi ngờ về chủ quyền thật sự của những người chủ nhân. - Không có một khả năng nào để nhập cảng hay xuất cảng. - Thông tin và Liên lạc với thế giới bên ngoài bị co cụm lại chỉ còn có điện báo. Đường thơ tín chỉ được thiết lập lại vào ngày 1 tháng 9, nhưng giới hạn không quá 500 gram. Chánh quyền mới kiểm soát thật chặt chẽ và độc đoán tất cả các ngành kinh tế . Kể từ ngáy 30 tháng 4, mà cộng sản gọi là "ngày giải phóng", Ban Quân Quản nắm quyền kiểm soát hầu hết các xí nghiệp; trong hai tháng, hoạt động chính yếu của họ chỉ có thiết lập các bản kiểm kê tất cả tài sản, bất động sản và động sản và các kho tàng hiện hữu. Từ ngày 1 tháng 7, có những vị "Giám Sát Trung ương" được đặt vào các xí nghiệp. Họ là đại biểu của chánh quyền , vừa là Giám Sát, kiểm tra tài chánh, vừa là cán bộ của Chánh Phủ, có đầy đủ thẩm quyền điều tra rộng rãi. Tất cả mọi dịch vụ của xí nghiệp đều phải được "khán" qua và "chấp thuận" của những vị Giám Sát nầy. Tuy nhiên chủ nhân của xí nghiệp vẫn cón trách nhiệm đối với xí nghiệp, mặc dầu đã mất hết quyền hành. Có những công ty quốc doanh hay những tổ chức "bán chánh thức" được thành hình để bảo đảm việc phân phối hay bán ra hết mọi sản phẩm làm ra; các xí nghiệp không được quyền từ khước dịch vụ của những tổ chức đó. Giá cả được chánh quyền đơn phương ấn định, nhưng các nơi mua trả tiền thật chậm trể. Có một số cơ quan quân sự hoặc hành chánh đã đem bán lại ngoài thị trường tất cả hay một phần hàng hóa mà họ đã mua được của các xí nghiệp. Kế hoạch sản xuất và những sự hướng dẫn đều được các Bộ ở Hà Nội thiết lập; không có một cơ quan hành chánh kinh tế nào thật sự có mặt ở Sài Gòn . Hầu hết tất cả dịch vụ xuất nhập cảng đều ngừng hẳn. Tất cả những giao dịch với ngoại quốc được giới hạn trong vài chuyến hàng lặt vặt do những "quốc gia anh em" gởi tặng với tư cách nhân đạo (lương thực và xăng dầu của Liên Xô, đường của Cuba v.v..) Những hiệp ước hữu nghị và hợp tác kinh tế được ký với Liên Xô, với Algérie, với Lybye và Irak đã được chánh quyền loan báo, nhưng nội dung không bao giờ được tiết lộ. Úc Châu cũng như một số quốc gia Bắc Âu cũng có hứa sẽ viện trợ kinh tế . Có nhiều kho dự trữ hàng hóa coi như sẵn sàng để xuất khẩu, nhưng do vì chánh quyền hoàn toàn không có đủ khả năng, nên số hàng hóa đó vẫn bị phong tỏa tại chỗ. Tương lai của các xí nghiệp Pháp bị liên lụy rất trầm trọng. Không có một thể thức chánh trị tổng quát nào được ấn định. Những sự trưng dụng và những sự tạm giữ đương nhiên đã làm hại các xí nghiệp Việt Nam và của Pháp không phân biệt, theo từng lãnh vực hoạt động, như những ngân hàng và những đồn điền lớn. Một số dịch vụ được dành riêng cho chánh quyền (thuê bao phương tiện hàng hải và cước phí cho tàu bè). Buôn bán qua dịch vụ nhập cảng cũng thuộc độc quyền của Nhà Nước. Không còn gì nghi ngờ là Hà Nội đã có vẻ chống đối sự duy trì những hoạt động kinh tế của người Pháp. Vị thế của Hà Nội xem ra rất là đơn giản: Vào năm 1954, tất cả mọi quyền lợi của người Pháp ở Bắc Việt đều mất sạch tiếp theo sự kiện Điện Biên Phủ. Năm 1975 ngày nay quyền lợi của người Pháp chắc cũng sẽ bị mất hết ở Miền Nam Việt Nam sau ngày cộng sản chiếm được Sài Gòn. Chưa có một lời tuyên bố chánh thức nào được loan báo theo chìu hướng nầy , nhưng các cán bộ cách mạng đã nhiều lần khoe khoang với cử tọa Việt Nam về sự tình nầy. Hầu hết các xí nghiệp Pháp đang lâm vào tình trạng sắp bị phá sản, trừ một vài trường hợp ngoại lệ đặc biệt có được hoàn cảnh may mắn (còn tồn trữ được nhiều nguyên liệu lúc mất Miền Nam , hay xử dụng nguyên liệu địa phương): - tiền mặt trong kho đã cạn, chi thường quá cao mà thu thì không có gì, đã không nhận được tiền ứng trước của ngân hàng, mà còn phải hoàn trả các khoản cho vay của ngân hàng từ trước ngày mất Miền Nam . - Nguyên liệu tồn trữ cạn dần mà hoàn toàn không có khả năng thay thế trong tất cả mọi trường hợp. - Trước tiên lá chánh quyền quân sự, bây giờ có khi là chánh quyền dân sự , nhưng trong mọi trường hợp cả hai đều không chút quan tâm đến tương lai của các xí nghiệp. - Nghiệp vụ bán sản phẩm đã bắt đầu được các tổ chức "Bán-Chánh Phủ" ưu ái lo lắng hết giùm. - Tất cả các chủ nhân xí nghiệp đều mất hết quyền quyết định. Nếu vì nhờ sự khéo léo của các vị giám đốc và nhờ họ có giúp đỡ qua lại giữa họ với nhau , nên phần lớn các xí nghiệp chưa đóng cửa, một số khá lớn công ty đã quyết định cho hồi hương nhân viên người Pháp. Văn phòng và Ban Điều Hành của Phòng Thương Mãi Pháp chỉ còn có 12 trên 32 người hiện diện trước khi Sài Gòn bị chiếm đóng. Các xí nghiệp chi dùng tất cả những gì mà họ hiện có; hầu hết đều bị đẩy vào tình thế suy sụp mà vì họ còn cố gắng giữ cho xí nghiệp không bị phá sản nên tình trạng tài chánh của họ càng ngày càng thêm bi đát. Từ bây giờ là đã có một số xí nghiệp thấy cần phải đi đến quyết định đóng cửa. Nhưng chánh quyền quân sự đã chẳng những không cho phép mà họ còn bắt buộc họ phải tiếp tục trả lương cho nhân viên của họ; ngay như chuyện cho nghỉ việc từng phần cũng bị cấm. Và như thế là các giám đốc công ty, xí nghiệp người Pháp đang trở thành những "con tin" của thợ thuyền. Trên bình diện nhân viên, người Pháp ở mọi đẳng cấp đều rất chán nản. Từ hơn 4 tháng nay họ không được ra khỏi Sài Gòn và không nhận được thư từ báo chí nào hết. Tình trạng sinh sống của họ thật là rất khó khăn. Thuốc men tìm không ra , và các bệnh viện thì cũng không có thuốc. Không có một quyết định nào cho ngày tựu trường. Mọi sự liên lạc với chánh quyền đôi lúc không được nhã nhặn lắm, và rất là khó khăn với các Ủy Ban cách mạng . Có quá nhiều chuyện tịch thu nhà cửa. Không có một sự bảo đảm nào để tìm lại được căn nhà và bàn tủ ghế của mình lúc mình vắng mặt, mà cũng không được phép gởi hay mang theo những vật dụng cá nhân của mình, nếu có may mắn được rời khỏi Sài Gòn . Xin được một chiếu khán xuất cảnh không có nghĩa là sẽ có được một chỗ trên phi cơ. Và có được một chỗ trên chuyến bay không có nghĩa là vào được phi trường; đã có nhiều chuyến đi bị hủy bỏ vào giờ chót. Và cứ thế hầu hết người Pháp đều mong mỏi được rời khỏi Việt Nam . Do đó, giữ được quyền lợi kinh tế của người Pháp ở Việt Nam quả là một điều quá không chắc chắn, vì nó tùy thuộc hoàn toàn vào những yếu tố chánh trị . Những hoạt động quan trọng đã không còn nữa; các ngân hàng bị chiếm hữu và bị tịch thu, các hảng bảo kê đang nằm chờ để "tự giải tán", chuyện ký gởi tàu thuyền và môi giới hàng hải đã bị cấm; nghiệp vụ nhập cảng thì cũng bị cấm, hàng xuất khẩu của các đồn điền lớn bị "quản lý" (tạm giữ) Nói một cách tổng quát thì tất cả những xí nghiệp (lớn nhỏ, hay trung bình) được xem như bị tiêu tan trong một thời gian quá ngắn. Những người đại diện cho quyền lợi kinh tế của người Pháp ở Việt Nam đã mất hết hy vọng đã rời khỏi Việt Nam hay đang cố gắng để rời khỏi nơi đây. Những biện pháp mới liên quan đến sự ra đi của những người có trách nhiệm trong xí nghiệp đã biến họ thành những con tin trong tay chánh quyền và những Ủy Ban Cách mạng ở địa phương.. Xí nghiệp thì bị cấm không cho đóng cửa , mà nhân viên thì phải được tiếp tục trả lương ! Một sự tranh chấp rất nặng nề đang sắp được diễn ra... Chú Thích: (1) Có một cuốn phim loại được anh Phạm vừa kể cho tôi nghe đã được chiếu thật sự ở Tây Đức, cách đây 2 tháng. |
|
#44
|
|||
|
|||
|
CHƯƠNG HAI MƯƠI BẢY
"30 NĂM CHIẾN TRANH: KHÔNG GIẢI QUYẾT ĐƯỢC GÌ CẢ! " L úc tôi rời khỏi Miền Nam Việt Nam (lần cuối cùng) vài giờ trước khi mất Sài Gòn , tôi đã tưởng rằng mọi việc đều đã được chấm dứt. Miền Nam đã thất trận. Khi đã thua rồi thì Miền Nam chỉ còn có phục tùng theo luật lệ của kẻ chiến thắng mà thôi. Không còn nghi ngờ gì nữa là Sài Gòn sẽ sống dài dài, sống mãi thật là lâu dài với giờ Hà Nội . Một trang sử đẫm máu hình như đã được vĩnh viễn lật qua. Sợ hãi và chết chóc đã được gạt bỏ ra khỏi quốc gia nầy rồi, một đất nước quá đói nghèo và quá đau khổ. Nhiều tháng đã trôi qua và tất cả hình như không quá đơn giản như tôi đã tưởng như vậy . Những tiếng vang cuối cùng đến tai chúng tôi từ Miền Nam Việt Nam đã cho thấy là mọi việc đã không được tốt lắm. Sài Gòn và Đồng Bằng sông Cửu Long đầy rẫy các trung đoàn quân chánh quy Bắc Việt quá bực bội vì dân chúng có vẻ như không phục tùng. Các cựu chiến binh Miền Nam còn chưa chịu buông súng xuống hết. Có những chiến khu đang được hình thành , một số sinh viên đã vào đó. Dân chúng yểm trợ họ. Tình trạng mất an ninh đang lan rộng. Cuộc trấn áp được coi là quá khắt khe. Tình trạng thiết quân luật chưa bao giờ được bãi bỏ. Các cuộc bắt bớ càng ngày càng tăng. Tiếng đại bác vẫn còn nổ rền trên đồng ruộng và đêm đêm người ta vẫn còn nghe nhiều tràng súng liên thanh tự động. Đã có nhiều người ngoại quốc ra đi. Các giáo sĩ thì bị trục xuất. Cái được gọi là CPLTCHMN thì không có thực quyền. Ngày 2 tháng 9 vừa qua trong một cuộc diễn binh vĩ đại được tổ chức để kỷ niệm này lễ độc lập lần thứ 30, tất cả các "xe chỉ huy" đi trước các đơn vị chỉ mang có một lá cờ duy nhất - lá cờ đỏ sao vàng - , lá quốc kỳ của Miền Bắc Việt Nam . Luật sư Nguyễn hữu Thọ, người Miền Nam , đã từng là một nhân vật thuộc giai cấp tư sản của thành phố Sài Gòn trước khi gia nhập vào lực lượng cách mạng và trở thành Chủ Tịch của "Mặt Trận quốc gia Giải Phóng", đã lên khán đài để đọc một bài diễn văn dài để nói lên "sự vui mừng vì nước Việt Nam đã không còn bị chia cắt và đã hoàn toàn tự do, độc lập và thống nhất từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau" Không còn một ám chỉ nào đến những chủ đề trong quá khứ về "hai chữ Miền Nam " hay về sự tôn trọng "dư luận của số đông quần chúng" Báo chí chánh thức ở Sài Gòn trình bày ngày nầy qua ngày khác những chiến thắng của quân đội giải phòng Bắc Việt , của Khờ Me Đỏ, của Pa Thet Lào như là một chiến thắng chung của một Mặt Trận Cách Mạng duy nhất bao gồm cả Đông Dương, xem như một Liên Bang mà Hà Nội sẽ là người lãnh đạo. Các đồng hồ của Sài Gòn được kéo lùi lại 60 phút, để theo đúng với giờ Hà Nội, mà theo lời xác nhận của người nữ xướng ngôn viên của Đài Phát Thanh Giải Phóng đọc trước mỗi bản tin tức, kể từ nay sẽ là "giờ chánh thức của Đông Dương" Ca tụng một chiến thắng đã từng được mong đợi từ lâu, đã đưa những người lãnh đạo Miền Bắc Việt Nam đến chỗ hết lời tán dương sự hình thành của một khối đấu tranh chống đế quốc gồm có những chế độ tiên tiến hiện hữu và tương lai , bành trướng xuống hết miền Đông Nam Á Châu. Nhưng trong khi Hoa Kỳ rút lui, họ đã để lại trên đất nước Việt Nam hai cường quốc xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc chia rẽ nhau vì một sự tranh giành ảnh hưởng ý thức hệ và vì một sự đối đầu truyền kiếp.. Đã thấy có nhiều sự rạn nứt giữa hai nhóm thân Nga và thânTầu. - Bên Lào, nhóm Thân Nga đã thắng thế vì có Hà Nội đỡ đầu. Nhưng Trung Quốc thì nắm chặt Bắc Lào và hai con đường chiến lược được 3 sư đoàn và một lực lượng phòng không hùng hậu bảo vệ. Quân đội hoàng gia Lào, hùng hậu với 60.000 người đã bị giải tán. 3000 sĩ quan của lực lượng nầy bị lưu đày lên Sầm Nứa ( vùng Cao Nguyên Bắc Việt) để "học tập cải tạo", và tất cả binh sĩ của họ đều bị nhốt trong các trại lao động khổ sai. 1.500 chuyên viên Liên Xô và 400 chiếc phi cơ của hãng Aéroflot đã đến thay thế các chuyên viên Mỹ và các phi cơ của hãng Air América (hãng hàng không riêng của Trung ương Tình Báo CIA ). Họ đảm trách công tác tiếp vận và tất cả mọi liên lạc của Pathet Lào (quân đội cộng sản Lào). Hoàng thân Souvanna Phouma, vị Chủ Tịch được chỉ định của Chánh Phủ Liên Hiệp Lào chỉ giữ một vai trò tượng trưng, và sẽ rút lui vĩnh viễn sau những cuộc bầu cử vào tháng 4 năm 1976. - Tại Cam Bốt, các nhà ngoại giao Liên Xô đều bị trục xuất và cộng sản Tầu đang ở trong thế mạnh. Nhưng các phi cơ nào muốn đáp xuống phi trường Phnom Penh đều phải đánh một vòng chừng 1500 cây số để tránh không bay ngang qua lãnh thổ Việt Nam , ở đó sự có mặt của Liên Xô càng ngày càng mạnh. Những chiếc tàu đầu tiên cập bến vào các cảng Sài Gòn và Đà Nẳng là những chiếc tàu chở dầu và chở hàng của Liên Xô. Mạc tư Khoa đã bí mật và cứng rắn cho Bắc Việt biết là họ đặt quyền lợi của họ vào việc xử dụng căn cứ Không quân và Hải quân ở Cam Ranh , một vị trí chiến lược hàng đầu ở nửa đường giữa Hong Kong và Tân gia Ba, một căn cứ mà Hoa Kỳ đã bỏ ra mấy trăm triệu mỹ kim để thiết lập và xử dụng. Bộ chỉ huy tối cao của Liên Xô coi việc nhượng cho họ được quyền xử dụng căn cứ Cam Ranh chỉ là một sự bồi hoàn hợp lý đối với một số lượng phương tiện khổng lồ mà Liên Xô đã từng giúp và viện trợ cho Bắc Việt trong suốt thời gian cuộc chiến tranh giành độc lập. Với sự tái mở lại sự lưu thông trên kinh đào Suez, việc xử dụng được căn cứ Cam Ranh sẽ là một trạm chủ yếu giữa các căn cứ của Liên Xô từ Ấn độ Dương ở phía Nam (đảo Socotra, Berbara ở Somalie) đến mũi Vladivostock ở mạn Bắc. Các hạm đội của Liên Xô do đó sẽ có thể mở rộng phạm vi hoạt động trên Biển Đông của Trung Quốc hết sức an toàn. Tuy vậy nhưng muốn đi đến một Hiệp định cũng sẽ không dễ dàng lắm đâu. Bắc Kinh không bao giờ muốn thấy sự bố trí của một kẻ địch lảng vảng ở ngoài khơi cách bờ lục địa của mình không xa, để có thể đe dọa mình, sau sự lui binh của Hoa Kỳ . Chánh Trị Bộ của Hà Nội tuy phần lớn đều "thân Liên Xô", nhưng cũng có một số "thân Tầu" mà vị thế chánh trị cũng nặng ký lắm như Nguyễn lương Bằng Phó Chủ Tịch nước, Trường Chinh, Chủ tịch Quốc Hội, và Hoàng văn Hoan, Tổng trưởng Nội Vụ. Một vấn đề khác làm cho Bắc Kinh nổi giận: đó là số phận của trên một triệu rưởi người dân Trung Hoa đang ở Miền Nam Việt Nam . Khi bộ đội chánh quy Bắc Việt vào Sài Gòn , tất cả thương gia người Tầu ở Chợ Lớn đều đã treo trước cửa tiệm của họ lá cờ của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Nhưng họ được lệnh phải tháo xuống ngay. Những người Tầu nầy quá đông và sống rất có tổ chức, đã kiểm soát tất cả nền kinh tế và hệ thống phân phối ở Miền Nam , và như thế là họ siết chặt quá nặng nề hành động của Hà Nội . Nếu họ được Bắc Kinh bảo vệ, họ sẽ thoát khỏi gọng kềm của Hà Nội ngay. Qua nghị định của Tổng Thống Diệm từ năm 1956, họ được nhập quốc tịch Việt Nam , và giờ nầy họ vẫn tiếp tục còn mang quốc tịch Việt Nam và vẫn được coi là "dân Việt Nam " Một chiến dịch hung bạo đang được tiến hành để đánh vào những người đầu não của những người Tầu nầy mà họ gán cho một danh từ xấu xa là "tư sản mại bản", được người ngoại quốc trả lương. Đài phát thanh cộng sản đổ hết trách nhiệm cho họ về chuyện giá cả thị trường đang tăng vọt, do họ đầu cơ tích trữ làm cho hàng hóa khan hiếm . Ngoài ra chánh quyền cộng sản còn buộc tội họ là đã phá hoại cuộc cải cách tiền tệ vừa rồi. Đài phát thanh còn loan báo tên tuổi của họ, loan báo đã bắt được nào là ông "vua gạo", ông "vua thuốc lá", "vua cà phê", "vua vận tải", "vua ngư trường", "vua thuốc tây" v.v..Một nhân vật cộng sản vừa thay thế Trần văn Trà trong chức vụ Trưởng Ban Quân Quản Sài Gòn Chợ Lớn là Mai chí Thọ, một người lai Tầu, là người đang có trọng trách điều hành chiến dịch đánh "tư sản mại bản" đã nói : - "Chúng tôi phải ngăn chận bọn tôi tớ của đế quốc, không cho họ tiếp tục làm đội quân thứ năm nhằm làm hại nền kinh tế của đất nước". Người Tầu phản ứng lại với mối đe dọa nầy bằng cách làm nhiều bản kiến nghị ủng hộ đường lối chánh trị của Chủ Tịch Mao trạch Đông. Thống nhất đất nước bằng võ lực không giải quyết được gì cả. Nước Việt Nam vẫn là miếng mồi ngon để cho các thế lực ngoại bang tranh nhau giành giựt. Cũng như việc ký kết Hiệp Định Ba Lê không thể đi tới chấm dứt được chiến tranh, chuyện áp dụng biện pháp quân sự để chiếm thủ đô Sài Gòn và xâm chiếm cả Miền Nam Việt Nam ... đã không chấm dứt được những nỗi đau khổ của một dân tốc vốn đã rách nát. Cách mạng Miền Bắc quá hung hăng và háo chiến đã dựa trên nguyên tắc "chánh quyền ở đầu lưỡi lê họng súng" để thiết lập đường lối hành động của mình. Hà Nội đã lựa chọn con đường khư khư quá cứng rắn. Miền Bắc chẳng những muốn thống trị Miền Nam , mà còn muốn hài tội họ, ép buộc và thuyết phục họ phải đi theo ý thức hệ của họ, một sự thật mà Hà Nội nghĩ rằng chỉ có Hà Nội mới là người duy nhất được nắm giữ. Con đường quá dài đó có đầy chướng ngại, đầy áp bức, đầy chết chóc, nhục nhã... không thể dẫn tới hòa bình được, một nền hòa bình mà cả dân tộc đang mong đợi từ 30 năm qua, trong tình trạng chia rẽ vì bị đổ quá nhiều máu, có quá nhiều tang tóc, và quá nhiều đau khổ. Có một cách duy nhất dể cho những người chiến thắng hàn gắn lại tất cả các vết thương còn đang rướm máu và quá nhức nhối nầy, đó là họ phải cố gắng đè nén lòng kiêu căng qua chiến thắng của họ xuống, để công bố ngừng tranh luận về ý thức hệ, để chứng minh cho người ta thấy tấm lòng độ lượng của mình. Sự thống nhất thật sự phải đi qua con đường "hòa bình của con tim", trở lại những truyền thống cũ của đạo lý và sự khoan dung. Đó là con đường xoa dịu nhân tâm. Chỉ có như vậy thì cả hai Miền Nam Bắc mới họp nhau lại thành "Một Đất Nước Duy Nhất" của một "Dân Tộc Duy Nhứt" trên 50 triệu người dân tự do trong tình anh em được . Một đất nước giàu có và phồn thịnh, có nhiều tài nguyên thiên nhiên gần như vô tận với những cánh rừng nguyên thủy, với nhiều con sông lớn đầy phù sa, với ruộng đồng bao la bát ngát, với những mỏ than lộ thiên, với những mỏ dầu, với những bãi cát trắng và những hải cảng kín gió mùa.... Một dân tộc có tay nghề khéo léo, đảm đang và siêng năng cần cù rất hãnh diện để được nhận lấy một chỗ đứng xứng đáng trong cộng đồng thế giới...... Đây có phải là một giấc mơ không hiện thực? để cuối cùng hé mở được bức màn đầy máu đỏ, đang đè nặng trên mảnh đất đang bị dày vò nầy, để nhìn thấy được một đất nước không còn hận thù và không còn chiến tranh, ở đó những người cùng một giống nòi đang cố tìm lại con đường hạnh phúc của họ? Pierre Darcourt |
| Có 1 thành viên cảm ơn TracTreo vì bài viết có giá trị: | ||
|
#45
|
|||
|
|||
|
vao day moi thay mat time phi thoi gian
|
|
#46
|
|||
|
|||
|
Cám ơn Tractreo đã bỏ ra thì giờ để post quyển sách và cũng cám ơn bạn và buiphan nói lên những trăn trở, tâm trạng chung. Xin mách cho hai bạn quyển Nixon and Kissinger: Partners in Power của sử gia Robert Dallek. Ông ta khảo cứu rất nhiều để hòan thành quyển sách này. Dallek tả lại chính trường Mỹ thời Johnson và Nixon liên quan đến vận mệnh VN với khá đầy đủ chi tiết; người đọc có cảm tưởng như sống trong nước Mỹ thời sôi bỏng đó. Theo tôi, qua quyển sách, dù MNVN có lãnh đạo giỏi thời đó, không chắc là vận mệnh sẽ khác vì nó đã không được định đoạt bởi người MNVN.
|
|
#47
|
|||
|
|||
|
Cám ơn Tractreo đã có công C&P cho mọi người xem, xin tặng bác
Mai mốt, trước khi gởi bài bác làm ơn xem hộ lỗi type trước. Mỗi khi đọc, nhìn các lỗi vô ý thấy khó chịu lắm Và thêm nữa, bác lấy từ nguồn nào thì cũng nên đưa vào, chứng tỏ mình tôn trọng công sức của người type bài đầu tiên. |
|
#48
|
|||
|
|||
|
Thưa bạn dungnhintoi.
Nếu như bạn cảm thấy mất thời gian, xin vui lòng bỏ qua. Không ai dùng quyền lực để bắt bạn phải đọc cái gì bạn cho là vô ích trên Net, như đã bắt học trò cấp II học về chủ nghĩa Mác-Lê. Thưa hai bạn Cymbidium và lyenson. Tôi nhìn thấy khá nhiều lỗi chánh tả trong bản dịch của dịch giả DHN, nhưng thú thực không có thời gian sửa chữa (post bài trong giờ làm việc mà, tôi ăn cắp giờ làm việc từ...túi tôi đấy. Hì). Nguồn thì tôi không biết, bởi do một người bạn gởi tặng qua mail. Nhưng trong phần mở đầu, tôi nhìn thấy có ghi địa chỉ của nhà xuất bản và số điện thoại. Tôi biết, đây cũng là một hình thức vi phạm bản quyền, nhưng...quả tình khó cư xử khác được. Về quan điểm của tác giả Darcourt, một số điểm tôi không đồng tình, nhưng cho rằng đây chỉ là một góc nhìn của một ký giả người Pháp, cũng là lẽ thường. Ngay cả trong người Việt chúng ta, nhớ lại những ngày nóng bỏng ấy, đã có ai hoàn toàn nhất trí với ai đâu ? Nghĩ về nhân vật Kissinger ngày ấy, tôi cũng không oán trách gì, có lẽ ông ấy hành động gần như 100% cho quyền lợi của nước Mỹ, tất nhiên không loại trừ tham vọng cá nhân. Nhưng, nhìn vào Hiệp định Paris, tôi bàng hoàng nhận thấy, nếu VNCH có một nhà lãnh đạo bản lĩnh hơn, trong sáng hơn, tài ba hơn, có thể...Hoa Kỳ đã phải tiét chế trong những kế sách của mình hơn. Dù gì thì chuyện đã trở thành quá khứ, không thể thay đổi được lịch sử, ăn thua là hậu sinh có rút được thành một bài học cho mình hay không, thế thôi. Trân trọng. |
|
#49
|
||||
|
||||
|
Tôi có một thắc mắc nhỏ, theo tôi biết thì 1972, TQLC mới là lực lượng tái chiếm Cổ Thành Đinh Công Tráng, trước đó mới là Nhảy Dù chịu trách nhiệm sau thì giao lại cho TQLC, sao lại viết là Nhảy Dù tái chiếm Cổ Thành được.
__________________
Phản đối bọn cà Phò nhúng tay vào chuyện riêng của đế quốc Bựa, xóa hết mấy tác phẩm văn hóa đại bựa của đế quốc Bựa thì còn Bù Bựa làm mịa gì nữa, sao không xóa luôn Bù Bựa Bóc cho rồi. |
|
#50
|
||||
|
||||
|
Nếu mất thời gian thì đừng vào, không muốn đầu óc mình được khai sáng thì đừng đọc.
|
|
#51
|
|||
|
|||
|
Trích:
Theo sử gia Dallek (trong quyển sách tôi đề cập ở trên), khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không chịu ngồi vào bàn Hội Nghị Ba Lê năm 1971, đích thân Kissinger đến VN để thuyết phục ông Thiệu bằng những lờ hứa ngọt ngào (vẫn ủng hộ MNVN sau khi ký Hiệp Định). Ông Thiệu vẫn từ chối vì những điều kiện thiệt thòi cho MNVN, Kissinger hăm dọa "Nếu ông từ chối không ngồi vào bàn thì chính phủ Mỹ sẽ không bảo đảm tính mạng của ông, như những gì đã xẩy ra với hai anh em họ Ngô". Đây là cái trở giọng đểu cáng của chính sách đối ngoại Mỹ trong giai đoạn đó: hy sinh đồng minh để đổi lấy "ping pong diplomacy" với Trung Hoa và détente về SALT với Liên Xô. Nên nhớ là Nixon và Kissinger là cặp bài trùng và hai ông mãnh vàng về foreign policy. Ông Thiệu, hay bất cứ người lãnh đạo tài ba xuất chúng nào đó, chỉ có hai con đường: chết hoặc chấp nhận nhũng gì Mỹ đã bày ra (bỏ rơi MNVN bằng mọi giá). Chết thì cũng không cứu vãn được MNVN. Quan điểm của tôi vẫn là: trong giai đoạn đó, ngu xuẩn hay tài ba cũng không tránh khỏi mất MNVN vì mưu toan xâm lược của CS Bắc Việt. Sự mất mát đau thương này đã được định đoạt ở những khuôn viên đại học Mỹ, trong những bài bình luận trên báo chí Mỹ, và cuối cùng trong Quốc Hội Mỹ. Nga, Trung Hoa, và CS BV biết rất rõ điều này và họ hân hoan chờ ngày "bất chiến tự nhiên thành". |
|
#52
|
|||
|
|||
|
Xin được hỏi một câu thôi: nếu Mỹ không đổ quân vào, thì VNCH có đánh thắng được sự xâm lăng của VNCS không?, (có/không).
|
|
#53
|
|||
|
|||
|
Một bên tấn công, một bên chỉ có thủ. Bên tấn công cứ đánh mãi hết trận này đến trận khác, rồi rút về, dưỡng quân, tăng viện, rồi lại đánh tiếp.
Bên tấn công lại bao gồm những chiến binh hết sức hung hãn và không có gì để mất. Bên thủ luôn trong trạng thái chờ đợi bị tấn công bất cứ lúc nào, và chống trả để tự vệ. 10 năm, 20 năm,… Rồi thì cũng đến lúc phòng tuyến bị chọc thủng và bên thủ sẽ chẳng còn khả năng phòng thủ được nữa, cho dù họ có chiến đấu dũng cảm đến đâu đi nữa. |
|
#54
|
|||
|
|||
|
Nếu ông Diệm chịu để Mỹ đổ quân vào ngay từ thời đó, liệu có thắng không?
|
|
#55
|
||||
|
||||
|
Xin trả lời bạn buiphan, nếu Ngô Đình Diệm còn sống thì dù quân đội Mĩ không vào (mà Ngô Đình Diệm cũng không cho vào) Miền Nam sẽ vẫn được như Đại Hàn bây giờ, với chính sách của chế độ họ Ngô thì VC rất khó nằm vùng và phá hoại, hiển nhiên sẽ không thống nhất được đất nước vì VNCH sẽ vẫn ở tư thế phòng thủ, phe kia vẫn tấn công nhưng không thủng, dần dân Miền Bắc thế cùng lực kiệt rồi sẽ tự tiêu vong.
|
|
#56
|
|||
|
|||
|
Trích:
Ôi, tôi mong nhất điều này và tôi nghĩ, Mỹ cũng mong nhất điều này. Nhưng điều đó có thực tế không?. Khi đất nước đang trong chiến tranh mà hết biểu tình lại tới đốt xe, hết xuống đường lại tới dậy mà đi thì thất bại đã thành hình. Khi mà "Sờ Pai" được cài cắm từ thượng tầng kiến trúc xuống hạ tầng cơ sở thì cái chết đã được báo trước. Chỉnh sửa lần cuối bởi buiphan vào 25-03-2008 lúc 07:48 PM |
|
#57
|
|||
|
|||
|
Trích:
|
|
#58
|
|||
|
|||
|
Trong tình thế hiện nay, Taiwan sẽ không ngại đối đầu trực diện với TQ, khi còn có sự "bảo đảm" của Mỹ. Cái cần quan tâm là lòng người Taiwan có thay đổi không, trước chiến thuật tầm ăn dâu bởi "đạo quân thứ năm" của TQ. Nếu lòng người Taiwan thay đổi thì dù Mỹ có "đổ quân vào", cũng khó tránh khỏi sự tái diễn kịch bản "30.4". Lúc đó, Mỹ lại chỉ còn cách rửa tai mà nghe chửi !
Liệu người Taiwan có rút ra được kinh nghiệm gì không ?. Nên chăng, hãy tự chứng minh sự đáng tin của mình, trước khi năn nỉ...Mỹ cứu! . Chỉnh sửa lần cuối bởi buiphan vào 26-03-2008 lúc 06:05 PM |
|
#59
|
||||
|
||||
|
Không đúng ở điểm nào, xin bạn nói rõ, việc Ngô tổng thống không cho quân Mĩ vào VN, hay Ngô tổng thống không xua quân qua vĩ tuyến 17.
|
|
#60
|
||||
|
||||
|
Trích:
|
![]() |
| Đang xem chủ đề này: 1 (0 thành viên và 1 khách) | |
| Công cụ | |
|
|