|
#1
|
|||
|
|||
|
Bữa cơm gia đình
Bữa cơm gia đình
Tôi không phải sinh ra trong một gia đình quyền quí gì, cha tôi chỉ là một nhà giáo ở tỉnh lẻ, nhưng nếp sống gia đình cũng theo thói thủ cựu kéo dài cho tới khi tôi khôn lớn. Hồi ấy tôi mới lên sáu đang học lớp Ðồng Ấu trường tiểu học thị xã và cho tới giờ này tôi không bao giờ quên được những bữa cơm gia đình, nó là lúc tập họp mọi người lại, đó cũng là lúc vui và cả lúc buồn phiền vì những sinh hoạt vui buồn của gia đình luôn luôn đi vào bữa cơm, không kiêng dè gì tới tuổi ấu thơ, non trẻ của tôi. Gia đình có ba bữa ăn luôn luôn đông đủ mọi người trong gia đình. Ban sáng, có lẽ từ lúc trời rạng đông mẹ tôi đã dậy nấu một nồi cháo đậu xanh hay cháo gạo đỏ, múc ra từng chén (bát) nhỏ và bày lên tấm “phản gõ” (còn gọi là tấm phản ngựa làm bằng thứ gỗ tốt), nơi mỗi bữa ăn gia đình tôi vẫn quây quần ở đó. Lúc tôi thức giấc, làm vệ sinh xong chuẩn bị đến trường cũng là lúc cha tôi đã ngồi vào chỗ ăn sáng. Chiếc mâm đồng có chạm trổ rồng phụng, đã cũ, hơi vênh mặt, đã bày quanh những bát cháo xếp tròn, ở giữa mâm là một chiếc dĩa lớn đựng những tảng đường đen đã được mẹ tôi chặt đều ra từ một bánh đường “đọi” (bánh đường có hình thể của một chiếc bát), hoặc có ngày sang thì chiếc dĩa đựng một ít đường cát vàng... Chung quanh mâm cháo đã có các anh chị tôi, trong khi mẹ tôi có lẽ còn loay hoay gì đó trong nhà bếp. Trong bữa sáng, tương đối ai cũng ăn vội vã và ít chuyện trò vì mỗi người đều phải có công việc riêng phải rời nhà. Trong khi lúc ăn, chúng tôi đều phải từ tốn, không khua đũa bát hay nói chuyện ồn ào. Cháo hay cơm thì người ăn phải vét cho sạch chén, không để lại một hạt cơm dính trong chén hay một vệt cháo còn lại cho khỏi phí của trời và mang tội. Ăn xong, chúng tôi không phải bưng chén không xuống bếp, nhưng phải để cái chén dùng xong ngay ngắn trước chỗ mình ngồi và nhất là phải gác ngang đôi đũa lên miệng chén để cho mọi người biết là mình đã ăn xong, xin phép và đứng dậy. Trái lại, bữa cơm trưa và bữa cơm tối là hai bữa cơm gia đình sau khi mọi người đã trở về nhà. Thời Pháp thuộc, chợ chỉ đông một buổi, công chức, học sinh hay thợ thuyền, cũng đều chia công việc hằng ngày ra làm hai buổi, trưa trở về nhà ăn uống, ngủ trưa, mãi đến ba giờ chiều mới làm việc lại. Những bữa cơm này, chúng tôi phải đợi khi cha tôi về, đợi cho ông thay quần áo, rửa tay chân, mặt mày, ngồi vào mâm cơm, khi ông cầm đũa lên, anh em chúng tôi mới bắt đầu ăn. Vì vậy có lúc 11 giờ trưa tôi đã về tới nhà, bụng đói nhưng không bao giờ được mẹ tôi cho ăn trước, có ưu ái chăng là một cục kẹo, trái bắp hay một bó đậu nành luộc mà mẹ tôi đã mua từ buổi chợ về để làm quà cho tôi. Có khi đói và buồn ngủ tôi đã ngáy khò trên chiếc phản ngựa cho đến khi mẹ tôi gọi dậy để cho bà dọn bữa cơm trưa. Buổi tối, thường là gia đình tôi ăn cơm khi trong nhà đã lên đèn. Nếu cha tôi có tạt vào nhà một ông bạn nào đó có chút việc thì anh em chúng tôi cũng phải ráng lòng chờ, đó cũng là lòng kính trọng, là một nguyên tắc bất thành văn, chưa lúc nào gia đình tôi được ăn cơm trước, trừ trường hợp có công chuyện, cha tôi phải về nhà quá trễ và có dặn trước với mẹ tôi. Bữa cơm gia đình luôn luôn là một buổi hội họp, trò chuyện, trao đổi ý kiến. Có lúc cha tôi nói về những ông bạn cùng sở, anh tôi nói về những người bạn và tôi với những chuyện ngô nghê của tuổi nhỏ, nhưng ít khi ai lắng tai nghe kỹ và lâu một chút về những điều tôi nói. Bữa ăn cũng là lúc loan báo các thông tin qua các bức thư cha tôi nhận được ở sở, từ quê nhà, từ thân thuộc nên cũng có khi bữa ăn trĩu nặng như bầu trời trước cơn mưa giông. Tuy vậy, tôi không bao giờ oán trách những bữa cơm gia đình đã dọn quá trễ với cái bao tử mau tiêu hóa của tôi, hay cả những lời nói không mấy vui trong bữa ăn, mà ngày ấy cha tôi đã không có đủ kiên nhẫn để chờ cho xong bữa cơm. Những ngày lớn lên đi xa, điều làm tôi nhớ nhà nhất, là nhớ những khuôn mặt quen thuộc của gia đình trong bữa cơm sum họp ấy. Những ngày lớn lên, lấy vợ sinh con, gia đình nhỏ bé của tôi cũng có những bữa cơm đoàn tụ vui cười, đó là những lúc mọi người đã gác bỏ công việc và những suy nghĩ riêng để có thể ngồi lại với nhau. Tôi đâu có biết, một ngày nọ, những bữa cơm gia đình này sẽ không còn tồn tại trong nếp sống của mình nữa. Khi vào tù, lãnh vội một phần ăn đạm bạc với miếng bánh bột mì luộc hay hai củ khoai và tí nước muối đựng trong cái chén nhôm cũ tồi tàn, kiếm một góc sân nào đó hay ngay trên sàn tre chỗ nằm của mình, nuốt cho qua bữa, tôi mới thấy xót xa nhớ tới những bữa cơm gia đình. Phải chăng những gì mất đi chúng ta mới thấy quí giá, thương tiếc. Ngày tôi trở lại nhà sau những năm tháng tù đày giữa một thành phố đổi họ thay tên, điều tôi nhận xét đầu tiên khi về đến nhà là bữa cơm gia đình từ nay đã mất dạng. Tới bữa cơm, một đứa con tôi xúc một chén, với miếng khô tìm một góc nhà lặng lẽ ngồi ăn, đứa ăn trước, đứa ăn sau, chúng ăn đủ phần, có nhường nhịn theo thói quen sau khi cha chúng vào tù, cửa nhà sa sút, nhưng tuyệt nhiên không có ngồi lại với nhau, vui đùa như ngày trước. Ðứa con trai đi làm chỗ sản xuất đồ nhôm có cơm ngày hai bữa, nhường phần ăn lại em gái, đứa nhỏ đi học về, đứa lớn sau giờ học còn đi lượm than vụn ngoài bến xe, nhặt bã mía về phơi khô thổi cơm. Không còn có bữa cơm gia đình, không có giờ ăn cơm chung. Cái mái ấm ngày xưa ấy đã bị phá nát rồi, sẽ chẳng bao giờ có lại được bữa cơm, nói cười rộn rã dưới ánh đèn ấm cúng nữa. Bữa cơm gia đình bây giờ hóa ra một cái gì biểu tượng cho một lề thói rất “tiểu tư sản”, nó không cần thiết phải tồn tại. Trong cái xã hội chạy không ra miếng ăn, có cái gì để ngồi lại trên mâm cơm với nhau. Ở trong xã hội Mỹ, trái lại thức ăn thừa mứa, vật chất quá đầy đủ nhưng trái lại thời giờ quá hạn chế, căng thẳng. Những ngày mới chân ướt chân ráo đến đây, buổi sáng lúc tôi thức giấc thì con gái đã ra khỏi nhà. Buổi tối lúc ngủ đã một giấc thì đứa con trai mới mở cánh cửa ra vào lích kích trở về. Buổi ăn trưa thường là những bữa ăn đơn giản, một miếng bánh kẹp thịt, một chén cơm đựng trong cái hộp nhựa hay một tô mì ăn liền. Vợ chồng, giờ giấc đôi khi khác nhau. Thông tin thường để lại qua một miếng giấy găm trên tủ lạnh trong nhà bếp hay những lời dặn viết nguệch ngoạc trên cái bảng con. Họa hoằn lắm mới có một bữa cơm vợ chồng con cái ngồi lại đông đủ với nhau trong các dịp sinh nhật hay lễ Tết. Vì vậy bây giờ tôi mới thấy ở trên đất Mỹ, một bữa cơm sum họp vào chiều Lễ Tạ Ơn, hay ngày Hiền Mẫu, Nghiêm Phụ là điều cần thiết biết bao nhiêu. Có khi ta thấy nó phiền toái, nhất là đối với lũ trẻ thích bạn bè, quen với các loại hàng quán “fast food”, gò bó chúng lại trong một bữa cơm chiều có đông đủ anh em, bố mẹ có lẽ cũng là điều hơi khó khăn cho một vài gia đình. Ðôi lúc, trong một giấc mơ nào đó, tôi thấy mình ngồi lại trong một bữa cơm chiều với tất cả người đã quá vãng trong gia đình, đây là ông bà nội, đây là bố mẹ tôi... Có cả con mèo mướp đang gừ gừ, cọ thân mình vào vào đùi tôi, đang xếp bằng tròn trên tấm phản ngựa. Hình ảnh đó thật là đã xa lắm rồi, không bao giờ tôi có lại được, đó chỉ là một chút rong rêu trong cái ao tiềm thức của thời thơ ấu, lúc trở trời trồi lên trên mặt nước, hiện vào những giấc mơ. Mùa Tạ Ơn 2004 Huy Phương Nguồn nguoi-viet.com |
| Có 1 thành viên cảm ơn may4phuong vì bài viết có giá trị: | ||
|
#2
|
|||
|
|||
|
Tản mạn về cây cỏ
Phan Lạc Phúc (1995) Tạp Ghi Người già thường ít ngủ. Tôi thức đã lâu nhưng vẫn còn nằm gắng. Ở đây xứ Úc không có tiếng gà gáy sáng như ở quê ta nhưng văng vẳng đã nghe có tiếng chim gù gọi nhau buổi sớm. “Nằm gắng cũng không thành mộng được”, tôi nhìn ra sân qua khung cửa kính. Trời còn mờ mờ ảo ảo, tranh tối tranh sáng, giờ phút giao thoa giữa đêm và ngày, giữa mộng và thực. Tôi thấy một bông hoa hồng mới nở đang đong đưa trong gió ban mai. Bổng nhiên tôi nhớ tới câu thơ Cách tườnh hoa ảnh động Nghi thị ngọc nhân lai (Bên tường bóng hoa lay Người ngọc nào sắp tới) Tôi mỉm cười một mình. Người xưa Vương Thực Phủ thật vô cùng lãng mạn trong tác phẩm lẫy lừng Tây Sương Ký của ông. Chàng si tình Trương Quân Thụy đang nằm tơ tưởng người đẹp ở mái Tây thì chợt thấy bóng hoa lay động. Hồng Nương, cô hầu gái cắc cớ của tiểu thư Thôi Oanh Oanh, vừa là con chim xanh chỉ nẻo đưa đường vừa là “bà mối”, nửa đêm về sáng đã ẵm Thôi Oanh Oanh tiểu thư đang nằm thiêm thiếp trong chăn mà đưa cho Trương Quân Thụy. Chàng họ Trương dơ hai tay bồng người đẹp vào phòng mà không biết rằng mình tỉnh hay mơ. Người đẹp trắng như hoa huệ, hơi thở thơm như hoa lan đang nhắm mắt đợi chờ hạnh phúc, Lứa đôi ai đã đẹp tầy Thôi, Trương Nhưng cái mỉm cười của tôi bổng pha một chút thở dài cay đắng; cái thời “Trương Quân Thụy” của tôi đã xa quá là xa. Bây giờ tôi đã là một anh già “cúp bình thiếc”. Nếu bây giờ có một Hồng Nương ẵm một Thôi Oanh Oanh thật sự bằng xương bằng thịt tới thì tôi cũng đành phải chào thua, bắt chước Lục Vân Tiên ngày xưa mà la lớn lên rằng: Khoan khoan ngồi đó chớ ra. Tục ngữ có câu: cải lão hoàn đồng. Già rồi thì lại giống như trẻ con, vô hại và vô sự. Mình bỗng trở nên nghiêm túc như ông Liễu Hạ Huệ lúc nào không biết (Liễu Hạ Huệ là người được đức Khổng Tử khen là chính nhân vì giữa đường có người đẹp đi nhờ xe, ngồi lên lòng ông mà ông vẫn không nhúc nhích). Người ta nói già rồi thì không thích chơi với người nữa (hay là không còn điều kiện để chơi) nên người già thích chơi với thiên nhiên, cây cỏ, núi non. Mấy ông già ngày xưa thường sắm một hòn non bộ có cây có lá, có nước có non, có ngư, tiều, canh, mục, có hai ông lão ngồi bên tảng đá đánh cờ (đánh cờ thật không phải đánh cờ người). Tôi đi cải tạo không già cũng kể là già, lúc đó ngót 60 rồi còn gì nữa. Ở trại Xuân Lộc tôi có tuổi nên được giao công tác trực buồng, nghĩa là anh em nghe kẻng đánh là sắp hàng đi lao động ở ngoài, anh già là tôi ở nhà sắp xếp chăn chiếu cho anh em ngăn nắp, rửa cầu tiêu gánh phân, nước tiểu ra đội rau rồi quét dọn trong ngoài. Đến chừng 11 giờ sáng là gánh cần xé rác ra đổ ở chổ ruộng xa. Làm việc luôn tay luôn chân đến đó là mệt đừ rồi. Tôi gánh rác đi qua một dẫy mấy cây xoài lớn, cành lá xum xuê. Tôi đi đến đó luôn luôn nhắc người bạn đồng tù đồng cảnh đang gánh rác với tôi: “Từ từ bạn ơi, hưởng một chút bóng mát đã”. Đến đây chúng tôi mong cho hàng cây râm mát kéo dài mãi mãi. Nhưng dù có đi chậm lại cũng chỉ chừng vài ba phút là chúng tôi lại phơi trần trước nắng gió mông mênh. Trong cái thiên nhiên trơ trụi và khắc nghiệt, mấy cây xoài xum xuê kia đáng quý biết chừng nào. Khi tôi được tha về thì may mắn làm sao tôi lại được tạm trú trong một khu vườn quê có cây cau, cây mít, cây chôm chôm, cây ổi, cây khế, cây tre ở một miền thôn dã Hóc Môn. Ông bà nhạc tôi tạm lánh về đây; “mẹ cháu” và đứa con út tôi trốn từ khu kinh tế mới về tá túc với ông bà ngoại. Tôi đi cải tạo về, sau nhiều “thủ tục đầu tiên” tạm trú ở đó luôn. Già rồi, tôi lấy khung cảnh thiên nhiên ấy làm bầu bạn. Tôi làm một chiếc lều nhỏ dưới gốc cây mít, cây chôm chôm. Đi cải tạo 10 năm nên tôi không dễ dàng quên đời sống trong tù , không hội nhập ngay được vào đời sống văn minh. Người tù về thấy nằm võng trong lều thoải mái hơn dễ chịu hơn nằm trong nhà, chăn màn lỉnh kỉnh. Tôi muốn nằm dưới gốc cây, đung đưa cái võng, hưởng bóng mát của vườn cây, nghe tiếng rì rầm của lá, nghe con chim sẻ xôn xao đánh thức mình buổi sáng hay buổi trưa, dở thức dở ngủ nghe con chim gáy trên cành cao nó gù cúc cù cu văng vẳng. Thức dậy trong hương thơm của hoa cau thoang thoảng, mình vớ lấy chiếc điếu cầy rít một hơi quên trời quên đất. Hút xong ngồi bên cái lạch, cạnh chiếc lều con mà nhìn giòng nước chảy: Nước non hội ngộ còn luôn Bảo cho non chớ có buồn làm chi (Tản Đà) Đi tù về nhiều anh em mình quen với tù đày, với đời sống khổ sai khắc nghiệt nên tâm tình bất bình thường. Lại có những thói quen của cuộc đời mông muội như đi ngủ không cần phải rửa chân, đập đập vào nhau vài cái là xong, trèo lên sàn mà ngủ. Hoặc là “đâu cần phải đánh răng, phiền phức”. Ấy là chưa kể thuốc lào kè kè một ống, hôi mù trời. Tôi về nhờ cái lều dưới gốc cây, nhờ thiên nhiên rộng rãi nên dần dần mới hội nhập được với vợ con ở nhà. Đúa con gái út tôi, thương ông bố đi tù nhiều năm quấn quít lắm nhưng một hôm nó bảo: Đừng hút thuốc lào nữa bố ơi, con không chịu nổi. Khá đông anh em ta khi đi cải tạo về là gia đình tan nát. Tôi may quá vẫn còn vợ, còn con. Chỉ có mái tóc của mẹ cháu trước khi tôi đi tóc hãy còn xanh, khi về đã bạc trên một nửa. Tôi lại thầm cảm ơn những sợi tóc bạc kia; nó làm cho nhà tôi thành một bà già nhưng cùng một lúc nó lại bảo vệ cho mái nhà nhỏ của tôi vẫn còn nguyên vẹn. Trong khu vườn vắng vẻ Hóc Môn, hai vợ chồng già ngồi bên bờ giếng cạn. Mùa chôm chôm, tháng 5, tháng 6, những trái chôm chôm chín đỏ loà xoà chung quanh chúng tôi Trong cái thinh lặng của ban trưa, chợt một thoáng gió nồm thổi tới. Tôi xưa nay ít có làm thơ, làm thẩn nhưng để cảm ơn thiên nhiên, cảm ơn “mẹ cháu” ở nhà, tôi ghi vội mấy câu: Hai chúng ta ngồi bên bờ giếng, Những chùm lá nhỏ khẽ đong đưa, Nghe trong hơi gió trời hôn đất, Một cái hôn chìm trong hư vô… |
|
#3
|
|||
|
|||
|
Thư cho con gái ngày đính hôn
Trần Mộng Tú Con gái yêu của mẹ Tháng Sáu, những cánh hoa bông goòng bay hoang mang như tuyết lạc trong bầu trời mùa hạ. Hoa bông bay cả vào trong cửa xe, bám trên tóc trên vai áo mẹ. Lòng mẹ xôn xao bay lạc giữa những vui buồn. Tháng Sáu, mẹ lái xe đi vào tiệm vải, tiệm bánh, tiệm rượu, tiệm trà. Mẹ đi sắm sửa cho một ngày lễ hội hân hoan và trọng đại cho mọi người trong gia đình mình. Hôm nay, mẹ vừa làm xong những tấm thiệp, mẹ lái xe ra bưu điện, mang gửi đi báo tin và mời họ hàng, bạn hữu của gia đình mình đến dự đám hỏi của con vào ngày hai mươi Tháng Bảy sắp đến. Từ Mùa Hè năm ngoái, khi mẹ nhận được điện thoại của bạn trai con, lịch sự báo tin cho mẹ biết, anh ấy sẽ ngỏ lời cầu hôn với con chiều hôm đó. Mẹ buông điện thoại xuống mà nước mắt trào ra. Mẹ chưa biết rõ là vui hay buồn nhưng mẹ biết là mẹ xúc động đến run rẩy, bối rối và mẹ chạy đi tìm cha con để khóc. Cô con gái duy nhất của mẹ sắp lập gia đình. Sắp bước vào cuộc đời của một phụ nữ với bao nhiêu bổn phận trước mặt. Con sẽ vui, buồn, theo buồn vui của chồng, của những đứa con, của gia đình bên chồng. Con không còn chỉ thuộc về riêng con nữa. Cha con trấn an mẹ, nói với mẹ là cha tin vào sự chọn lựa của con, và nhắc mẹ phải tin vào sự chọn lựa của Thiên Chúa dành cho mỗi người. Ðời sống hôn nhân là một cuộc đời tự nhiên, và tất có của hầu hết mọi người trên mặt đất. (Không kể những nhà tu hành và người chọn ở độc thân). Nhưng ai cũng biết có may mắn và rủi ro trên định mệnh đặc biệt này. Mẹ nhớ lại cuộc hôn nhân dị chủng giữa cha mẹ. Cha con, một người đàn ông Mỹ trẻ chưa hề biết gì về văn hóa, về phong tục của cái xứ sở xa xăm thuộc về người phụ nữ mà mình muốn kết hôn; Mẹ, một phụ nữ Việt Nam di tản, mới định cư trên xứ sở này hơn một năm, hãy còn hoang mang trên đất lạ. (Giống như một người lênh đênh trên sông nước, vừa tắp vào bờ, còn một chân trên bến, một chân dưới thuyền.) Cả cha con và mẹ chắc đều là mối lo lắng cho hai bên gia đình. Ông bà nội, ông bà ngoại của con thế nào cũng có những đêm không ngủ. Vậy mà cha mẹ đã ở với nhau hơn ba mươi năm. Cũng có những con sóng nhỏ, có những ngày mưa, ngày gió. Nhưng chiếc thuyền hôn nhân vẫn trôi êm ả nhờ có ba đứa con ngồi trong đó nên thuyền không bị chao đi. Mùa Hè năm ngoái mẹ đi Yellow Stone với vợ chồng người anh họ. (Chương trình có cả cha con, nhưng đến phút chót cha con không đi được.) Khi lái xe từ Seattle đến Montana, ở lại đó một đêm, mẹ bồi hồi nhớ lại đã bao nhiêu lần mẹ về đây. Những lần đưa các con về quê nội mỗi Mùa Hè. Thành phố Helenna của tiểu bang Montana, nơi nổi tiếng về bầu trời cao xanh, về những dẫy núi sừng sững và những con ngựa núi đẹp đến ngất ngây, không phải là nơi định cư đông đảo của người Á Ðông, nên thực phẩm Á Ðông rất hiếm. Mỗi lần về, mẹ mang theo một thùng thực phẩm đặc biệt như: bún, nước mắm, miến và gia vị xả, ớt, v.v để làm thức ăn cho mọi người. Mẹ đã gửi gấm (hay nói một cách khác, mẹ muốn chứng tỏ) cái văn hóa Ðông Phương của mình cho người bản xứ. Và chính cái văn hóa ẩm thực này đã kéo mọi người gần gũi nhau hơn. Bây giờ thì ông bà nội đã qua đời, các con thì như chim bay tứ tán vào những khoảng trời khác, xa vời cha mẹ, và căn nhà cũ của ông bà nội, bây giờ cũng đã có người khác ở. Nhớ lại lần đầu tiên mẹ về đó ra mắt nhà chồng vào dịp lễ Giáng Sinh của năm 1976. Lúc đó mẹ có mang anh con được hơn 1 tháng. Ông bà nội con mời họ hàng và lối xóm đến để giới thiệu cô con dâu mới. Trước khi khách đến, ông nội con cho mẹ uống một ly nước trái cây có pha rượu, mẹ bị say ngất ngư. Khi khách đến đầy nhà, mẹ vẫn nằm bẹp trên gác không xuống được, cha con lên gọi mẹ, và nói: - Em ráng xuống đi, mọi người đang muốn xem có phải cô dâu Việt Nam có ba mắt, hai mũi không? Ðó là một câu nói đùa của cha con cho mẹ cười, nhưng cũng cho mẹ hiểu rằng, ngoài cha con ra, những người ở trong bàn tiệc hôm đó sẽ rất tò mò về mẹ: Một cô dâu thuộc về bên kia trái đất, nơi người ta chưa bao giờ đặt chân đến. Bây giờ con cũng lấy một người chồng thuộc về một phần đất khác. Cũng có những phong tục, tập quán khác. Nó không quá khác biệt như Ðông với Tây. Nhưng con cũng phải bay mười mấy tiếng mới tới phần đất có gia đình nhà chồng. Mẹ cũng lo lắng, cũng hoang mang như ông bà ngoại ngày trước, và mẹ cũng đã có nhiều đêm không ngủ. Mấy tháng nay sắm sửa khăn áo cho con. Ði chọn áo cô dâu với con. Ði mua trà, mua bánh, mua rượu. Mỗi lần đi về mẹ lại khóc. Mẹ cũng không hiểu “tại sao” lại khóc. Chắc bà mẹ nào có con gái sắp lấy chồng cũng khóc như mẹ. Người Việt Nam (hay người Á Ðông) thường nói: -Khóc như cô dâu ngày về nhà chồng - Khấp như thiếu nữ vu quy nhật - Nhưng mẹ thấy là - Khóc như mẹ của cô dâu - thì đúng hơn. Vì cô dâu của thế kỷ này không khóc nữa, nhưng mẹ của cô dâu thì thế kỷ nào cũng vẫn là bà mẹ cô dâu, bà mang một trái tim thổn thức trong ngực mình khi con gái mình về nhà chồng. Ðối với các bà mẹ, con gái mình là chuỗi ngọc trai, là chiếc vòng cẩm thạch, là hoa mẫu đơn, là ly nước suối, là miếng bánh thơm tho.Con gái bà là tất cả phần gia bảo mình có. Bây giờ bà đứng nhìn cái phần gia bảo đó đang chuyển sang nhà người khác. Làm sao mà ngăn được nước mắt ứa ra! Trong đời sống đầy đủ vật chất này, mẹ chẳng biết món quà nào mang ý nghĩa xứng đáng cho con, một cô gái có trái tim mẫn cảm một tấm lòng nhân hậu, và một đầu óc vừa thực tế vừa lý tưởng. Mẹ tìm cho con một món quà giản dị. Mẹ mua tặng con hộp kim chỉ, mẹ biết bây giờ không còn ai may cắt quần áo ở nhà. Tất cả đều mặc quần áo may sẵn. Mẹ chỉ muốn gửi gấm tặng con lời dặn dò trong món quà đó: “Với tình yêu và sự kiên nhẫn ai cũng có thể vá được những miếng rách nhỏ, khâu lại những cái khuy bị đứt, có thể có, trong đời sống vợ chồng.” Nói một cách khác, đừng nghĩ đến thay hôn nhân như thay áo. Hãy mặc cái áo hôn nhân đẹp đẽ ngày hôm nay. Nó không cần phải lúc nào cũng mới nhưng hãy giữ cho nó tinh tươm, lành lặn bằng tất cả tình yêu và sự kiên nhẫn của một người vợ. Phần còn lại đặt vào trong tay Thượng Ðế. Mẹ yêu con. |
|
#4
|
|||
|
|||
|
Ði đến những phương trời viễn mộng
Yến Tuyết (nguoi-viet) Cô bạn gái của tôi, Mùa Hè đưa con gái thứ hai trở về nhà sau hai năm trời đi dạy học ở Trung quốc. Khi con mới ra đi, thời gian xa con tưởng sẽ dài vô tận vì thương nhớ, thế mà nhìn lại, nó cũng qua đi nhanh quá. Căn nhà vắng lặng bỗng lại đầy tiếng cười nói sống động và tươi trẻ. Lòng tôi thì ấm áp vì những cái hôn hay xoa lưng quen thuộc của con. Tôi đoán nếu là người mẹ có đứa con đi xa trở về, bạn sẽ tìm thấy những tình cảm tương tự giống như tôi bậy giờ. Thằng con trai và bố của nó vốn ít nói cũng bận rộn lắng nghe và hỏi han về những sinh hoạt của con gái trong thời gian vắng nhà, cho dù trước đó, qua email và điện thoại, chúng tôi cũng đã biết ít nhiều những chuyện này. Cả nhà dán mắt vào màn ảnh computer để xem những cảnh đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng ở Trung Quốc qua hàng ngàn cái hình mà con chụp được từ cái máy digital nhỏ bé của nó. Con gái cũng khoe hình khuôn mặt lém lỉnh hay khờ khạo của những đứa học trò có quốc tịch từ khắp nơi trên thế giới: Hoa Kỳ, Pháp, Ðức, Nhật Bản, Ðài Loan, Singapore... theo cha mẹ có việc làm ở Thượng Hải đến học tại ngôi trường trung học quốc tế này. Hai năm trước đây, sau khi con gái tôi tốt nghiệp đại học và đi làm việc được một năm trong ngành mà nó chọn, không liên quan gì đến việc dạy học, nó ngỏ ý muốn đi du lịch ở Á Châu. Tôi nói với con là nhà mình không dư giả, nếu muốn đi đến những nước này, con chỉ có cách tìm một việc làm ở đó thì vừa có dịp đi ra nước ngoài mà vừa có tiền để tiêu xài, chi phí. Thế là sau những tìm kiếm, nó ghi tên vào một chương trình tuyển chọn thầy cô giáo dạy Anh ngữ ở nước ngoài của một trường đại học ở Virginia. Con gái tôi chọn dạy học ở Thượng Hải, Trung Quốc, nơi được xem là có đời sống tân tiến nhất Trung Quốc và được gọi là “New York của Trung Hoa”. Thế là con gái tôi đạt được mơ ước đi du lịch mà không tốn kém bao nhiêu với tiền lương mà nó kiếm được bằng mồ hôi của chính mình. Lương bổng trả cho thầy cô giáo ở trường này nếu so với lương giáo viên ở Mỹ thì rất thấp nhưng so với lương bổng ở những trường khác thì tương đối cao và giúp những cô thầy giáo trẻ có thể sống ở Trung Quốc một cách thoải mái vì giá sinh hoạt ở đó rẻ như ở Việt Nam. Trường học còn cung cấp chỗ ở rất tiện nghi miễn phí cho các thầy cô giáo nữa. Con gái tôi kể về những tô mì hoành thánh chỉ giá có 50 cents hay những bữa cơm trưa giá 1 Mỹ kim mà rất ngon miệng và hợp khẩu vị Việt Nam của nó. Con gái tôi cũng dành dụm tiền bằng cách nấu ăn tại căn apartment của nó. Lâu lâu thèm hamburger, pizza hay cà phê Starbuck nó vẫn có thể lấy xe buýt hay xe taxi xuống phố để “tiêu tiền kiểu Mỹ” vì ở Thượng Hải thì không thiếu gì những tiệm ăn và nhà hàng Âu Mỹ dành cho du khách và giới thượng lưu ở đó. Ngôi trường mà nó dạy học rất rộng lớn và có cảnh trí khá đẹp mắt, mang kiến trúc giống như những trường đại học công lập ở Mỹ với những hàng cây cao ôm những con đường trải nhựa. Trường còn có hồ nước cạnh bên công viên và một rừng thông nhỏ. Những khu buildings dành cho giáo viên và học sinh cư ngụ (vì đây là một trường nội trú) thì cũng nằm trong khuôn viên trường, cửa ra vào có người gác cổng. Trường có hồ bơi, sân tập thể dục cho học trò. Từ chỗ con gái tôi ở đến lớp dạy học chỉ việc đi bộ băng ngang qua một sân cỏ rộng. Dạy học ở trường này rất cực vì trường có những giáo án khắt khe đòi hỏi người giáo viên nhiệt tâm và có trách nhiệm giúp học sinh đạt được hiệu quả tốt. Họ tính học phí khá cao và phụ huynh khi gởi con vào trường này đặt hết tin tưởng vào chất lượng của việc giáo dục ở đó. Thế nhưng, bên cạnh những giờ phút căng thẳng của việc dạy học, con gái tôi đã có dịp có thêm bạn mới, phần lớn đến từ những tiểu bang khác trên nước Mỹ và một vài quốc gia Âu Châu như Pháp và Canada. Những đồng nghiệp trẻ tuổi này của con gái tôi có người chỉ đến dạy học một niên khóa, người khác đã ở đó 4, 5 năm và lấy vợ, lấy chồng, có con cái. Cũng nhờ ở Trung Quốc, con gái tôi đã có dịp đi thăm viếng những nước láng giềng ở Á Châu như Hồng Kông, Việt Nam, Nhật Bản, Phi Luật Tân, Singapore, Kuala Lumpur và nhiều danh lam thắng cảnh ở Trung Quốc với số tiền lương khiêm nhượng của một giáo viên. Nó đã học hỏi được những kinh nghiệm sống rất khác với đời sống bình thường mà nó từng có ở Mỹ, cũng như có cái nhìn cởi mở hơn về cuộc đời khi sống gần và chứng kiến tận mắt đời sống khó khăn của người dân trong những nước còn chậm tiến hay đang phát triển. Sau những ngày tháng lo âu về đủ thứ hiểm nguy mà con có thể gặp phải và đối diện ở những vùng đất xa lạ, tôi mừng thấy nó trở về bình an và trưởng thành hơn. Và trên hết mọi điều, tôi vui vì hiểu ra là mình đã làm một quyết định đúng khi hỗ trợ mơ ước của con để nó có thể đi đến những phương trời viễn mộng. Hẹn bạn thư sau nhé! |
|
#5
|
|||
|
|||
|
Mì gói vạn tuế
Huy Phương Tôi thật là kẻ vô ơn. Hồi đi học có mỗi cái cân, tôi cũng biết do ông Roberval chế ra, về định luật trọng lượng, tôi cũng biết nhờ ông Archimède, rồi sức hút của quả đất cũng biết tới ông Newton. Thế mà gần bốn mươi năm nay, tôi không biết ông tổ của mì gói hay mì ăn liền là Momofuku Ando, chủ tịch công ty Nissin Food Products Co. cho đến khi nghe tin ông qua đời. Tôi vô ơn là vì trước năm 1975, tôi ít gắn bó với tô mì gói “Hai Con Cua” của hãng Vifon ở Chợ Lớn, nhưng từ sau Tháng Tư ấy, cuộc đời tôi phải nói là gần như dính liền với sáng chế tuyệt vời của ông Ando. Tôi là lính tâm lý chiến ở một trung tâm huấn luyện tân binh, tức là dạy cho lính biết thế nào là Cộng Sản và vì sao phải đánh Cộng Sản, thế mà ngày 25 Tháng Sáu năm 1975, nghe thông báo đi trình diện “học tập cải tạo” tôi đem đúng 7 gói mì, theo tinh thần “hòa giải dân tộc”, sau 7 gói mì là tôi trở lại đi dạy học thay vì không đi lính nữa. Thay vì 7 gói mì, nếu có thêm và có đầy đủ, tôi phải ăn cho hết cái tội ngu của tôi là 2,455 gói chia cho 365 ngày là chẵn 7 năm. Nhưng vào cái thời buổi ấy đói rã họng, làm gì có mì gói là thứ thực phẩm cao cấp mà ăn. Mãi cho đến năm năm sau ngày vào tù, được vợ thăm nuôi cho mấy bao mì gói, bẻ nửa gói cho vào một cái “gô”, mấy ngọn rau lang vừa “cải thiện”, thêm một con nhái nữa là thành một món ăn tuyệt hảo nhất thế giới, ăn vào mát cả ruột gan. Món cơm sấy cho lính tác chiến ngày trước của Cục Quân Nhu nhạt nhẽo vô vị, tôi tự hỏi sao thời ấy mấy ông có trách nhiệm không phát cho lính mì gói để đi hành quân. Có nước nóng càng quý, nước lạnh cũng không sao, mà ăn không rồi uống nước vào sau cũng tốt. Từ ngày qua Mỹ, tôi thấy người Việt mình, gia đình nào cũng mì gói bất ly thân, đó là chưa nói thời buổi khó khăn, sáng trưa chiều, bận rộn không nấu nướng thì điểm tâm, ăn trưa ở sở hay no lòng buổi khuya cũng là nó. Hồi còn đi làm cu li, để khỏi mang thịt cá tanh hôi vào sở, chỉ một tô mì gói, đổ nước lạnh vào, bỏ vô microwave ba phút là xong. Suốt mấy năm, đồng nghiệp trong sở đặt cho tôi cái biệt danh “Mr. Noodle” cũng không có gì là quá đáng. Một cô đầm, tò mò coi cái công thức ở bao mì, khi thấy mấy chữ L. glutamade và monosodium glutamate in trên nhãn bao, cô đâm hoảng bảo rằng ăn nó vào là ung thư cấp kỳ. Tôi không buồn cãi lại, vì nếu ung thư thì đồng hương Việt Nam ở Mỹ chắc đã chết hết lâu rồi. Ðồng hương đi chợ Việt, món mì gói hầu như gia đình nào cũng có chất trên xe đẩy. Tôi cũng biết nhiều người ăn mì gói trường kỳ mà có tiền giúp thương binh, xây chùa hay góp tiền cho người ta mổ mắt, giúp người cùi, thì mì gói phải được mấy ông dân cử trao bằng khen. Tôi cũng biết nhờ mì gói mà các chàng trai trẻ lương “ba cọc ba đồng“có thể mua xe SUV đắt tiền hay đi Việt Nam đều đều. Nếu các cô gái Việt Nam theo chồng đến Mỹ, vào nhà thấy mấy thùng mì gói chất lên nhau trong nhà bếp, thì đừng thất vọng. Thứ nhất là vì bếp núc lạnh lẽo, phải ăn mì gói đều đều nên mới cần cưới các cô đến Mỹ, sau đó các cô cũng phải biết nhờ mấy thùng mì gói đó, mà cô mới có được “một đôi lợn béo, một vò rượu tăm.” Các bạn ở các tiểu bang miền Bắc, miền Trung Hoa Kỳ ít người Việt, xa hàng quán Việt Nam, không có tiệm “cơm chỉ”, “xa quê hương, nhớ mẹ hiền”, không nuốt nỗi mấy miếng khoai tây chiên, thì tô mì gói cũng làm người ta gần gũi với hương vị Việt Nam, cũng đỡ nhớ nhà lắm chứ! Tôi vẫn thắc mắc không biết mấy đứa cháu ngoại của tôi, có phải vì có máu Việt Nam lưu thông trong huyết quản không, mà đi học về, nghe nói đến mì gói thì đứa nào cũng sáng mắt ra, nhưng vì biết mì gói độc, nên chỉ thỉnh thoảng chúng mới được thưởng thức. Trong tất cả các món ăn chơi Việt Nam thì phở, bún bò, hủ tiếu, mì là tứ quý, nhưng cuối cùng thì chỉ còn phở và mì là hai món thông dụng nhất. Sau năm 1954, phở hầu như chiếm lãnh thị trường nhưng không đánh bạt được mì ở phía Nam, nhờ khối người Hoa còn đông đảo và mì nấu đơn giản hơn, rẻ tiền hơn. Thời đó, tôi còn nhớ đến tiếng “sực tắc” trong cuốn phim đen trắng “Kiếp Hoa” do hai cô đào miền Bắc là Kim Chung và Kim Xuân thủ diễn, tức là tiếng mì gõ phổ biến bây giờ ở Sài Gòn. Nhưng nghệ thuật “cô đọng” thì phở không làm nổi, nên phở ăn liền không làm nổi danh phận gì như gói mì ăn liền. Tôi là người Việt Nam sợ món ăn Mỹ, nên sang đây trong mười mấy năm, chỉ gặm hamburger trong những trường hợp rất bất đắc dĩ, còn mì gói, thì tứ thời bát tiết, sáng tối lúc nào cũng, mà lúc nào cũng thấy ngon. Mì gói mang đặc tính tiện lợi, nhanh chóng xổi xổi lúc nào cũng có mà dùng mà dùng được ngay, nên người ta mới có thành ngữ “mì ăn liền”, để nói tới một cái gì tạm bợ, thiếu phẩm chất như những cuốn phim được sản xuất trong thời mở cửa bên xứ xã hội chủ nghĩa. Nhu cầu sản phẩm chỉ để dùng tạm bợ thì người ta có thể sản xuất nó một cách đơn giản, xài qua một lần rồi bỏ, như các thứ ly tách, chén, tô, khăn ăn bằng giấy. Nhưng các thứ như nhà cửa, cầu cống, đường sá mà xây dựng cẩu thả, tạm bợ, thiếu phẩm chất, kiểu “mì ăn liền” thì tiếng xấu không bao giờ rửa sạch, làm cho món mì gói của tôi cũng phải chịu miệng tiếng với đời. Dù sao tôi cũng phải chịu ơn ông Momofuku Ando và cái công ty chuyên sản xuất mì Nissin của ông. Những ngày mới đến Mỹ, tôi nhớ đến ông lúc trời còn chập choạng chưa sáng đã phải dậy đi làm, những buổi trưa nghỉ trong cái góc của nhà máy giấy bề bộn, hay có những năm đi làm ca hai về khuya. Thật là mang ơn ông hết sức. Cảm khái, tôi nhại mấy câu ca dao sau đây: Giả ơn cái cối cái chày Ban đêm gà gáy có mày có tao. Giả ơn mì gói mươi bao Ban đêm gà gáy có tao có mày! |
|
#6
|
|||
|
|||
|
Hai Thế Hệ
Hồ Bích Chi Gia đình tôi đến Mỹ cách nay gần năm năm. Dạo đó bạn bè và thân nhân của bố mẹ tôi đến thăm khá đông. Ai cũng nghĩ đây là một gia đình đến muộn nhưng cuộc sống cũng tạm đủ và hạnh phúc lắm. Mới nhìn thì thật là trên thuận duới hòa gồm hai vợ chồng và bốn đứa con một trai, ba gái mạnh khỏe xinh đẹp. Nhưng nếu chung sống dưới một mái nhà thì mới hiểu được sự mâu thuẫn nội bộ gần như xảy ra hằng ngày. Đó là khoảng cách giữa bố mới sang theo diện HO và thằng em út tôi là Nghĩa, vượt biên lúc hãy còn nhỏ, khiến cho cái mái ấm gia đình đã nhiều lần muốn trở thành "mái lạnh". Mỗi lần nhắc đến Nghĩa thì mẹ tôi không ra mặt bênh vực nhưng bà nói một cách sách vở: cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Cái bê bối của Nghĩa bố tôi không thể đổ thừa cho mẹ tôi được: con hư tại mẹ. Ngày bố đi tù, mẹ sợ Nghĩa lớn lên phải đi nghĩa vụ quân sự, lý lịch xấu không vào được Đại Học nên mẹ bất chấp nguy hiểm tìm đường cho Nghĩa vượt biên và Nghĩa đi thoát. Lúc Nghĩa đến đảo thì bố tôi ở trong tù và Nghĩa là vị thành niên cho nên chỉ mấy tháng sau Nghĩa được phái đoàn Mỹ nhận. Nghĩa được dì Năm, em ruột của mẹ lãnh và ở nhà dì thuộc thành phố Long Beach cho đến ngày gia đình chúng tôi sang. Nghĩa ra đi trong tuổi vị thành niên, rất cần sự giáo dục của gia đình nhất là của mẹ. Ngày chúng tôi đến phi trường LAX thì dì Năm và Nghĩa ra đón. Thấy con cao lớn đẹp trai, mẹ tôi mừng quá, ôm con vào lòng, nước mắt ràn rụa. Mấy chị em chúng tôi cũng rất vui khi thấy thằng út của mình lớn như thổi. Nghĩa tươi cười quay qua chào: Hi Bố, Hi Mẹ, Hi các chị! Ai cũng cười nói vui vẻ, chỉ có bố tôi là nghiêm nghị. Tình cảm của ông không hề để lộ ra ngoài. Ấn tượng ban đầu là quan trọng. Ông nhìn thằng út với ánh mắt xa lạ. Có lẽ Nghĩa không phải là đứa con hình thành trong trí tưởng tượng của ông. Ông nghĩ nếu không lý tưởng được như "Tuấn, chàng trai nước Việt" thì ít nhất Nghĩa cũng phải trình diện trước mặt ông bằng một bộ áo quần gần như đồng phục chứ đâu như một đứa Mỹ lai ngoại trừ da vàng, tóc đen. Nghĩa thắng bộ bằng một chiếc quần jeans ống rộng thùng thình, lai quần tua ra phủ dài xuống như đang quét đường, lại thêm mấy cái túi lớn chạy dọc theo ống quần thật là dư thừa. Nghĩa mặc một áo sơ mi ca rô không cài nút, bên trong là một áo thun đen có hình vẽ quái dị của một mode đang thịnh hành ở Mỹ chứ không phải là loại thun ngừa cảm lạnh hiệu Thành Công mà bố tôi đang mặc. Nghĩa mở chiếc nón đội ngược ra để chào bố, tóc nó dựng lên bằng một loại keo bóng. Một tay Nghĩa đang cầm ly Coke có ống hút, tay kia đang cầm một máy CD loại bỏ túi có cái headphone đang gắn vào tai. Nghĩa là điển hình của một mẫu thanh niên thời đại mới ở Mỹ. Bố tôi nhìn Nghĩa thất vọng, lắc đầu thở dài. Dì Năm lái xe đưa cả gia đình về nhà. Trên đường đi, dì luôn luôn ca ngợi việc học hành của Nghĩa. Mẹ và mấy chị em tôi rất mừng, duy chỉ có bố tôi là không tin vào lời nói của dì. Tạm trú tại nhà dì gần một tháng, dì mướn giúp cho gia đình tôi một căn chung cư ba phòng. Chúng tôi cảm thấy thoải mái vì rộng và tự do. Vừa dọn đến là mẹ tôi đã xí cho thằng con trai cưng một phòng, bố mẹ ở phòng lớn, ba chị em tôi chui vào một phòng. Mỗi người tự dọn dẹp và trang trí chỗ ở của mình. Nghĩa lại được mẹ giúp cho một tay. Chung sống chưa được một tuần thì sự mâu thuẫn giữa bố tôi và Nghĩa xảy ra. Mẹ tôi nói bố là một "ông đồ Nho" vì ngày trước bố học ban D, cổ ngữ Hán văn. Bố rất bảo thủ và trong lúc nói chuyện hay dùng từ Hán Việt khó hiểu. Còn Nghĩa thì hay nói tiếng Anh thêm vào những tiếng đệm như Oh man, OK, sorry, All right. Excuse me ở đầu câu bố nghe rất chói tai. Thấy không khí gia đình mỗi ngày một căng thẳng, mẹ tôi nói với bố: "Cái gì cũng từ từ. Ông cũng biết dục tốc bất đạt. Ông mà nóng quá thì giáo đa thành oán." Bố tôi có đôi chút dịu lại. Bố tôi là con người rất ngăn nắp trật tự. Có thể nói ông là số một. Cái bê bối cẩu thả thì Nghĩa là hạng nhất. Tôi thỉnh thoảng vào phòng bố mẹ, lúc nào cũng thấy cái ra được căng rất thẳng, hai cái gối để ngay ngắn trên chiếc mền như ở khách sạn. Trong tủ, ông xếp quần áo theo loại, cái tối cho vào bao nylon như ở tiệm dry clean hay những quảng cáo gửi về nhà của các tiệm funiture. Cái cassette, VCR, TV đến giờ nầy vẫn còn được bọc lại bằng những tấm vải hoa cho khỏi bụi như ngày còn ở Việt Nam. Chị em tôi gọi đùa là máy được đắp mền. Trong nhà tắm, nhà bếp chỗ nào bố tôi cũng để những chiếc khăn để lau tay, chùi nước. Nhà bếp là giang sơn của mẹ nhưng bố tôi cũng "có ý kiến". Bố tôi trải những miếng giấy nhôm chung quanh bếp cho dầu chiên khỏi bắn lên. Tay cầm tủ lạnh cũng được bọc lại. Không phải bố tôi "đổi mới tư duy" giúp phụ nữ một tay trong công việc nhà nhưng vì ông thiếu tin tưởng ở người khác. Ông cũng khá rảnh. Hiện nay ông trên 65 tuổi, được hưởng tiền già. Hằng ngày ông chỉ bận rộn có mấy giờ để tập thể dục dưỡng sinh, học ESL để chuẩn bị thi quốc tịch, đọc báo, nói chuyện điện thoại với cựu tù nhân để nghe ngóng tình hình đấu tranh chống Cộng, đóng góp chút tiền vào quỹ xây dựng tượng dài, ký kiến nghị để gây khí thế... Từ phòng bố mẹ sang phòng Nghĩa là hai thế giới cách biệt. Nghĩa tự hào về thế giới bừa bãi và sống động của mình. Chỗ nào cũng có sách vở và quần áo. Máy móc như TV, VCR, DVD không khi nào nằm yên một chỗ. Cái gối không bao, cái mền không gấp... Chung quanh tường là những bức tranh, mặt nạ có hình thù nhe răng, trợn mắt như đang hăm dọa. Sau giờ ăn tối là những cú phone liên tiếp gọi, bằng những giọng Anh ngữ đàm thoại rất chuẩn, xen vào tiếng lóng mà chị em tôi có cố gắng nghe cũng không hiểu. Tôi nghĩ không biết thằng em mình học bài lúc nào nữa. Mẹ tôi chỉ có một thằng con trai nên bà cưng nó lắm, lúc nào cũng đứng về phe nó. Thỉnh thoảng bà còn vào phòng dọn dẹp cho nó. Nhưng chừng ít hôm sau, sự bừa bãi lại trở về. Tôi nghe bố mẹ lời qua tiếng lại với nhau: "Ông rầy nó vừa vừa thôi. Tôi chỉ có một thằng con trai. Nó mà bỏ nhà ra đi, tôi đi theo nó. Ít nữa mấy đứa con gái lấy chồng, ông đem ai về thì đem. Ông kỳ quá! Miễn sao nó chịu học thì thôi, bề ngoài đâu có nhằm nhò gì." "Bà lúc nào cũng binh. Con hư tại mẹ. Tôi không chịu được. Nó muốn đi đâu thì đi. Tác phong như vậy thì học được bao nhiêu!" "Ông cổ hủ quá! Ở đây hai-xì-cum nó mặc như vậy không à. Tôi nghe nói ông Clinton kêu gọi đồng phục, có mấy đứa nghe theo?" Thấy mẹ tôi lý sự quá nên bố tôi im lặng. Thỉnh thoảng mấy chị em có góp ý xây dựng thằng em trai nhưng nào nó có nghe mà còn lý luận: "Oh man! Ai biểu mấy you làm. Please leave me alone (xin để cho em yên). Mấy you mà xếp mền gối, tối về "mi" cũng mở ra. Máy bám bụi đến nỗi hư thì nó cũng out of style rồi (lỗi thời). Trong cái disorder (mất trật tự) của "mi", có cái order (trật tự). Các you clean, "mi" kiếm không được mất thì giờ lắm. Muốn save time (tiết kiệm thì giờ) cho "mi" học thì "mi" request (yêu cầu) để cho "mi"yên. "Nghĩa ơi, tuần nầy shopping mall sale nhiều, chở mấy chị đi nhé! Nhớ rửa xe cho sạch để mấy chị ngồi. Em thấy đó, xe bố đời 87 mà như xe mới. Xe em đời 97 mà cũ hơn xe bố nữa. Em nên bắt chước bố chùi xe cẩn thận." Nó cười: "OK! Take it easy (Được! Các chị hãy bình tĩnh). Xe là cái means of transportation (phương tiện di chuyển). Mình không nên làm slave (nô lệ) cho nó." Thấy không thuyết phục được thằng em bướng bỉnh, đêm đã khuya chị em tôi về phòng. Nằm trên giường, tôi suy nghĩ về khoảng cách giữa hai thế hệ. Một bên bố tôi thuộc thế hệ thứ nhất tồn cổ, bảo thủ luôn luôn cho mình là đúng. Nghĩa tuy sinh tại Việt Nam nhưng lớn lên ở Mỹ thuộc thế hệ thứ hai, thế hệ của siêu khoa học kỹ thuật, hướng về giá trị tương lai. Chị em chúng tôi mong có ngày các phe nhóm ngồi lại với nhau trong những bữa cơm gia đình để nói với nhau những lời thông cảm trìu mến ở cái xứ thừa thãi vật chất mà tình cảm khan hiếm. Chúng tôi hy vọng ngày nào gia đình còn sống chung dưới một mái nhà thì đó là những ngày tràn đầy hạnh phúc yêu thương. |
| Có 1 thành viên cảm ơn may4phuong vì bài viết có giá trị: | ||
|
#7
|
|||
|
|||
|
Đời Lắm Đổi Thay
Phạm Ngọc Bích (vietbao) Một buổi chiều rảnh rỗi, tôi ôm con ngồi cạnh cửa sổ nhìn ra khu vườn phía sau nhà có những cây thốt nốt ở miền Nam California nắng ấm. Tôi chạnh nhớ ngày xửa ngày xưa, tôi chỉ là một đứa bé tí hon nằm trong lòng mẹ trên một chiếc võng đu đưa giữa hai hàng dừa thơm ngát. Mẹ tôi ru tôi ngủ bằng điệu ru ngọt ngào mà sau này tôi biết đó là những bài hát dân ca. Lời ru của mẹ, những làn gió mát rượi và mùi thơm của mít, chôm chôm, sầu riêng ở trong vườn đã đưa tôi vào giấc ngủ thật say. Ôi những chuỗi ngày êm đềøm, bình dị của tuổi ngây thơ sao mà đẹp. Nhưng ở đời đã sinh ra thì phải trưởng thành, ai cũng phải theo định luật ấy. Từ một bé con ngây thơ, tôi trở thành một thiếu nữ mảnh mai trong bộ áo dài trắng nữ sinh của trường Lê Văn Duyệt ngày ngày tung tăng cắp sách tới trường. Lúc đi học tôi rất tự hào về dân tôc Việt Nam kiên cường bất khuất khi hát bài "Tiếng Gọi Thanh Niên" mỗi buổi chào lá quốc kỳ nền vàng 3 sọc đỏ. Tôi mong mãi mãi được ở tuổi niên thiếu thần tiên, để tha hồ vui đùa bên cạnh thầy, bạn. Nhưng rồi đột nhiên Cộng Sản miền Bắc chiến thắng, chiếm trọn miền Nam làm đảo lộn hoàn toàn trật tự xã hội. Tôi thi đậu vào nghành Điện tử trường Bách Khoa nhưng tôi bị liệt vô danh sách sinh viên thuộc thành phần tư sản buộc phải chuyển sang ngành Thủy lợi. Tôi đành phải chấp nhận vì không có cách nào khác hơn. Ngay những ngày đầu tôi đã sớm nhận ra một điều gì đó không ổn trong nền giáo dục của chế độ Cộng Sản. Thay vì mở mang trí tuệ, họ gieo căm thù trong lòng sinh viên học sinh, sinh viên chúng tôi nam lẫn nữ buộc phải học cách bắn súng, ném lựu đạn, bắn tên và bị nhồi nhét chính trị mỗi ngày. Thỉnh thoảng chúng tôi còn phải đi làm lao động, đào kinh đắp đập ở nông thôn. Ở đây, tôi không khỏi đau lòng khi nhìn thấy các trẻ em phải đi chăn trâu, làm việc đồng ruộng, đan lưới thay vì các em phải đến trường học. Chế độ Cộng Sản đã làm vẩn đục nền giáo dục và hủy hoại tuổi trẻ. Tôi tự hỏi tương lai đất nước Việt sẽ đi về đâu? Chán ghét chế độ Cộng sản và nhận thấy không thể sống dưới chế độ này, hàng triệu người Việt đã phải liều lĩnh bỏ nước ra đi tìm tự do. Tôi cũng ở trong số đó. Từ khước mái trường Đại học, tôi tìm cách vượt biên và chấp nhận mọi rủi ro trên đường tìm tự do như những thuyền nhân khác. Tôi vượt biên nhiều lần bằng đường tàu ở miền Đông, miền Tây hoặc đường bộ qua ngã Cambodia đều thất bại. Tôi đã 2 lần bị vào tù ở Vũng Tàu và Bà Rịa. Lần vượt ngục trong tù ở Bà Rịa là một kỷ niệm khó phai nhòa trong trí tôi. Sau nhiều lần thất bại tôi biết mình không có số vượt biên tôi đành quay lại tiếp tục đi học, chờ cơ hội khác. Mấy năm sau, gia đình tôi được các anh tôi bảo lãnh đến nước Mỹ. Tôi vô cùng sung sướng khi thực sự đặt chân lên miền đất tự do, nơi mà có biết bao nhiêu người Việt muốn đến mà không bao giờ đến được. Chúng tôi bắt đầu cuộc đời mới từ con số zêro. Tôi cùng các chị em tôi đã làm đủ công việc như hái dâu; cắt chỉ, bấm nút tại xưởng may đồng phục hải quân; làm house keeping ở các khách sạn; làm waitress tại các nhà hàng hoặc catering service; lắp ráp dây chuyền trong xưởng sản xuất đồ nhựa. Để sớm hòa nhập vào xã hội mới tôi bắt đầu thi lấy bằng tập lái xe rồi thi lấy bằng lái xe . Sau khi thích nghi với đời sống mới, tôi nghĩ muốn có tương lai cần phải trau dồi tiếng Anh. Tôi đã ghi tên học ESL tại CCP (Community College of Philadelphia). Tại đây, tôi vừa đi học vừa đi làm. Tôi làm cả weekend và làm overtime. Tuy vất vả nhưng tôi biết một tương lai tốt đẹp đang chờ tôi. Sau những khó khăn về Anh ngữ mà tôi đã phải phấn đấu rất nhiều, tôi tốt nghiệp highest honor tại College và chọn học trường Đại học Drexel, một trong những trường tư danh tiếng về đào tạo kỹ sư ở Mỹ. Trong ngành vi tính (computer), trong lớp chỉ có tôi là nữ, tôi phải cạnh tranh với các nam sinh viên người Mỹ, phải tự mình tìm tòi học hỏi. Tuy nhiên, tôi vốn có căn bản về Toán Lý Hóa, nên không gặp khó khăn trong các môn khoa học ngoại trừ về tiếng Anh. Tôi nhớ có một lần tại thư viện trường, tôi giúp cho một thanh niên Mỹ bự con như cầu thủ bóng đá giải một bài toán khó. Tôi hăng say giúp anh ta mà quên rằng mình cũng chỉ là một sinh viên, tôi cố tìm những ví dụ để anh ta từng bước hiểu được bài toán. Những sinh viên khác thấy vậy xúm lại gần chúng tôi. Khoảng hai mươi phút sau đó, chàng thanh niên hiểu thấu, anh la to mừng rở, nắm chặt tay nện mạnh xuống bàn "How stupid I am!". Các sinh viên khác nhìn tôi thán phục, khi thấy một cô gái Việt nhỏ bé đã "control" một anh chàng Mỹ to bự. Về sau, tôi càng ngày càng có nhiều bạn học. Sau những ngày căng thẳng đầu óc vì bài vở ở trường, tôi tốt nghiệp ngành điện tử với điểm high honor. Sau đó tôi được nhận vào làm việc tại hãng IBM ở tiểu bang Vermont. Khi còn đi học, tôi gặp một người Mỹ, tánh tình hiền lành. Anh rất yêu tôi nên cố vượt qua những khác biệt của hai cách sống. Anh kiên trì và nhẫn nại học tiếng Việt, tập ăn thức ăn Việt và tìm hiểu phong tục tập quán dân tộc Việt. Anh hứa sẵn sàng chờ đợi cho tới khi tôi học xong. Sau khi tôi tốt nghiệp, chúng tôi làm đám cưới. Đám cưới của chúng tôi là sự phối hợp giữa Đông và Tây, vừa mang truyền thống Việt "áo dài khăn đống", vừa theo kiểu phương Tây "Western gown và tuxedo". Hai tuần sau đó, tôi bắt đầu làm việc cho hãng IBM. Vợ chồng tôi bắt đầu một cuộc sống mới tại tiểu bang giá lạnh ở miền Đông Bắc nước Mỹ. Lúc mới vào làm việc cho hãng IBM, tôi còn nhiều bỡ ngỡ trong công việc, tôi phải cố gắng tự học thêm và thực hành vào cuối tuần để có thêm hiểu biết và kinh nghiệm. Những nỗ lực của tôi cộng với sự hỗ trợ về mặt tinh thần của chồng tôi đã giúp tôi nhanh chóng thích nghi với công việc. Với bản chất thật thà, siêng năng và có nhiều sáng kiến, tôi được nhiều đồng nghiệp thương mến và ban giám đốc tín nhiệm. Tôi rất thích hãng IBM, tôi nghĩ tôi sẽ làm việc ở hãng này cho đến ngày về hưu. Chồng tôi cũng được nhận vào dạy tại trường UVM (University of Vermont). Chúng tôi tạm ổn định cuộc sống. Con trai tôi chào đời vào một buổi sáng có tuyết rơi. Chúng tôi nghĩ Vermont sẽ là nơi gia đình chúng tôi sinh sống lâu dài. Nhưng ở đời thừơng có những bất ngờ. Nền kinh tế Mỹ đột nhiên lâm vào tình trạng suy thoái, nhiều hãng bắt buộc phải giảm bớt nhân viên, trong số đó có cả hãng IBM, nơi tôi đang làm việc. Tôi thật sự không ngờ tôi có tên trong danh sách cho nghỉ việc. Tuy nhiên tin này chỉ làm tôi bàng hoàng một tý rồi bình tĩnh lại ngay vì tôi luôn luôn lạc quan và tin tưởng vào cuộc sống tương lai. Tôi dọn dẹp sổ sách, ghi lại những hướng dẫn về công việc làm và bàn giao công tác. Khi rời khỏi hãng, tôi tự hào trong thời gian làm việc cho hãng tôi đã hoàn tất trách nhiệm một cách tốt đẹp, thỏa mãn yêu cầu của khách hàng và biết cách làm ra tiền cũng như tiết kiệm tiền cho hãng. Lúc chia tay, các đồng nghiệp bắt tay, ôm chầm lấy tôi nói lời từ giã và cầu chúc tôi tìm được việc làm mới. Họ ghi địa chỉ email và số điện thoại cho tôi để khỏi mất liên lạc. Sau khi tôi mất việc tại hãng IBM, vợ chồng tôi có ý định sẽ chuyển đi nơi khác. Chúng tôi đã nghĩ đến một vài nơi nhưng cuối cùng thì quyết định sẽ chọn miền Nam California làm nơi lập nghiệp. Chúng tôi giã từ Vermont nơi có một cộng đồng người Việt tuy nhỏ bé nhưng đoàn kết và thương yêu nhau như một đại gia đình. Khi quyết định chuyển về California, chồng tôi cũng phải bỏ công việc dạy học của anh tại trường UVM. Nhiều bạn bè tỏ ý lo ngại cho chúng tôi. Chính chúng tôi cũng biết đang đứng trước những thử thách vì cả hai đều chưa có việc làm mà nhà cửa ở California lại đắt. Tuy nhiên chúng tôi sẽ được đền bù bằng khí hậu ấm áp, thức ăn Việt ở đây nhiều lại rẻ, chúng tôi cũng sẽ được thưởng thức vô số món ăn đặc sản tại các tiệm ăn của người Việt và nhất là ở nơi đây chồng tôi và con trai tôi sẽ có cơ hội trau dồi tiếng Việt và dễ dàng hòa nhập vào phong tục và văn hóa Việt. Chúng tôi bắt đầu làm quen với xe cộ đông đúc, với những highway nhiều lane, với sự sầm uất của tiểu bang California và làm quen với cảnh náo nhiệt của khu Little Saigon nơi được mệnh danh là thủ đô của người Việt tỵ nạn. Nay chồng tôi đã có việc làm. Anh đuợc nhận vào dạy tại một trường đại học trong tiểu bang California. Chúng tôi có sự phân công mới: chỉ một mình anh đi làm còn tôi ở nhà trông coi việc gia đình . Tuy thâu nhập gia đình có ít đi nhưng chúng tôi lại được đền bù bằng những thứ khác không kém quan trọng. Tôi sẽ có nhiều thời gian hơn để lo cho chồng, cho con. Bây giờ tôi không còn phải bận rộn với việc sáng sáng đem con đi gửi rồi đi làm, tôi không còn phải nhức đầu với công việc của hãng. Tôi đã có công việc mới: công việc nội trợ thuần túy của người phụ nữ Việt Nam. Đó là công việc của một người vợ, một người mẹ, người quán xuyến công việc trong gia đình. Tôi sẽ noi gương mẹ tôi trong công việc bà đã làm suốt đời không mệt mỏi.Với công việc này tôi phải săn sóc chu đáo cho chồng, nuôi dạy con cái cho nên người vì "Con ngoan tại mẹ" và tạo ra một mái ấm hạnh phúc gia đình. Hoàn thành được công việc này không phải là không khó khăn nhưng tôi tin rằng tôi có thể làm được. |
|
#8
|
|||
|
|||
|
Về Lại Chốn Xưa
Phạm Hoài Linh (vietbao) Mấy tuần nay cảnh sát và bà con đang lo và rối loạn lên vì vụ bắn sẻ, Sniper, đang xảy ra tại mấy tiểu bang miền đông Hoa Kỳ. Ba má tôi thì ở NewYork, gia đình chị tôi thì ở Maryland, còn người bạn thì đang ở Delaware cho nên tôi cũng phập phồng theo. Lòng tôi cầu mong sao sớm bắt đươ.c hung thủ, để xem hung thủ đó là ai, muốn gì, tại sao lại có động cơ giết người vô tộị. Ngồi nhìn tivi tôi lại thả hồn mơ mộng, nhớ lại chỉ mới hơn hai tháng trước thôi khi tôi trởlại thăm ba má, chị em,và bạn bè mọi việc vẫn êm đềm và vui vẻ, đâu có gì đáng lo sợ như bây giờ, mới đây mà đã hơn hai tháng... Nhớ hôm book vé máy bay đi NY thăm ba má, tôi chọn ngày thứ ba, nhưng cô bán vé cho biết chỉ có chuyến bay đêm hôm đó, nếu không thích tôi có thể đi ngày thứ tư.Nhưng vì không muốn phí thời gian ởlại một ngày không có gì làm, phần vì nóng lòng muốn gặp ba má nên tôi quyết định đi tối thứ ba, chỉ một chuyến dừng ở Cleveland,OH chuyển tiếp đi NY. Cô bán vé nói cho tôi biết chuyến bay đêm gọi là REDEYE FLIGHT, tôi hỏi tại sao lại có tên như vậy thì cô trả lời không biết. Ngồi áp tai trên phone để chờ cô book cho tôi năm tấm vé cho cả gia đình gồm tôi, ông xả tôi mà tôi hay chọc là LEMONGRASS dịch từ tiếng Anh là xả, bà nội của tôi cùng hai đứa con. Tôi chợt bật cười khúc khích. Cô bán vé hỏi có gì vui thì tôi trả lời: -Chính vì cô không thể giải thích tại sao gọi là REDEYE flight, cho nên tôi tự mình phải tìm câu trả lờị. Nảy giờ ngồi chờ cô book vé, suy đi nghĩ lại chỉ có câu này là hợp lý nhất để giải thích tại sao gọi là chuyến bay "đỏ mắt". Theo tôi tại vì bay ban đêm, ai cũng phập phồng mà không ngủ dược, thức trắng đêm nên con mắt đỏ ké, cho nên mới có tên là" mắt đỏ" phải không cô? Cô bán vé bật cười theo sự giải thích của tôị. Sau hơn một giờ ngồi chờ book vé, tai tôi đau vì cứ áp phone vào tai, mặc dù tôi thay đổi liên tục, lưng tôi mỏi vì ngồi lâu, và tờ giấy trắng trước mặt giờ đây đầy những nét vẽ chằng chịt mà tôi buồn tay vẽ lên đó trong thời gian chờ đợi. Cối cùng tôi cũng lấy đủ vé cho tất cả năm ngươì, có điều tôi phải đi trong đêm thứ ba ở phi trường LAX. Buổi chiều trước khi đi, hai người bạn đưa gia đình chúng tôi xuống Bolsa ăn một bữa cho no trước khi lên máy bay. Tôi còn ráng nhét thêm vài món ăn vặt vô giỏ xách taỵ. Trên đường ra sân bay, chúng tôi ghé tiệm nem nướng NINH HÒA ở Rosemead để mua một ít nem chua làm quà cho má tôi, nơi đây làm nem rất ngon. Tới phi trường lúc 9:30 tối, còn những hai tiếng mới tới giờ bay, nhưng thấy đã tối cho nên chúng tôi quyết định vô trong check in sớm để cho hai người bạn về nghỉ . Cuối cùng cũng đến giờ lên máy bay, chúng tôi rồng rắn nối đuôi nhau đi tìm ghế ngồi. Sau khi chia chổ ra ngồi, con trai tôi ngồi với ba nó, còn lại mấy bà cháu tôi thì dãy ghế bên này. Con gái tôi vừa ngồi xuống nó liền seatbelt cho mình và con cáo nhồi bông mà lúc nào nó cũng ôm theo bên mình. Nếu không có gì trở ngại thì sáng mai tôi sẽ gặp lại ba má tôị. Hơn chín giờ vừa bay vừa chờ, cuối cùng chuyến bay chúng tôi đáp xuống phi trường Syracuse, N.Y. lúc 10:30 sáng đúng như dự định. Người mà chúng tôi gặp đầu tiên là má tôi. - Ba đâu mom? - Ba mầy đi tìm chổ đậu xe không được nên chạy vòng vòng chờ tụi bây ra. - Tụi con không có nhiều đồ, thôi ra ngoài để ba khỏi chờ lâu. Sau mấy năm mới trở ại nơi này, lần trứơc khi về thăm ba má tôi con trai tôi chưa đầy hai tuổi, lần này về tôi dắt thêm đứa nữa. Má tôi có phần già yếu hơn theo thời gian so với lần trước tôi gặp bà ở Louisiana cách đây hơn hai năm, ba tôi thì càng tội hơn, gầy vì bệnh và ít ăn. Qua đây đã mười mấy năm trời,nhưng da ông vẩn không trắng ra được chút nào, nhìn ông ốm yếu bệnh hoạn tôi muốn khóc vì thương. Nhờ ông bà ngoại đưa mấy bà cháu về trước, tôi và lemongrass đi lấy xe van tôi đã mướn trước đó vài ngày từ phi trường về nhà. Không nhớ đường tắt cho nên tôi cứ đường lớn mà đi. Trên đường về tôi ngắm nhìn hai bên vẫn vậy, không có gì thay đổi, có chăng thì mọi vật củ kỷ hơn. Tới nhà tôi vẫn chưa thấy ông bà ngoại đâu, chỉ có hai đứa em trai tôi ra đón. Đứa em kế vẫn vậy, cao lênh khênh và gầy như ba tôi, còn đứa em út thì chút nữa tôi không nhận ra nó, cao và to như chàng khổng lồ, đứng cạnh nó tôi thật là tủi thân khi thấy mình thật nhỏ bé so với nó. Má tôi xin nghỉ một tuần ở nhà chơi với con cháu, còn ba tôi không xin nghỉ được nên vẫn phải đi làm, phần vì bị bệnh cho nên ba tôi rất ít khi ra khỏi nhà, trừ phi phải đi làm. Ông không thể ngồi máy bay hay đi xe lâu được vì làm cho ông mệt và khó chịụ. Chỉ mới có vài năm thôi mà ba tôi xuống dốc thấy rỏ. Tôi lo lắm, tôi nói ba má bán nhà ở NY dọn về Cali sống với chúng tôi. Lấy lý do là ngày càng lớn tuổi sẽ khó tánh, không muốn làm phiền con cháu nên ông bà từ chối. Chỉ còn năm ngày thôi, tôi phác họa chương trình cho những ngày còn lại. Ngày mai chúng tôi sẽ đi Canada chơi, định đi Montreal thăm người bạn học củ hồi còn bên Viet Nam, nhưng sau đó tôi thay đổi ý định là sẽ đi Toronto để đi thăm thác Niagra falls bên phía Canada, và cũng để đi...ăn hàng luôn thể. Ba má tôi vui lắm khi con cháu về thăm, nhất là ba tôi cố gắng theo dụ dổ con gái tôi cho ông ngoại bồng. Nhìn ông đen đủi lại có bộ râu, một phần vì lạ cho nên con bé có vẻ sợ ông, ngồi không lâu thì nó chạy đi tìm tôi. Còn con trai tôi sau khi chào ông bà ngoại, nó chạy biến vô phòng đứa em kế tôi rồi ngồi lỳ trong đó, ghé mắt nhìn vào tôi chợt hiểu tại sao: trong phòng em tôi đầy những game mà con trai tôi có thể chơi hoài không chán. Đứa em trai kế tôi, nhà hay gọi nó là Quốc, tuyên bố một câu xanh rờn: - Thứ sáu Quốc gọi vô xin nghỉ ở nhà đi chơi với Linh. Má tôi la nó: - Mày nghỉ vậy coi chừng bị trừ điểm đó, thôi ráng làm thêm một ngày nữa rồi nghỉ. - Không sao đâu má, có gì thì con nghỉ luôn. Má tôi chỉ biết lắc đầu, thiệt là một đứa em chịu chơi. Trưa hôm sau chúng tôi mới chuẩn bị lên đường,bây giờ có thêm hai thành viên mới là bà ngoại và cậu út, tât' cả chất hết lên xe van và trực chỉ Canada. Khi tới biên giới thì nhân viên hải quan hỏi chúng tôi có mang nhiều tiền bạc hay súng ống, thấy không có gì khả nghi họ cho chúng tôi quạ. Đi vào địa phận Canada một hồi, tìm không ra đường ra thác cho nên chúng tôi hẹn lại lần khác. Lần trước tôi đến đây thì cũng gần mười năm rồi, nên cũng không nhớ đường xá cho lắm, thôi thì xuống Toronto đễ...ăn hàng vậỵ. Đến nơi trời bắt đầu tối, tôi vội vàng đi tìm chổ đổi tiền Canada để tiêu xài. Tất cả các tiệm vàng đều đóng cửa, may mắn còn một tiệm tạp hóa nằm tận dưới hầm còn mở, tôi hỏi đại xem có đổi tiền không thì họ nói có, thật là hú vía. Sau khi đổi tiền tôi cắm đầu băng ngang đường mà không sợ cảnh sát bắt gặp sẽ phạt vì không phải nơi đễ băng sang (tôi thấy nhiều người băng ngang như thế thì tôi bắt chước theo, nhập gia tuỳ tục mà lỵ). Má tôi thì đi vào tiệm bánh mì nổi tiếng để mua chả và bánh mì, còn tôi thì rảo bước quanh các sạp trái câỵ. - Wow! coi nè ông xả, nhiều ghê đi, trông thật hấp dẫn, đễ em mua mổi thứ mọt it. Sau một hồi lựa chọn, tôi có vài bịch trái cây thật hấp dẩn,má tôi vừa ra tới thấy vậy cũng phụ giúp tôi một taỵ. Nào là chôm chôm, nhãn, măng cụt, trái vải, táo tàu, táo thái lan, ổi.v.v trái nào cũng tươi rói mời gọi. Thấy tôi tay xách nách mang, lemongrass hỏi: - Em ăn có hết không? Không đem vô Mỷ được đâu nha. - Em biết rồi, em sẽ tranh thủ và ráng ăn cho hết trước khi đến biên giới. Đã mua hết những thứ cần mua, chúng tôi đi tìm nhà hàng ăn trước khi lên xe về lại NỴ. Thức ăn thiệt là dở, còn tệ hơn tôi nấu ở nhà mặc dù tôi ăn nhiều hơn là nấu, nhưng đựơc cái ngồi ăn ngoài trời ngắm nhìn thiên hạ đi tới đi lui cũng vui mắt, ởđây đa số là người Hoa. Trên đường về má tôi nói: - Anh Mão mày (vừa là bạn ba tôi, mà cũng vừa là bạn của tôi) lần trước chở má nó sang đây chơi, nghe nói đi lên tháp bút chơi, còn đi shopping đâu nữa vui lắm. - Mom biết đường đi không? - Không biết. - Vậy đễ mai mốt con nhờ ảnh chỉ đường, sẽ dẫn mom đi chơi. Tôi lấy trái cây ra cho mọi người cùng ăn, má tôi thích vải nên tôi nhường hết, sau khi ai củng có phần tôi không "mắc cỡ" gì nên tự mình từ từ thưởng thức.Vừa ăn tôi vừa mong sao mau đến nhà để gặp ba tôi, thương ông vì bệnh mà không thể đi đâu với con cháu, ngày mai lại phải bỏ ba ở nhà một mình vì chúng tôi đi Maryland thăm chị tôi. Trưa hôm sau chờ ba tôi đi làm rồi chúng tôi mới lên đường, chúng tôi có thể lên đường từ sáng sớm, nhưng tôi không chịu đi vì ba tôi làm ca nhì, tôi muốn ở nhà thăm ông cho đến khi ông đi làm thì chúng tôi đi vẫn chưa muộn, cứ để cho ông cháu gặp nhau vui vẻ được lúc nào thì hay lúc đó. Hôm nay ba tôi "hy sinh" bộ râu yêu quí vì con gái tôi, trong nhà ba tôi là người ít nói nhất, và rất hiền có lẽ được "di truyền" từ bà nội tôị. Ông rất thương con cháu nhưng không bao giờ nói ra miệng,và cũng chẳng la rầy ai bao giờ. Tôi thì giống ba má tôi đồng đều, tôi giống má ở tính nóng nảy và bộc trực không thích thì nói thẳng dù biết sẽ mất lòng. Còn giống ba tôi ở tánh thương thì không nói ra mặt, chỉ để trong lòng và bằng cử chỉ mà thôi. Sau khi ba tôi đi làm, gia đình "bác tám" chất lên xe van, em trai tôi giữ lời hứa, called sick ở nhà đi chơi với mọi ngườị. Lần này chia làm hai xe vì một xe không đủ, hai đứa em trai tôi đi xe riêng của nó cho thoải máị. Xe gì mà khủng khiếp, mổi lần đề máy tiếng bô nổ như tiếng đại bác ầm ầm. Nhớ lúc mới sang nó dắt tôi ra sau nhà khoe xe của nó, thấy xe số tay tôi hỏi ai dạy nó lái thì nó trả lời gọn lỏn: - Linh chứ còn ai, lâu lâu ba tập Quốc chạy freeway, giờ quen rồi. Tôi giật mình khi nghe nói tôi dạy nó, tôi lâu nay mới về thì làm sau mà dạy, nhưng chợt nhớ lại mấy năm trước lúc mới mua xe, tối nào nó cũng gọi cho tôi hỏi thăm cả buổi, tôi vừa nấu cơm vừa dạy em tôi tập lái xe số tay quạ..điện thoại. Có nhiều hôm đi làm về quá mệt mà còn bị nó lải nhải tôi tính la nó, nhưng thấy tội vì ba tôi ngay đó mà nó không dám nhờ tập, lại phải gọi cho chị để tập lái xẹ... long distance nên tôi đành tắt bếp ngồi nghỉ để dạy cho nó, nhớ lại thiệt buồn cườị - Lúc trước Quốc phải đem sang Canada họ làm cho nó nổ lớn vì bên đây không ai chịu làm, đến khi lấy xe Quốc giật mình vì tiếng nổ khủng khiếp của nó, phải lên internet mua đồ nhét vô cho kêu nhỏ lại. Quốc bỏ tiền vô xe này hơn mười mấy ngàn tiền phăng xe, đừng cho má biết má la. Tôi đã nghe má tôi kể nhiều về nó và chiếc xe rồi, y như ba tôi lúc nhỏ thích chơi xe. Tới giờ này nó vẫn chưa có bạn gái, ngoài chiếc xe là bạn. Chúng tôi rời Syracuse cũng trưa để đi Maryland thăm chị tôi. Đi lại đoạn đường mà mấy năm về trước lemongrass đã từng lái xe mổi tháng một lần từ NY đễ sang thăm tôi bất kể bão tuyết hay trời mưa, và vài lần đã may mắn thoát khỏi tai nạn làm cho tôi cảm động mà bấm bụng "dấn bước theo chàng". Trước khi đến Maryland, chúng tôi dừng chân tại Delaware thăm người bạn trên đường đi, đến khi gặp chị thì trời đã tốị. Sáng hôm sau chúng tôi dắt theo hai đứa cháu, con bà chị đi chơi. Chúng tôi ghé Eden ở Virginia trước để ăn uống, sau đó sang Washington D.C. để tham quan và chụp hình, chiều chạy ra bến tàu đến khu chợ nổi mua hải sản. Chợ đây là những chiếc tàu đậu san sát vào nhau làm thành nhiều sạp, tôi nhìn kỷ mới nhận ra khi sóng làm chiếc tàu nhấp nhô trên nước. Ngày hôm sau chúng tôi chia tay gia đình chị để về lại NY, tôi nhớ đến ba tôi đang ở nhà một mình. Mặc dù chỉ thiếu một mình ba thôi, nhưng niềm vui của tôi đã mất đi một nửa. Trên đường về chúng tôi ghé lại N.Y city để viếng thăm ground zero của WTC, ghé thăm tượng nữ thần tự do, và mua ít quà lưu niệm, nội tôi chưa đến đây bao giờ. Loanh quanh một hồi chúng tôi vô phố Tàu định ăn uống, khi vô đến nơi mới thiệt là khổ sở. Chiều chủ nhật vẩn xe cộ đông đúc, chật chội không có chổ đậu xe. Trong bải đậu vừa mắc lại không bảo đảm an ninh cho xe nên tôi lo, chúng tôi ngồi nhìn một người khách vừa lấy xe vừa chửi rủa vì xe ông ta bị mất đồ khi gửi. Cuối cùng lemongrass quyết định bỏ tôi xuống để tôi tự đi mua ít hộp cơm ăn đở vì không có chổ đậu xe và trời dần tối. Lần trước, năm 92 chúng tôi có ghé đây với ba má tôi, sau một hồi loanh quanh tìm chổ đậu xe như hôm nay, chúng tôi chui vô nhà hàng tàu ăn...phở. Ở đây giống như bên Việt Nam, bàn nào trống ghế cứ tự nhiên mà ngồi, không cần biết là quen hay lạ. Sau khi chúng tôi "an tọa" thì có mấy bà xẩm buớc vô nhìn dáo dác, một bà chợt lên tiếng: - Lông ơi là lông, hết chổ dzồi, li chổ khác li ( đông ơi là đông,hết chổ rồi đi chổ khác đi). Ba tôi khoái chí cười hích hích vì lạ tai. Chỉ còn một ngày nữa chúng tôi phải về lại Cali. Tôi tự hẹn lòng nếu không có gì thay đổi năm tới tôi sẽ về thăm ba má tôi thường hơn. Ngày trở về ba má và hai đứa em đưa chúng tôi ra phi trường. Trời hôm đó thật lạnh khác thường so với những ngày qua, phải mở máy sưởi mới có thể chịu nổi. Má tôi than: - Sau mà kỳ vậy, mấy hôm trước tụi nhỏ còn ở đây sao không mát giùm, hôm nay tụi nhỏ về thì lại trở lạnh. Nhìn ba má tôi bịn rịn tôi cố nuốt nước mắt, sợ không cầm lòng được nên tôi dục: - Ba má về đi để lạnh. Và quay sang hai đứa em: - Thôi hai đứa cũng về đi, khi nào muốn sang chơi thì nói chị book vé. Lần đi hăm hở bao nhiêu thì lần về buồn bã bấy nhiêu. Chỉ có con trai tôi là vui nhất vì đêm qua cậu nó thức suốt đêm đễ sang game cho nó mang về chơi. Nhớ lại câu con tôi hỏi cậu nó mà tôi buồn cười: - Sao cậu tốt với con quá vậy? - Vì con là cháu của cậu. Quay lưng đi, tôi bỏ lại sau lưng mình một thành phố buồn, một thành phố mà mùa đông thật đáng sợ, nhưng trong đó còn có ba, mom, và hai đứa em tôi. Tôi chợt nhớ lại một câu lâu lắm rồi không còn dùng tới sau khi rời bỏ thành phố yên tịnh và những người thân yêu của tôi: Syracuse, xứ lạnh tình nồng. |
|
#9
|
|||
|
|||
|
"You judge how civilized a society is not by its treatment of the wanted but of the unwanted"
Người bạn vong niên Trịnh Hội (nguoi-viet) Cũng có thể nói trong thời gian vừa qua tâm trí của tôi đã bị một số hình ảnh đàn bà chiếm ngự, quấy nhiễu không ít. Thật đúng là đôi khi tâm rất muốn lặng, nhưng trí chẳng muốn dừng. Những kỷ niệm của một thời xa xưa cũ cứ tự nó bay về không một lời báo trước. Từ lúc lọt lòng cho đến hiện tại, cuộc sống của tôi luôn được bao quanh bởi phụ nữ và không có liên quan nhiều đến đàn ông. Mẹ tôi cho ra đời tất cả bốn trai, ba gái nhưng chỉ có tôi là còn... sống sót cho đến bây giờ với ba chị em gái của tôi. Sau năm 1975, ba tôi bị bắt vào trại cải tạo và sau đó ông vượt biên sang Úc một mình nên từ nhỏ tôi đã chịu nhiều ảnh hưởng từ mẹ, các bà dì và chị em gái trong nhà. Có thể nói cái tính ‘mít ướt’ của tôi là trực tiếp do mẹ tôi gây ra! Nhưng tôi lại xa gia đình để tự lập khá sớm. Từ những lúc trước khi tôi học ra trường. Và nếu như mẹ là người tôi chịu ảnh hưởng nhiều nhất lúc mới lớn thì người đàn bà kế đến là người có ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với tôi lúc tôi đang trưởng thành. Năm ấy tôi chỉ vừa tròn 21 tuổi - cái tuổi của sự khám phá, đầy cảm xúc và... dễ thay lòng đổi dạ đối với bất kỳ vấn đề gì. Tôi lại gặp bà ở một nơi hoàn toàn xa lạ, bên cạnh một cảng tàu ở Hồng Kông nên thành thật mà nói, tôi không thể nào quên được 'cái thuở ban đầu lưu luyến ấy'. Mặc dù lúc ấy bà đã trên 60. Ðưa tay ra bắt để làm quen, bà tự giới thiệu một cách rất tự nhiên, gần gũi: 'Hi, I am Pam Baker. Welcome to Hong Kong'. Cho đến bây giờ tôi vẫn không thể nào quên được cái giọng khàn đục cố hữu của bà trong một buổi sáng lập đông se lạnh bên cạnh bờ cảng Victoria nơi những chuyến phà đầu tiên vừa cập bến. Ðấy là lần đầu tiên trong đời tôi có dịp đi ngoại quốc từ khi tôi sang Úc định cư. Nhờ vào một lá thư xin đi làm thiện nguyện tôi viết gửi đi trước đó vài tháng, tôi đã được giới thiệu cho sang Hồng Kông trong 3 tháng Hè để giúp Pam trong công việc giúp đỡ các thuyền nhân Việt Nam lúc ấy đang bị giam giữ trong các trại cấm khắc nghiệt như những nhà tù không hơn không kém. Tôi vẫn còn nhớ buổi sáng đầu tiên tôi được Pam dắt vào trại cấm Whitehead ở Shatin lúc ấy đang giam nhét gần 20 ngàn thuyền nhân trong một khu trại cấm không to hơn nửa cây số vuông là bao. Nhìn hàng hàng lớp lớp người Việt từ đàn bà con nít cho đến đàn ông con trai bị bắt phải ngồi chồm hổm cả một buổi sáng trong khu sân tập thể để các giám thị người Hồng Kông đi khám xét từng khu nhà ở, tôi chợt thấy lòng mình chùn xuống như chưa bao giờ. Thân phận con người Việt Nam là thế đấy. Phải bỏ nước ra đi, có thể bỏ thây trên biển cả, và chờ đợi đằng đẵng tháng này qua năm khác trong các trại tỵ nạn chỉ để mong tìm được một tương lai tươi sáng hơn cho bản thân mình, cho gia đình, con cái. Có thể nó là một cái giá quá đắt hay không? Và nếu như ba mẹ tôi không có sự lựa chọn này thì đời tôi sẽ ra sao? Thật khó để có một câu trả lời thiết thực nhưng chắc chắn một điều là nếu như ba mẹ tôi chỉ chậm chân đôi ba năm thì tôi cũng sẽ là một trong những người Việt tỵ nạn ngồi chồm hổm trong khu sân tập thể của buổi sáng hôm ấy. Khi nghe tôi đưa ra những nhận xét này trên đường về lại văn phòng thì rất tình cờ Pam đã dạy cho tôi một bài học mà tôi nhớ mãi đến bây giờ bằng cách phán cho một câu rất rất ngắn gọn: don't be too cosmic Hoi. We are here to help, not to judge. Ðừng quá viển vông Hội à. Mình đến đây là để giúp họ chứ không phải để phán xét. Ðúng là như thế thật. Với cái tuổi học chưa xong, làm chưa được lúc ấy của tôi thì tôi rất cần những bài học thẳng thắn, thành thật như thế. Việc phán xét thiên hạ xem ra quá dễ, không cần nhiều thời gian suy tính. Nhưng có đủ kiên nhẫn để làm được việc, đủ sự hiểu biết và lòng trắc ẩn để có thể cảm nhận được nỗi khổ đau của người khác, đấy mới là điều quan trọng và cần thiết trong cuộc sống. Trong những lần hè sau đó mặc dù năm nào tôi cũng trở lại Hồng Kông để làm việc với Pam nhưng tôi ít khi có dịp được Pam thật sự dạy bảo theo đúng nghĩa của nó. Bà không phải là loại người thích dạy đời. Ðối với bà, việc làm luôn quan trọng hơn lời nói. Không những đối với riêng tôi mà đối với tất cả những ai đã có dịp được làm việc chung với bà, những hành động tiên phong đi đôi với những lời chia xẻ thẳng thắn của Pam là những bài học có giá trị mang ảnh hưởng sâu đậm nhất. Thành thật mà nói, có những điều Pam chia sẻ, những cử chỉ, thói quen tôi nhận thấy ở Pam trong suốt mấy năm liền nhưng lúc ấy chẳng cảm nhận được gì nhiều cho mãi tận đến bây giờ. Có lẽ càng lớn tôi càng nghiệm ra được những điều hay, lẽ phải khác ở con người và ngay cả ở cá tính của Pam. Là một trong những sinh viên luật nữ đầu tiên tốt nghiệp từ trường đại học nổi tiếng St Andrews ở Scotland, Pam lập gia đình rất sớm và có 6 người con trong vòng 7 năm. Trong suốt trên 20 năm, bà đã ở nhà nuôi con cho đến năm 50 tuổi cũng là lúc bà và chồng bà quyết định chia tay. Không được nhận vào làm trong các tổ hợp luật sư ở Anh vì đã không còn trẻ, lại là phụ nữ không có kinh nghiệm đi làm trong suốt một thời gian dài, bà quyết định tự mình đơn phương sang Hồng Kông đi tìm một khúc rẽ mới trong cuộc sống. Ðầu tiên bà được nhận vào làm trong Văn Phòng Trợ Giúp Pháp Lý (Legal Aid Department) của chính phủ Hồng Kông thời bấy giờ và cũng qua việc làm này mà, theo như lời bà từng nói, nó đã mang đến cho bà niềm đam mê cuối cùng trong đời: tranh đấu cho quyền lợi các thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam. Vào những năm đầu của thập niên 90, có đến trên 100 ngàn người Việt bị giam cầm trong các trại cấm ở Hồng Kông. Và tổ hợp luật sư Pam Baker & Company là văn phòng luật sư duy nhất giúp đỡ các hồ sơ tỵ nạn hoàn toàn miễn phí. Ðây không phải là văn phòng luật sư đầu tiên tôi cộng tác. Nhưng nó lại là nơi tôi học được nhiều nhất, hiểu được nhiều nhất, và ghi nhận lại được nhiều kỷ niệm đẹp nhất của một thời mới lớn. Ngồi nơi đây nhưng tôi vẫn nhớ như in tướng đi nhún nhảy của Pam trên các con đường mòn vào trại cấm của năm nào. Tóc bạc cắt ngắn cao, da mặt nhăn nheo, người gầy như que củi nhưng dáng đi của Pam thì lại luôn nhún nhảy như trẻ con, không giống bà già một tí nào. Có thể nói lần đầu tôi gặp Pam thì tôi đã hơi bị sốc. Không từ tốn, chậm rãi như bà nội, bà ngoại của tôi, miệng lại luôn phì phèo điếu thuốc dunhill, giọng cười sang sảng. Có một cái gì đó rất thật, rất người nhưng cũng rất... khác những gì mà tôi đã có định kiến trước đó. Nếu như đa số người Việt thích ân cần, chào hỏi xã giao thì đối với Pam, đấy là một sự phiền hà không cần phải có. Những người Việt mang ơn bà đến gửi quà tặng hoặc cảm ơn thì bà hầu như không muốn tiếp. Và nếu như cùng lắm phải nhận quà thì bà chỉ nhận mỗi gói thuốc lá. Một hôm nhìn vào chồng tủ đựng đầy thuốc lá bà cười pha trò với đám nhóc chúng tôi: I think they are trying to kill me! (Tao nghĩ chắc là tụi nó muốn giết tao). Pam là thế đấy. Luôn vui vẻ, pha trò, và không 'quan trọng hóa' vấn đề. Khi được các báo, đài CNN phỏng vấn lý do tại sao bà lại chọn giúp thuyền nhân Việt Nam, bà thường trả lời cụt ngủn: because it's fun. Bởi vì làm rất vui. Thế thôi. Nhưng tôi nghĩ không chỉ có thế. Hơn một thập niên đã trôi qua nhưng tôi vẫn còn nhớ rất rõ một trong những câu châm ngôn nằm lòng của Pam: you judge how civilized a society is not by its treatment of the wanted but of the unwanted. Ðể biết được một xã hội thật sự có văn minh hay không, chúng ta không xét đến cách những người trọng dụng được đối xử, mà là đối với những người luôn bị ruồng bỏ. Trong một đêm trăng tròn Giáng sinh giá lạnh ở trại cấm Nei Kwu Chau, lấp lánh ánh sáng của sóng biển bàng bạc từ dưới chân đồi, tôi ngồi nghe một em bé tỵ nạn Việt Nam tự đàn hát cho nhóm anh chị em thiện nguyện từ bên ngoài vào chung vui và đã suy nghĩ rất nhiều về câu nói này. Kể từ khi nào người Việt chúng ta đã trở thành những kẻ unwanted? Và mình làm được gì cho xã hội mà mình đang sống trong hiện tại để nó ngày càng được văn minh hơn? Tuy chúng ta thường cho rằng cảnh cũ luôn gợi nhớ lại người xưa nhưng đối với tôi, những lâu đài tráng lệ của thủ đô Vienna, những khu phố cổ ngựa xe dập dìu lại chẳng ăn nhập gì với ý tưởng và dòng suy nghĩ miên man của tôi về Pam và những kỷ niệm đầy lưu luyến của một thập niên về trước. Chắc là tôi viển vông thật. Thân đang ở Ðông Âu nhưng hồn ở tận nơi đâu rất xa xăm. Ở Hồng Kông nơi tôi đã có dịp gần gũi một trong những người đàn bà mà tôi kính mến nhất. Ở Anh nơi cách đây đúng 7 năm tôi đã đến để khóc tiễn Pam đi về cõi vĩnh hằng. Và đúng 3 năm sau, cũng trong giây phút này theo đúng như lời di chúc Pam để lại, gia đình, con cháu và các bạn bè thân thiết của Pam đã tụ họp đông đủ ở Macau để gửi trả lại Pam về với biển cả. Một nhúm tro tàn cho một kiếp người đã vội xa. Ðôi phút chạnh lòng cho một người bạn vong niên với bao niềm thương nhớ. We are missing you still Pam. |
|
#10
|
|||
|
|||
|
Những tấm ảnh buồn, vui
Yến Tuyết (nguoi-viet) Có lẽ bạn cũng như tôi, từng hứa hẹn với chính mình là sẽ dành một ngày cuối tuần nào đó để soạn lại những tấm hình cũ, lựa ra và cất giữ trong albumn vì có quá nhiều. Tôi không thể ngờ cái công tác này lại chẳng hề giản dị như chúng ta tưởng. Không những nó mất rất nhiều thì giờ mà còn gây ra những xúc cảm bất ngờ, pha lẫn nụ cười và nước mắt. Ðiều này cũng dễ hiểu thôi phải không bạn, bởi vì những hình ảnh cũ thường mang kỷ niệm buồn, vui của cuộc đời. Cái thùng nhựa chứa đầy hình ảnh của gia đình được mở ra. Có những cái hình đen trắng đã rất cũ và phai màu của thập niên 30, 40, 50. Tôi thấy ba tôi mặc bộ đồ tây trắng đứng bên mẹ tôi mặc áo lụa, cổ mang chuỗi ngọc, tóc búi thả dài đằng sau cổ. Bức hình được chụp trong khu vườn nhà ông ngọai tôi ở Huế, nơi tôi đã được sinh ra và chỉ sống một thời gian rất ngắn của tuổi thơ ở đó trước khi theo cha mẹ dọn vào Saigon, mang theo một ký ức mơ hồ về nơi chôn nhau, cắt rốn ấy. Tôi chỉ có rất ít hình ảnh của tuổi mới lớn vì khi vượt biên chẳng đem theo được. Còn lúc mẹ tôi rời Việt Nam vào cuối thập niên 80 để đi Mỹ đoàn tụ, bà chỉ đem theo một vài cái hình tượng trưng cho từng người trong gia đình mà thôi. Thế nhưng, chỉ cần nhìn lại mấy cái hình ít ỏi và xưa cũ, mang dấu tích của thời học trò trung học ngây thơ, nghịch ngợm và mơ mộng là đủ thấy tâm hồn êm dịu hẳn đi, bạn ạ. Tự nhiên nhớ đến những ngày mưa, sân trường hoa phượng rơi ngập lối. Nhớ những trang vở học trò có ép hoa pensee, nhớ những đêm thức khuya học bài thi bị muỗi đốt tơi bời... Cái hình chụp với đám sói con khi làm Akêla - Sói Già trong Phong Trào Hướng Ðạo ở tuổi 18, 19, lúc mới bước chân vào đại học, khiến tôi hãnh diện nhận ra rằng, gần 40 năm qua rồi mà mình vẫn còn giữ được trong người cái tinh thần “sắp sẵn” để giúp người và làm việc thiện của một Hướng Ðạo Sinh. Tôi cảm thấy vui vui khi nhớ đến chuyện đã phải năn nỉ lẫn giành giật ghê lắm mới đoạt được từ cô em gái cái hình kỷ niệm chụp chung với nó trong ngày Tết năm 1982 ở trại tị nạn Bataan, Phi Luật Tân. Nó ghi dấu khoảng thời gian mà người thiếu phụ trẻ 30 tuổi là tôi, tuy vẫn còn lo âu về tương lai, nhưng đã tươi tỉnh và hoàn hồn trở lại sau 7 năm sống lây lất dưới chế độ Cộng sản và sau hai tuần lễ đói khát trên biển Ðông, những tưởng không bao giờ còn nhìn thấy đất liền và tự do! Dĩ nhiên lẫn trong những tấm hình cũ này, tôi tìm thấy nhiều hình của mấy đứa con khi chúng còn rất nhỏ. Tự nhiên, những xúc động vô cớ tràn ngập khi nhìn lại khuôn mặt vô tư và dễ thương của con. Nhờ Trời Phật, các đứa trẻ ấy nay đã trưởng thành và sống cuộc đời giản dị và lành mạnh của những thành viên trong một gia đình bình thường không giàu có. Vậy mà có lắm khi, tôi ân hận vì đã không thể cung cấp cho chúng một cuộc sống đầy đủ hơn, đã không dành nhiều thì giờ hơn cho con mình. Bức ảnh của người bạn đời gởi cho tôi trước khi đến Mỹ theo diện H.O là cái gạch nối giữa sự chia lìa và mất mát, là “câu chuyện có hậu” của hai người yêu sau những gian truân và thử thách của định mệnh. Tôi hôn lên tấm hình đẹp vô cùng của mẹ tôi với mái tóc bạc và nụ cười bao dung trong ngày sinh nhật cuối cùng của bà. Cảm thấy lòng ấm áp vì nhớ đến mẹ... Tôi nghĩ rằng mỗi người trong chúng ta đều sở hữu những tấm hình kỷ niệm, mang câu chuyện của đời mình. Xin hãy để thì giờ ra, ngắm nghía, xếp đặt lại và gìn giữ chúng. Bạn sẽ có được cái thời gian hiếm quí, không hề phí phạm tí nào, để ngồi ôn lại kỷ niệm của những thời đã qua, của quãng đời đã trôi đi với những buồn, vui của nó. Biết đâu lẫn trong các thứ tình cảm lẫn lộn đến từ những tấm hình cũ ấy, bạn sẽ có dịp nhìn lại cái con người rất thật của mình, với bao điều tốt và xấu. |
|
#11
|
|||
|
|||
|
"Ba muơi ngày trôi qua, rồi một trăm ngày, một ngàn ngày, rồi ba ngàn ngày, Ba vẫn ở xa nhà, mỏi mòn trong một xó xỉnh đen tối nào đó , bao quanh bởi núi rừng, bởi những cánh đồng trồng sắn khoai có những gốc được vun bón bằng chính thân xác của những người tù khổ sai không có án."
Viết Thay Cho Ba Mẹ Nguyễn Trần Diệu Hương (vietbao) Thời nhỏ dại, mỗi lần đi tắm biển hay tắm hồ bơi mà có Ba đi cùng, bao giờ Ba cũng bắt chúng tôi chià hai bàn tay ra để xem xét những đầu ngón tay. Nếu những đầu ngón tay của chúng tôi nhăn lại, đó là dấu hiệu ngâm nước một thời gian dài, có thể đã bị lạnh, chúng tôi phải rời khỏi mặt nước và về nhà. Một vài lần như vậy, không được bơi lội dưới nước lâu như ý muốn, chúng tôi khôn hơn, nếu không bơi, đứng yên một chỗ trong nước biển, nước sông, hay nước hồ, bao giờ chúng tôi cũng giơ hai tay lên khỏi mặt nước để tránh những đầu ngón tay bị nhăn. Kiểu tắm này được anh cả của chúng tôi gọi là "tắm đầu hàng". Khi kiểu "khôn lỏi" này đến tai Ba Mẹ, chúng tôi đã phải bỏ kiểu tắm giơ hai tay lên khỏi đầu. Còn nhớ Ba đã dạy chúng tôi: - Không bao giờ đầu hàng trước những khó khăn. Ba không muốn trong tự điển của các con có chữ "đầu hàng". Tháng 4 năm 1975, vì nhiều nguyên nhân, vì vận nước, vị Tổng Thống cuối cùng của miền Nam VN, chỉ ngồi ở ghế lãnh đạo cao nhất của đất nước vài ngày, kêu gọi QLVNCH "bỏ súng". Lệnh "bỏ súng bàn giao" với một người lính hinh như đồng nghiã với "đầu hàng". Chắc là không ai muốn vậy, nhưng quân đội là nơi kỷ luật được đặt cao nhất, nên những người lính năm xưa đã "bỏ súng" dù trong lòng đầy chua xót, uất ức. Vì nhiều hệ lụy, Ba cũng như cả ngàn đồng đội của mình bị lừa, từ một tháng đến cả một thập niên bị lao động khổ sai, sống dưới mức sống tối thiểu của con người., chừng như còn thê thảm hơn mức sống được mô tả bằng kinh nghiệm sống của chính tác giả trong "Tầng đầu địa ngục" của nhà văn người Nga đọat giải văn chương Nobel năm 1970 Alexander Solzhenitsyn . Trước ngày vào trình diện ở trường Don Bosco (tôi không biết chính xác trường này ở quận nào của Saigon và cũng không chắc mình viềt tên trường có đúng không vì lúc đó chúng tôi còn qúa nhỏ), Ba tập họp chúng tôi (đoàn quân cuối cùng Ba còn được chỉ huy) giao nhiệm vụ trong một tháng Ba vắng nhà. Lúc đó, chúng tôi còn nhỏ dại, đứa lớn nhất vẫn ở ngưỡng cửa Trung học, đứa nhỏ nhất vừa đọc thông viết thạo tiếng Việt nhưng chúng tôi có linh tính trước những đổi thay rất lớn, chăm chú nghe khẩu lệnh của Ba, Chúng tôi đứng hàng ngang ngay ngắn và nghiêm nghị, giống như hình ảnh trong một câu thơ của Trần Tế Xương "Bốn con làm lính, Bố làm quan" Ba dặn dò chúng tôi phải thương yêu nhau nhiều hơn, tuyệt đối vâng lời Mẹ, bà nội, ông bà ngoại, phải suy nghĩ kỹ càng trước khi làm điều gì. Ba muơi ngày trôi qua, rồi một trăm ngày, một ngàn ngày, rồi ba ngàn ngày, Ba vẫn ở xa nhà, mỏi mòn trong một xó xỉnh đen tối nào đó , bao quanh bởi núi rừng, bởi những cánh đồng trồng sắn khoai có những gốc được vun bón bằng chính thân xác của những người tù khổ sai không có án. Đến khi nhận được thư đầu tiên Ba gởi về từ một địa chỉ "hòm thư" có dấu bưu điện của miền Bắc XHCN thì dù còn thơ dại, chúng tôi cũng biết chắc chắn mình sẽ phải sống không có Ba trong một thời gian rất dài không phải tính bằng ngày, tuần hay tháng, mà tính bằng năm. Thư Ba gởi về theo đúng như khuôn mẫu "one of a kind", nội dung giống hệt nhau của các trại giam tù chính trị, chỉ khác nhau ngày tháng, và chỉ có tác dụng giúp Mẹ và chúng tôi nhận ra nét chữ của Ba vẫn còn cứng cỏi để biết Ba vẫn khỏe. Thư nào Ba cũng kín đáo nhắn nhủ Mẹ gởi chúng tôi ra ngoại quốc để chúng tôi có cơ hội được học hành thành người. Trong cơn bão lốc lớn nhất của đất nước và của gia đình, chúng tôi trưởng thành nhanh chóng, có một khuôn mặt trẻ thơ với cái đầu của một người đã trải qua nửa cuộc đời. Duy có mỗi cậu em út, chưa đến mười tuổi lúc đi thăm Ba ở trại Nam Hà miền Bắc, lần đầu tiên gặp lại Ba với cái đầu bạc trắng ở mấp mé tuổi 50, đã buộc miệng tương tự như đứa bé trong bài thơ về vợ chàng Trương trong điển tích ngày xưa của vua Lê Thánh Tôn: - Đâu phải Ba, người này già hơn Ba nhiều! Mẹ thương Ba nên tay xách nách mang, chịu nhiều gian khổ từ tinh thần đến vật chất mua đủ thứ dồ thăm nuôi bởi xách cho Ba mặc dù Ba chẳng bao giờ đòi hỏi vì Ba vốn sống giản dị, không hút thuốc, không uống rượu và luôn luôn "ăn để sống", chưa bao giờ "sống để ăn". Có lẽ nhờ vậy nên mãi đến bây giờ đã qua tuổi "thất thập cổ lai hy", với qúa khứ mười năm gian khổ trong lao tù cải tạo từ Nam ra Bắc, rồi từ Bắc vào Trung, Ba vẫn khỏe mạnh hơn hẳn so với những người cùng trang lứa. Chúng tôi không được may mắn ở gần Ba nhiều, không được nghe Ba dạy dỗ hàng ngày trong suốt thời niên thiếu, nhưng bằng lối sống mẫu mực của Ba, bằng sự hy sinh và chịu đựng của Ba Mẹ trong nhiều năm tháng chúng tôi biết con đường mình phải đi, để làm vui lòng Ba Mẹ. Đầu thập niên 90 lúc Ba Mẹ được phái đoàn Mỹ ở Saigon mời lên phỏng vấn theo diện HO thì chúng tôi đã học hành xong xuôi và ổn định cuộc sống ở quê hương thứ hai, nên Ba Mẹ chỉ qua Mỹ chơi, không nghĩ đến chuyện định cư hẳn. Qua cách tiếp đón Ba Mẹ của những người bạn cùng thời, từ hồi Ba Mẹ còn đi học hay lúc đã đi làm, chúng tôi hiểu thêm nhiều về Ba Mẹ, mặc dù Ba Mẹ không kể nhiều về những ngày còn trẻ của chính mình. Khi Ba Mẹ qua Mỹ thăm chúng tôi, thời gian Ba Mẹ ở chơi với mỗi chúng tôi không được lâu, vì bạn bè của Ba Mẹ ở khắp mọi nơi trên nước Mỹ đã bay về nhà chúng tôi thăm Ba Mẹ hay mua vé máy bay cho Ba qua thăm họ ở nhiều tiểu bang khác nhau. Ở một xứ sở rộng lớn và bận rộn như ở Mỹ mà tình bạn từ nhiều thập niên trước, có khi cả nửa thế kỷ trước vẫn được trân trọng thì hẳn là Ba Mẹ phải sống rất được lòng người khác. Tình cờ đâu đó ở Mỹ, trong những hồi ký của những người cùng thời với Ba, chúng tôi đọc được những giòng nhắc đến Ba, từ những ngày Ba làm việc bằng tất cả tinh thần trách nhiệm trong quân ngũ, đến những ngày bị đọa đày trong" lao tù cải tạo" từ Nam ra Bắc, rồi từ Bắc vô Trung, chúng tôi càng hiểu nhiều về sự hy sinh vô bờ bến của Ba và Mẹ. Ba được về thăm lại quê hương miền Bắc lần đầu kể từ chuyến di cư vào Nam năm 1954 không phải bằng máy bay, không phải bằng xe, mà là chuyến tàu Sông Hương (hình như đó là con tàu Việt Nam Thương Tín đưa cả trăm người từ Mỹ về lại VN rồi vào thẳng trong trại cải tạo sau này được đổi tên thành tàu Sông Hương và đưa các cựu Sĩ Quan QLVNCH ra Bắc đến những trại tù ở mạn ngược) đưa Ba cùng hàng ngàn Sĩ quan QLVNCH đặt chân trên cảng Hải Phòng của miền Bắc XHCN. Có lẽ chưa bao giờ, kể cả trong những giấc mơ, Ba và nhiều người Bắc di cư năm 1954 tưởng tượng được mình được "quy cố hương" tập thể trong cái còng tay số 8 với thân phận của những người tù. Còn bi thảm hơn nữa, khi đoàn tàu lửa chở súc vật chở những cựu Sĩ Quan QLVNCH rời cảng Hải Phòng để xuôi về miền rừng thiêng nước độc của mạn ngược, những trại tù ở Nam Hà, Sơn La, Vĩnh Phú...,. họ còn bị những trận mưa sỏi đá do đồng bào miền Bắc phải làm theo chỉ thị của chính quyền địa phương thời đó, ném vào qua cửa sổ những toa tàu, rất là tương phản với trận mưa bánh kẹo, tự phát từ tấm lòng của những người dân miền Nam, ào ạt đổ lên qua khung cửa sổ của những toa tầu chỉ mở hé (để khối người trên tầu khỏi bị ngợp thở) mỗi khi đoàn tàu lửa Thống Nhất chở họ xuôi Nam , ngừng lại ở những ga nhỏ từ Huế vào đến Long Khánh. Những đau xót vật chất lẫn tinh thần từ sỏi đá ở miền Bắc hay những an ủi ngọt bùi từ bánh kẹo ở miền Nam chưa bao giờ Ba kể lại với chúng tôi nhưng chúng tôi biết được qua những hồi ký của những cựu Sĩ Quan QLVNCH phải trải qua những ngày cuối đời ở đất khách quê người. Mãi về sau này chúng tôi mới biết được điều đó, và càng thương Ba vô bờ. Ấy vậy mà điều đó ám ảnh tôi đến nỗi, có lần đi xe lửa ở Mỹ, trên ghế ngồi của toa tàu sạch sẽ, thoáng mát tri tưởng tượng làm tôi nghe vang vang tiếng chát chúa của sỏi đá chạm vào thành toa của chuyến tàu Thống Nhất năm xưa đưa Ba và những cựu Sĩ quan cấp tá cảa QLVNCH vào một giai đoạn đen tối nhất của đời người. Là một người suốt đời chỉ làm lính, kỷ luật và tác phong quân đội ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống cá nhân của Ba và của cả chúng tôi, tất cả mọi thứ đều phải ngay hàng thẳng lối , ngăn nắp, tinh tươm, Nên mãi cho đến bây giờ ở Mỹ, nhiều người đến chơi nhà cửa chúng tôi, cứ nghĩ là chúng tôi chuẩn bị "open house" khi thấy mọi thứ đều sáng bóng, ngay hàng thẳng lối như một hàng quân. Chúng tôi học được điều đó từ tác phong quân đội của Ba. Suốt đời Ba chỉ làm lính, chưa làm một nghề nào khác, nên tác phong đó theo Ba suốt cuộc đời. Ngày đính hôn của Ba Mẹ từ cả nửa thế kỷ qua, đã sắp xếp trước nhưng giờ chót có thay đổi đột ngột, Ba không về được, nên ngày Bà Nội bưng trầu cau sang nhà Ông Bà Ngoại hỏi Mẹ cho Ba không có chú rể. Mười ngày sau, đơn vị của Ba hành quân ngang Huế, Ông Ngoại dẫn Mẹ ra Quốc lộ I ở Huế chờ đoàn xe Ba đi qua, xe ngừng, Ba Mẹ chỉ nói chuyện được mười phút với ...... sự hiện diện của Ông Ngoại và cả một đoàn lính ngồi nhìn xuống từ xe GMC , mặc dù lúc đó Ba Mẹ đều đã có đeo nhẫn đính hôn ở ngón tay áp út. Điều đó gây một ấn tượng mạnh mẽ trong lòng chúng tôi, đến nỗi ngay cả những tháng ngày sống một mình ở các trại tỵ nạn ở tuổi hai mươi, mỗi lần đi dạo bờ biển Pulau Bidong, Malaysia hay những con đường tráng nhựa dưới ánh trăng ở Bataan, Philippine với người bạn thân, tôi vẫn tưởng tượng có Ba đang đi bên cạnh để tự giữ "thân gái dậm trường". Hay sau này ở Mỹ, đứng trước biển Malibu lúc mặt trời lặn hay ngồi bên bờ hồ nhân tạo ở khuôn viên trường Đại hoc MIT rất thơ mộng một mình với anh bạn rất thân, chúng tôi vẫn chưa bao giờ vượt qua bức tường lễ giáo. Vì hình ảnh ông ngoại năm xưa dẫn mẹ ra Quốc lộ 1 ở Huế đón Ba sau khi Ba Mẹ đã đính hôn vẫn luôn rõ nét trong trí tưởng tượng của tôi. Và tôi vẫn nhớ lời Ba phải suy nghĩ kỹ càng trước khi hành động, vì không ai có thể quay ngược lại bánh xe thời gian để sửa chữa lỗi lầm của mình. Có lẽ Ba Mẹ, nhất là Ba không có cơ hội ở gần chúng tôi dạy dỗ chúng tôi nhiều điều như những ông bố bà mẹ may mắn khác, cho nên những điều Ba Mẹ dạy chúng tôi như một tảng bê tông cốt sắt bám dính vào trí tưởng của chúng tôi giữ chúng tôi đi trên đường ngay nẻo thẳng. Ngày Ba Mẹ qua thăm chúng tôi, Ba Mẹ có cơ hội đến thăm những người bạn xưa, chúng tôi tất bật với nợ áo cơm, với những lo toan ở một đất nước mà tốc độ sống nhanh tưởng chừng như bằng với tốc độ của ánh sáng, chúng tôi không được dịp theo chân Ba Mẹ trên những chuyến bay khắp nước Mỹ. Nhưng một lần nữa chúng tôi thấy và học được từ hình ảnh Ba với người bạn đồng ngũ thân nhất ở Pennsylvania lúc đó, vẫn sát cánh bên nhau dưới màu áo lam trong ngôi chùa do Bác đổ nhiều công sức tạo dựng , giống như một thời xa xưa, Ba với Bác vẫn làm việc cùng nhau rất trung thực trong màu áo ô liu của quân đội. Thật ra, bây giờ, trong những ngày cuối thu, dầu dông, của cuộc đời, Bác và Ba vẫn là một "team work" rất tâm đắc, như ngày nào. Thời xa xưa "team work" đó chỉ quanh quẩn trong một góc phòng của Bộ Tổng Tham mưu hay đôi khi ở khắp bốn vùng chiến thuật, những năm gần đây, "team work" trải dài từ Mỹ đến Việt Nam, trong công cuộc từ thiện, giúp những người tàn tật, khốn khó. Bác qua Mỹ từ 1975, làm Công chức suốt 30 năm, có lương hưu từ qũy an sinh xã hội của Mỹ, nên "giàu" hơn Ba nhiều. Nghiệp nặng hơn, Ba ỏ lại, cả đời không hại ai, không làm gì sai trái mà vẫn phải sống đời tù không có án cả thập niên, đến tuổi già chỉ còn trông cậy vào các con đúng như nghiã của câu thành ngữ Việt Nam "già cậy con". Cuộc đời rẽ ra hai hướng từ tháng 4 năm 1975, vậy mà tình bạn, tình đồng ngũ vẫn còn nguyên, không sứt mẻ. Hai người lính trẻ ngày xưa, hai Sỉ Quan QLVNCH trung niên thủa nào, đến tuổi hoàng hôn của cuộc đời vẫn còn đầy đủ tình "huynh đệ chi binh", vẫn sống giản dị, vẫn giữ kỷ luật với chính bản thân, và vẫn ngăn nắp sạch sẽ như dạo còn là một sinh viên sĩ quan ở quân trường. Không gặp nhau thường xuyên, nhưng Bác và Ba vẫn rất tâm đằc trong những việc làm từ thiện, Bác góp của nhiều hơn nhờ tiền hưu trí mỗi năm từ qũy an sinh xã hội của Mỹ. Ba không có được một ngân khoản nào ngoài sự tài trợ của các con, nên góp công nhiều hơn của. Nhưng cả hai người lính già cùng mãn nguyện, cùng vui; niềm vui đôi khi còn lớn hơn cả niềm vui của những người kém may mắn được nhận những khoản trợ cấp đột ngột , bất ngờ mà tên ân nhân luôn luôn được giữ kín. Gương sáng đó dạy cho thế hệ chúng tôi biết nghĩ đến người khác nhiều hơn nghĩ đến những nhu cầu xa hoa của chính mình, và biết "thi ân bất cầu báo" như những người bán hàng rong dọc theo các ga nhỏ năm nào đã đổ cả thúng hàng, cả một vốn liếng đáng kể đối với họ, để tặng những người "tù cải tạo", vẫn bị đói triền miên, đang chuyển trại từ miền Bắc về lại miền Nam (Sau này, có dịp về VN, chúng tôi vẫn chọn đi xe lửa, để mua hết những thúng mía ghim, bánh tráng, kẹo mè xửng... của những người bán rong dọc theo các ga nhỏ; chỉ mong được thay Ba trả lại phần nào những ân tình hiếm qúy năm xưa.) Lần đưa Ba Mẹ vào những tiệm sách nổi tiềng của Mỹ như Barnes... Noble hay Borders, Ba chỉ quanh quẩn ở quầy sách về chiến tranh Việt Nam, Ba có thể đọc hàng giờ không chán, chốc chốc lại nhìn qua khung cửa sổ bằng kính dày của tiệm sách. Quang cảnh dưới đường phố vẫn tấp nập, một đường phố bình an, tự do, giầu có của Mỹ , nhưng trong mắt Ba hình như là hình ảnh đất nước Việt Nam với bom đạn năm xưa bỗng dưng sống dậy từ những trang sách. Hình như Ba đang chìm về một quá khứ nào đó, có một thời tuổi trẻ của Ba Mẹ phải chịu nhiều thiệt thòi như công nghiệp của cả một thế hệ cùng thời. Cũng ở quầy sách đó, Ba đã may mắn được "tha hương ngộ cố tri", có dịp nói chuyện với ông Larry, một ông cụ người Mỹ đã có một thời làm cố vấn cho quân đội miền Nam, và có một thời học ở trường Bộ binh Fort Benning ở Georgia như Ba từ thập niên 60. Hai người lính già, hai mái tóc bồng bềnh ngày còn son trẻ một màu đen, một màu brunette, bây giờ cùng thưa thớt và bạc trắng phau như nhau. Cũng giông như vào đầu mùa đông, tuyết phủ trắng khắp mọi nơi, dù là đất loại nào, màu gì, cũng đều mang một màu trắng như nhau mỗi độ đông về. Những nếp nhăn trên khoé mắt của cả Ba lẫn ông Larry không phải còn là vết chân chim sẻ mà là vết chân của chim đại bàng. Mỗi một nếp nhăn phải chăng là một kinh nghiệm máu xương, là một tấc thảm đỏ cho thế hệ con cháu an nhiên tự tại bước lên? Hai ông cụ già hai màu da khác nhau, ở hai lục địa khác nhau mà vẫn tương đắc như tri kỷ khi nhắc đến quá khứ trong quân đội. Dòng đời đã lướt qua từ gần nửa thế kỷ, nhưng người lính năm xưa dù "gối đã mỏi, chân đã chồn", đã đi gần hết vòng tròn sinh tử, nhưng nhắc đến thời son trẻ, mắt họ vẫn sáng rực lên đầy tự hào về một thời đã làm hết bổn phận của mình, mặc dù đã không toại nguyện giống như một câu hát của Mỹ "I did my best but it is not good enough ...." Lần tới, Ba qua Mỹ chơi, tôi tự hứa sẽ cố gắng đưa Ba đến tiệm sách của trường Harvard, nơi có cả một phòng sách về chiến tranh Việt Nam, dưới mắt của nhiều tác giả, nhiều khuynh hướng khác nhau. Có lẽ đọc những trang sách đó, Ba và những người lính già như Bác, như ông Larry đỡ cảm thấy ray rức hơn. Những năm gần đây, mỗi lần có một người bạn của Ba về với hạc nội mây ngàn, theo yêu cầu của Ba, chúng tôi gởi vòng hoa phúng điếu đến tang quyến ở rải rác khắp nước Mỹ qua hệ thống gởi hoa trên internet. Mỗi lần gởi hoa như vậy. trong lòng vẫn có một chút xót xa khi nghĩ đến vòng tròn sinh tử nhiều người cùng thời với Ba Mẹ đã đi hết, thời gian chúng tôi còn được ở gần Ba Mẹ sẽ thu ngắn dần, ngắn dần. Vài năm sau nầy, Ba cũng viết hồi ký, không phải để phổ biến đến công chúng mà chỉ in ra vài quyển để phân phát cho chúng tôi "đoàn quân cuối cùng" trong đời binh nghiệp của Ba, một đoàn quân không bao giờ đầu hàng trước mọi nghịch cảnh như lời Ba dạy lúc còn thơ dại. Nhờ vậy mà chúng tôi biết được thêm nhiều điều, biết được thế hệ cha anh của mình đã chịu nhiều gian khổ để ngày hôm nay chúng tôi được thênh thang sống dưới bầu trời tự do. Mỗi dịp Father's Day hay Mother's Day chúng tôi vẫn lúng túng không biết phải làm gì để Ba Mẹ vui hơn trong hai ngày đặc biệt đó, vì Ba Mẹ không cần gì hết, không còn tha thiết nhiều đến vật chất. Mà những món quà tinh thần thì hơn ai hết, chúng tôi biết mình phải nỗ lực nhiều, nhiều hơn nữa vẫn chưa đền bù được tất cả sự hy sinh, nhọc nhằn của Ba Mẹ trong một khoảng thời gian dài hơn cả cuộc đời của chúng tôi. Dù chúng ta có giỏi đến đâu, dù chúng ta có thành công đến đâu, chắc chắn chúng ta vẫn nhỏ bé dưới công ơn của núi Thái Sơn, của nước từ nguồn. Và suốt đời chúng ta vẫn cần bóng mát của núi, vẫn cần mạch nước nguồn ngon ngọt đã chở che, vỗ về chúng ta cả một thời nhỏ dại. Không có công ơn cha mẹ, không một ai lớn nổi thành người..... |
|
#12
|
|||
|
|||
|
Chặng Đường Cuối
L.T. Quỳnh Hương (vietbao) Gia đình Hân có năm anh chị em. Từ lúc qua Mỹ, vì lý do học hành phải chuyển trường, người theo vợ, kẻ theo chồng, nên gia đình Hân ở tản mác khắp nơi. Cũng vì lý do riêng, cha mẹ Hân cũng mỗi người một nơi theo các con. Chị và em gái của Hân đi với mẹ lên phương Bắc, còn Hân và hai người anh thì ở lại với ba ở miền Nam. Mỗi năm vào dịp lễ lọc hay Tết nhất, thì mẹ lại cùng với hai người con gái xuôi Nam để đoàn tụ gia đình. Ba Hân được sở Xã Hội cấp cho một căn phòng trong chung cư của người già, gần trung tâm Saigon Nhỏ. Hai người anh của Hân đã có gia đình riêng và ở không xa đó lắm. Còn Hân thì vì công việc nên phải thuê nhà ở gần sở làm, cách ông cụ và hai anh khoảng 45 phút lái xe. Hân là con gái duy nhất ở gần và lại không bị bổn phận gia đình ràng buộc như hai người anh, nên ông cụ thường trông cậy vào Hân vào những ngày cuối tuần để đến chở ông đi chợ và đi loanh quanh các cửa tiệm, ăn uống và dạo phố, v.v. Cách đây vài năm, sau khi chở ông cụ đi chợ về, Hân đậu xe trước cổng chung cư để ông đi lên nhà một mình như mọi khi. Ông chậm chạp bước xuống và đột nhiên quay lại bảo Hân: - Con xách hộ Ba mấy bao nặng lên nhà đi, Ba dạo này yếu rồi! Hân chợt bàng hoàng và xúc động vì lần đầu tiên nghe ông nhận mình đã già vì từ trước đến nay, lúc nào ông cũng tỏ ra mình rất khỏe mạnh, thường hay đòi xách mấy bao đi chợ dùm cho Hân, hoặc từ chối sự giúp đỡ của những người khác khi cần phải khiêng những đồ vật nặng. Từ đó, Hân để ý mỗi lần đi phố với ông, thay vì đi song song với Hân như trước đây, ông bắt đầu đi chậm hơn và thường hay bị lùi lại phía sau lúc nào không biết, khiến Hân phải đi chậm lại để chờ ông. Nhiều lúc nói chuyện bằng điện thọai, ông hay hỏi lại nhiều lần vì nghe không được rõ nữa, hoặc là nói như hét lên vì ngỡ Hân cũng không nghe rõ như ông, khiến dạo này Hân cũng bắt đầu lây bệnh nói to trong điện thoại, vì đã quen phải lớn tiếng mỗi khi nói chuyện với ông. Một ngày nọ, ngồi trên xe với Hân, ông bắt đầu tâm sự là ông đang lo không biết sau này khi ông qua đời, sẽ phải chôn ở đâu. Rồi ông quyết định sẽ về Việt Nam sống khi tuổi gần đất xa trời, để lỡ có gì thì còn được chôn cất ở quê nhà. Sau đó chẳng bao lâu, không biết nghĩ thế nào, ông lại đổi ý: - Thôi, để ba mua đất ở nghĩa trang gần đây, dù gì các con cũng ở bên này hết. Nếu chôn ở Việt Nam thì các con sẽ không về thăm thường xuyên được và ba sẽ cô đơn, lạnh lẽo lắm. Đứa cháu gái của Hân, lúc ấy mới có 10 tuổi, nghe được ý nguyện của ông, vọt miệng nói: - Ông chôn ở Santa Ana đi ông, để ông còn đi lấy báo Việt Nam free về đọc nữa! Câu nói ngây thơ khiến cả nhà cười ầm lên! Sự ra đi về bên kia thế giới, đối với gia đình Hân lúc ấy như là một chuyện xa vời và tự nhiên phải đến, nên không ai cảm thấy lo lắng và buồn rầu cả. Thấm thoát, miếng đất mà ông cụ mua trả góp ở nghĩa trang gần đấy đã được trả hết nợ, ba Hân cảm thấy rất yên tâm và cuộc sống hằng ngày của ông cứ thế tiếp tục trôi qua êm ả. Mỗi sáng sớm, ông ăn mặc chỉnh tề, đi bộ ra đầu đường đón xe bus, đến nhà thờ cầu nguyện và sinh hoạt với các người già ở Trung Tâm Công Giáo Việt Nam. Xế trưa, ông lại đón xe ngược về phố Bolsa, xuống xe đi loanh quanh mua các tờ báo thường đọc, ghé vào đâu đó ăn tô mì hay bát phở, rồi về nhà nghỉ ngơi. Bước vào cửa, chưa kịp thay quần áo là đã đến mở radio đài Việt Nam lên, và cứ thế để oang oang suốt ngày cho đến lúc đi ngủ. Dường như cuộc sống một mình ấy đã khiến ông thèm khát có tiếng nói trong nhà chăng? Cơm chiều thì đã có thuê một người nấu ăn đem đến mỗi ngày rồi, nên ông không cần phải lo. * Tết năm nay là lần đầu tiên mà gia đình Hân quây quần ăn Tết đầy đủ dưới một nhà kể từ khi rời xa quê hương. Ngày mồng một, sau khi xem diễn hành ngoài phố, cả nhà kéo nhau đi ăn trưa ở nhà hàng, sau đó lại kéo về nhà anh của Hân ở gần đấy để hàn huyên tiếp, cùng thưởng thức các món bánh mứt đặc biệt chỉ có vào dịp Tết mà thôi. Mấy đứa cháu rủ nhau gây sòng chơi bài, người lớn thì tề tựu trước Tivi xem cuộn phim video mà anh Cả của Hân vừa mới quay được trong dịp về thăm quê ở Hải Nhuận, ngoài Bắc, trong mùa Noel vừa qua. Xem video, lần đầu tiên Hân được thấy ngôi nhà thờ lớn của làng quê bên Nội, mà Hân đã từng nghe kể là do ông Cố khởi dựng xây lên từ trước 1954. Thấp thoáng bóng dáng nhiều người đang đứng trên những giàn thang gỗ dựng chung quanh các bức tường cao ngất, để xây thêm cái gì đó thì Hân không hiểu, nhưng chỉ thấy là trong một làng quê hẻo lánh và nhỏ bé như vậy, tại sao lại có thể có một ngôi nhà thờ to lớn, vĩ đại như nhà thờ Đức Bà ở Saigon, hay Notre Dame ở Paris như thế được nhỉ? Phải gọi đó là một thánh đường thì mới đúng! Thật là đáng phục thay cho tinh thần sùng đạo của những người trong ngôi làng nhỏ bé này. Từ đời này sang đời khác, cứ mãi trùng tu ngôi thánh đường ấy với những bàn tay nhỏ bé của các giáo dân và với số tiền nho nhỏ thu góp được trong các buổi lễ, hoặc của các bà con ở xa quyên góp gửi về. Có lẽ vì thế mà hơn 50 năm sau, ngôi nhà thờ ấy vẫn chưa được hoàn thành chăng? Tối hôm đó khi ra về, ba Hân đưa cho năm anh em, mỗi người một phong bì lớn, bảo đem về nhà đọc. Một tuần sau, sau khi khách khứa ra về hết, một mình trong căn phòng dùng để làm việc, Hân cầm cái phong bì lớn ấy, từ từ mở ra xem. Tờ đầu tiên Hân thấy là các giấy tờ di chúc nhà cửa, sang tên chủ quyền, v.v. của ngôi nhà mà gia đình Hân đã từng ở Saigon năm xưa, bây giờ đang được dùng làm nhà thờ tổ tiên. Thì ra ông cụ đã âm thầm làm giấy tờ khi ông về Việt Nam mấy lần trước và đã để tên năm đứa con vào giấy tờ chủ quyền. Ngoài ra lại có một xấp giấy kẹp vào nhau, tựa đề là Tập Ký Sử Gia Đình, đọc lời mở đầu thì được biết đây là gia phả lịch sử bên họ Nội của Hân. Tò mò, Hân bắt đầu đọc, rồi cứ thế say mê đọc mãi trong đêm khuya tĩnh lặng. Ngoài hiên, tiếng mưa bắt đầu rơi tí tách… * Gia phả bắt đầu từ đời ông Cố Nội, sinh năm 1850 ở tỉnh Phú Thọ, Bắc Việt…. Hân không ngờ tổ tiên mình đã có người làm đến ông Tổng Hội, ông Thông Phán, ông Huyện. Ông Cố cũng đã từng cùng với ông Cử Lương văn Can mở Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT), dạy chữ Quốc Ngữ, dạy buôn bán, v.v. ở phố Hàng Đào. Sau khi tan ĐKNT, thì ông Cố đã có các học trò theo xin học tiếng Pháp, như Nguyễn Hải Thần, Hoàng Tăng Bí, Phan Bội Châu, v.v. Ngoài ra, dòng họ Hân cũng đã có người từng làm những chức vự lớn như đại sứ Nhật Bản, có người từng làm tổng trưởng, sau làm đại sứ tại Vatican. Lại có ông đã từng làm đại sứ ở Hoa Thịnh Đốn, ông khác làm Tùy Viên Quân Sự ở Luân Đôn. Càng đọc càng biết nhiều về dòng họ gia đình bên Nội, về những ông bà, cô, chú, bác, mà Hân nhớ lúc còn bé, mỗi lần Tết đến hay giỗ chạp đều phải đến nhà họ để chúc Tết hoặc thăm viếng. Lúc ấy Hân còn bé quá, không hiểu là mình có bà con như thế nào với họ. Phải nói là mãi đến bây giờ Hân mới cảm thấy hãnh diện đã mang tên họ này, một tên họ mà từ trước đến nay Hân không hiểu chút nào về lịch sử, về nguồn cội. Có đôi khi Hân thầm ước tại sao mình không là họ Nguyễn, Lê, Trần, v.v. là những dòng họ lừng danh trong lịch sử Việt Nam mà Hân đã từng học qua. Hân tự hỏi tại sao chưa bao giờ ba Hân kể về những người bà con lừng danh nổi tiếng này cho con cháu nghe cả? Có phải vì ông cảm thấy tự ti mặc cảm, bởi vì ông không làm nên sự nghiệp lừng danh như họ chăng? Hân nhớ có lần nghe mẹ kể lại, vì ông là con trai út nên được ông bà Nội cưng chìu, giữ lại bên cạnh để thừa hưởng tất cả đồn điền ruộng đất, cò bay thẳng cánh của dòng tộc. Trong khi các anh của ông thì được gửi đi du học bên Tây, nên khi về nước được trọng dụng làm cho các hãng ngọai quốc giàu sang. Đến năm 1954, ông cùng gia đình, bỏ lại tất cả ruộng đất đồn điền ngoài Bắc, di cư vào Nam với đôi bàn tay trắng. Sự nghiệp của ông từ lúc di cư vào Saigon và kết thúc năm 1975 với một chức vụ khiêm nhường, làm công chức. Tạm ngưng dòng tư tưởng, Hân nhìn vào dưới đáy phong bì lớn và lôi ra một phong bì trắng nhỏ, mở ra xem thì thấy vài tờ giấy viết bằng tay, với trang đầu ghi là Cáo Phó. Đọc vài hàng đầu thì, hỡi ơi, là tờ Cáo Phó mà ba Hân đã viết sẵn cho ngày ông cụ ra đi. Có lẽ vì sợ các con không làm đúng và đầy đủ như ý của mình, nên ba Hân đã viết trước hết tất cả những gì mà ông muốn viết trên tờ Cáo Phó, cùng ghi tên các con, cháu, cô, chú, bác v.v. ở cuối bản tin. Tờ giấy thứ nhì ghi tên và điện thoại của các bạn già và bà con thân thuộc mà ông muốn thông báo, những nơi cần liên lạc như nhà quàn, nghĩa trang mà ông đã mua đất và tất cả các giấy tờ quan trọng liên quan khác. Thì ra trong mấy năm qua, ba Hân đã âm thầm tìm tòi, xếp đặt, chuẩn bị các giấy tờ và ghi chú dặn dò các việc hậu sự, cũng như không quên giao lại cho các con mỗi người một quyển gia phả để đừng quên tổ tiên cội nguồn. Càng đọc Hân càng bùi ngùi, xúc động, nước mắt cứ ứa ra theo từng dòng chữ của ông viết. Tại sao ông lại có thể bình thản mà viết ra những dòng chữ ấy được nhỉ? Phải chăng càng về già, con người càng xem cái chết nhẹ tựa lông hồng? Người già chờ đón Tử Thần một cách thản nhiên hơn chăng? Ba Hân đã đón chờ và chấp nhận những gì sắp đến, sẽ đến, như là một cái bảng Stop cuối cùng trên chuyến xe bus mà ông đang đi, chiếc xe bus đã chuyên chở ông qua nhiều chặng đường của cuộc đời. Hơn hai mươi năm từ ngày xa lìa quê hương miền Bắc, trải qua biết bao nhiêu thăng trầm trong cuộc sống ở phương Nam, và sau ba mươi năm ở xứ người, sống cuộc đời viễn xứ xa quê hương, chiếc xe bus của ông chỉ còn một chặng đường cuối cùng, để ông xuống xe đi làm cho xong vài công việc còn sót lai, rồi sau đó ông sẽ yên tâm xuống trạm xe cuối cùng để nghỉ ngơi vĩnh viễn. Nghĩ đến nỗi mất mát lớn lao sẽ xảy đến ấy, Hân bỗng bật khóc nức nở! Hân nhớ lại Chúa Nhật vừa rồi, khi Hân đón ông đi ăn như thường lệ vào cuối tuần, ông bảo: - Con chở ba đến nhà sách Đức Mẹ trước cửa nhà thờ để ba đóng tí tiền. Hân sực nhớ mới đọc trong tờ giấy ông viết, dặn dò riêng Hân sau này phải liên lạc với nhà sách Đức Mẹ đối diện với nhà thờ mà ông thường đi lễ, để nhắc nhở họ xin lễ và đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn ông trong các ngày lễ Chúa Nhật và những buổi tối đọc kinh Thánh Linh ở nhà thờ. Hôm ấy, tuy ông không nói đóng tiền gì nhưng Hân cũng đoán là ông đang đóng tiền hằng tháng trước cho việc đọc kinh cầu nguyện sau này, vì không muốn các con phải lo nghĩ hoặc sợ các con sẽ quên chăng? Thật còn gì buồn hơn là một người già, đích thân đi lo các việc hậu sự, ma chay và xin lễ cầu nguyện cho chính mình sau này? Chỉ nghĩ đến đây thôi, nước mắt Hân lại ứa ra. Nếu nhỡ ông ra đi thật thì Hân sẽ làm sao đây? Còn ai để Hân ghé đón đi chơi và đi ăn cuối tuần? Còn ai để kể chuyện chính trị thế giới và cộng đồng Việt Nam cho Hân nghe nữa? Còn ai để gọi Hân mỗi thứ sáu, kể cho Hân biết tin tức trên radio, rằng cuối tuần này ở đâu có mục gì vui để con gái đi chơi? Còn ai để mỗi lúc gần Tết là đi mua sách Tử Vi đọc trước vận mệnh năm nay của các con và báo cho các con biết mà phòng hờ, kiêng cử? Còn ai để Hân gọi nói chuyện vụn vặt hằng ngày? Còn ai nữa đây? Không! Không còn ai có thể thay thế ba của Hân! Những hàng chữ trước mắt Hân bỗng nhiên nhòe đi… Ngoài cửa sổ, trong đêm khuya thanh vắng, tiếng mưa đột nhiên rơi dồn dập, gõ nhịp lộp độp trên mái nhà. Lẫn trong tiếng mưa đêm, hình như có tiếng khóc òa vỡ… |
|
#13
|
|||
|
|||
|
Ngoài Kia Tuyết Rơi, Rơi…
Karen N. Nguyen (vietbao) "Ngoài kia tuyết rơi rơi…em không đến thăm anh chiều nay…." Bài hát này Kim đã nghe đã bao lần, từ lúc còn bé ở Việt Nam cho tới sau khi qua Mỹ. Dạo còn bé, Kim chỉ biết về tuyết qua sách vở và phim ảnh. Bao giờ tuyết cũng hiện ra với màu trắng thánh thiện, trắng tinh, sạch boong, tinh khiết vô cùng. Tuyết như mời mọc người ta chạy ra đường vò tuyết thành viên để ném nhau chơi, như quyến rũ người ta trượt tuyết trên những dốc núi phủ đầy tuyết trắng dưới 1 bầu trời xanh ngắt tuyệt vời. Tuyết như vẫy gọi trẻ con ra vườn, ra công viên làm những hình nhân bằng tuyết, lấy mấy hòn than đen làm cặp mắt, củ cà rốt cam cam làm cái mũi. Những người tuyết có thân hình tròn trĩnh, cổ quấn khăn, đầu đội nón, tay cầm cây chổi, miệng cười tươi, trông dễ thương vô cùng trong trí óc trẻ con của Kim. Mấy miếng bông gòn trắng nõn êm êm trưng bày nơi máng cỏ Chúa Hài Đồng trong những mùa Giáng Sinh ở trường mấy bà sơ dạy Kim trước 75 và mấy ly nước đá bào có rưới nước xi-rô đỏ đỏ của ông Tàu già trước cửa trường không thỏa mãn được trí tò mò của Kim về tuyết. Kim thèm được nhìn cảnh tuyết rơi thật sự, thèm được đi trên tuyết, vò tuyết thành những viên tròn tròn rồi lăn chúng trên tuyết cho đến khi chúng thành những quả cầu thật lớn để làm hình nhân bằng tuyết. Kim ao ước có được một mùa đông nhìn ra cửa sổ thấy tuyết rơi trắng xóa cả đất trời, Kim ở trong nhà cạnh một cây thông thật lớn treo đầy đèn màu, đồ trang trí đủ kiểu và dây kim tuyến lấp lánh, cạnh một cái lò sưởi có mấy khúc gỗ thật to cháy bập bùng làm ấm cả không gian… Mơ ước trẻ con ngày nào rồi bỗng có ngày trở thành sự thật khi gia đình Kim có cơ hội định cư tại Hoa Kỳ. Nhưng những giấc mơ vụng dại ngày nào và thực tế mùa đông trên đất Mỹ, khoảng cách mỗi ngày mỗi dài thêm. Tuyết không còn cái vẻ dễ thương, bình an như Kim tưởng. Tuyết không còn cái màu trắng hòa bình, dịu dàng như Kim nghĩ. Những mùa đông của Mỹ đem lại cho Kim bao sự thật về tuyết mà Kim ngày xưa ở Việt Nam không hề biết. Mùa tuyết đầu tiên, Kim hao hức vô cùng. Trời lạnh cóng da, mấy chị em Kim cùng ra khỏi nhà để nghịch tuyết. Lúc đó Kim mới phát hiện ra vò tuyết thành viên không phải là dễ, tuyết quá khô, quá xốp thì không làm được, phải chọn tuyết ươn ướt, âm ẩm viên tuyết mới chặt chẽ, mới bay xa và làm cho người bị ném thốt lên tiếng "Ui da". Lúc đó Kim mới phát hiện ra là làm được người tuyết như Kim mơ ước thì phải có thật nhiều tuyết, chứ tuyết có vài inch rơi xuống thì đi mót tuyết cả một vùng khá lớn họa may mới làm đủ người tuyết trong mộng của Kim. Giấc mơ coi như tàn, Kim gởi thư cho bạn bè, bảo là tuyết ở vùng tao chỉ làm đủ ngón chân cái của người tuyết mà thôi! Đến chuyện đi trên tuyết cũng không phải dễ như Kim thường nghĩ. Tuyết rơi, nếu chỉ có tuyết xốp và khô thì cũng đỡ, đi trên tuyết không có vấn đề gì nan giải cả. Vậy chứ bước vào xe hơi, bước vô nhà, dẫu đã giũ tuyết kỹ, vẫn mang vào xe, vào nhà một mớ tuyết, và sau đó khi tuyết tan, một vũng nước ướt sàn xe, ướt sàn nhà, messy vô cùng. Nhưng nếu tuyết rơi, rồi sau đó có mưa, rồi nhiệt độ xuống thấp, hai mươi mấy độ, nước mưa đông lại thành nước đá, rồi tuyết lại rơi, cái combination tuyết nước đá tuyết là điều đáng sợ vô cùng. Mang đôi giày đi mùa đông nặng chình chịch, đế giày được thiết kế có bao nhiêu là điểm tựa để bám xuống mặt đường trơn, vậy mà Kim vẫn cứ trợt dễ như bỡn. Kim bước từ nhà ra chỗ đậu xe, bước từ chỗ đậu xe vào chỗ làm, mỗi bước chân là mỗi lần tim đập phập phồng, cầu mong bình yên vô sự không bị té gãy tay gãy chân gì cả. Chẳng còn hứng thú gì khi đi trên tuyết cả, khi tuyết không còn mang lại bình yên cho tâm hồn trên cái xứ sở đã có lắm chuyện làm con người stress triền miên! Ừ! Thì thoạt đầu tuyết cũng có màu trắng như Kim thấy trong sách vở và phim ảnh. Nhưng rồi sau đó, trên đường phố, tuyết đổi thành màu xam xám, đen đen. Người ta phải rải muối trên đường để làm giảm nhiệt độ đóng băng của tuyết xuống, để tuyết chảy lỏng ra, giảm nguy hiểm cho bao xe cộ trên đường. Muối cộng với tuyết chuyển thành một lớp bùn nhão nhoẹt, xam xám bám vào xe bẩn không chịu được. Sau mỗi đợt tuyết, mấy chỗ rửa xe lại hốt bạc, thiên hạ rồng rắn lái xe vào để rửa, vì nếu không rửa xe, dàn máy dưới xe sẽ bị lớp muối rải đường làm cho hắn rỉ đi. Tuyết vừa tan hết, đường phố vừa trở lại bình thường, xe vừa rửa xong sạch như lau như li, thì lại có thông báo đợt tuyết mới, chuyện đó xảy ra không phải là hiếm, Kim buồn 5 phút, còn mấy chỗ rửa xe thì bà con cười tươi như hoa. Ngày xưa thấy mấy tấm hình chụp cây cối mùa đông có phủ một lớp băng mỏng, mặt trời lên cành cây được dát 1 lớp pha lê quý báu và trang điểm bởi nghìn hạt kim cương, Kim thấy đẹp vô cùng. Mãi cho đến bây giờ, Kim vẫn công nhận cây phủ băng thì đẹp lắm lắm. Nhưng những mùa đông trên đất Mỹ cho Kim thấy là Yin và Yang của băng phủ trên cây. Cây cối phủ nhiều băng quá có thể ngã xuống đường, trúng xe đang chạy, trúng người đang đi, trúng nhà đang ở. Băng mỏng coi vậy chứ cũng có trọng lượng, cũng có thể làm cong oằn các nhánh cây, chạm vào dây điện, làm chập mạch, làm cả một vùng mất điện giữa mùa đông. Băng mỏng vẫn có sức mạnh làm sụm cả 1 loạt dây điện và lại cũng gây mất điện. Mất điện mùa đông thì thức ăn trong freezer có thể mang ra balcony, patio để ông thần mùa đông giữ hộ, không làm hư hại, nhưng con người với sức khỏe mong manh mà mùa đông không có điện thì đau khổ khôn lường. Cái hệ thống mồi gas trong bếp của nhiều nhà trong đó có nhà Kim là chạy bằng điện, không có điện là không có gas, là không nấu nướng gì được hết. Có lần mùa đông nhà Kim bị mất điện, buổi tối Kim về nhà mới hay, làm biếng không chạy ra phố ăn, sống đạm bạc bằng cereal và cà rốt, chips, và salsa chỉ một tối mà sáng hôm sau Kim lả cả người, xúc tuyết mà tay run, chân cũng run luôn. Nhiều lúc nghe câu hát "Ngoài kia tuyết rơi rơi, em không đến thăm anh chiều nay…" Kim lại bật cười, thấy mình tìm ra đủ lý do đáng đồng tiền bát gạo cho cô gái để cancel chuyện đến thăm chàng, mà chàng không tài nào bắt bẻ được. Trời lạnh, tuyết rơi, xe em đang đậu ngon lành ở trước nhà, tuyết có rơi ở đâu chứ phía bên dưới xe thì mặt đất vẫn sạch trơn. Em muốn tới thăm anh trước nhất phải dọn tuyết để lui cái x era, em đi mất thì sẽ có xe khác chiếm chỗ đó. Đến lúc em trở về thì chỉ còn 1 lô chỗ tuyết ngập đến đầu gối, cái xe em có 200 horsepower vất vả trăm chiều cũng không neo nổi đống tuyết đó mà vào park được. Vậy là em phải leo xuống, lấy cái xẻng ra, hát câu "Lao động là vinh quang" xúc tuyết dọn đường cho chiếc xe yêu quý của mình, sau đó phải mua cả hộp salonpas ở chợ Tàu về dán lưng cho đỡ nhức mỏi, vậy là khổ quá xá. Chưa hết, trên đường em lái đến thăm anh hoặc lái trở lại về nhà em, trời tuyết thì đường trơn trợt, tuyết nhiều xe cào tuyết cào đường không kịp, xe rải muối bận quay trở lại trạm muối tiếp tế thêm, không còn thấy lane nào với lane nào hết, xe chạy như rùa bò, tăng gas chút xíu mà lái nhằm cục băng là bánh xe bắt đầu muốn nhảy điệu valse quay vòng vòng, đạp thắng xe thì có thể quay 360 độ, giữa highway đầy xe tải 16 bánh, xe truck và SUV bự như mấy cái xe tăng, xa em làm sao mà thoát hiểm 100% cho được. Em không đến thăm anh được, nhưng bây giờ technology phát triển vượt bực, em có thể gọi điện thoại cho anh, chat online với anh, có cái webcam rồi nối với computer thì anh cũng sẽ thấy mặt em thôi. Nếu chàng complain, nàng có thể hát lên: "Ngoài kia tuyết rơi roi….em mong anh ghé thăm chiều nay" xem chàng trả lời ra sao, Kim sẽ gạ cô gái như vậy. Nói chung là Kim không thích mùa đông chút nào hết. Nhiều lúc chỉ mong trúng số độc đắc để move về miền nắng ấm California là first choice, Florida là second choice để trốn tuyết. Mong vậy chứ Kim biết chuyện trúng số như là mò kim, nên chẳng hề mua cái vé nào hết, và vẫn cứ ở và làm việc ở cái thành phố thân quen, mỗi năm chỉ có 7,8 lần có tuyết là cao, mỗi đợt vài ngày so với tuyết trên Michigan, Ohio, New York thì chẳng là cái gì hết, nhưng với Kim thì cũng đã là Big problem mỗi dịp bà chúa tuyết ghé thăm. Sáng nay thức dậy bật TV lên, Kim thấy dự báo là tối sẽ bắt đầu đổ tuyết. Trận tuyết đầu tiên của cả năm, nghe quý vị trên TV bàn tán đến hào hứng sôi nổi không thể tả, có thể mang đến 6-8 inchs tuyết cho vùng Kim ở. Kim không thấy thú vị chút nào hết khi nghe tin này. Ngày mai là ngày Kim nghỉ làm để đưa bố đến bệnh viện làm colonoscopy, nội soi trực tràng. Kim đã hẹn trước với bà bác sĩ của bố từ mấy tuần trước, đã dàn xếp với supervisor của Kim về lịch làm việc. Ngày mai có tuyết là mệt chết luôn thôi, Kim than thầm trong bụng. Cứ thế có tin có tuyết là bà con thiên hạ ùn ùn đi mua thuốc ở pharmacy, mấy ông bà già gọi tới refill thuốc quá xá cỡ, Kim với nhỏ technician làm trở tay không kịp. Nhiều lúc ngẩng mặt lên nhìn ra phía ngoài tiệm, Kim thấy mấy quay cash register bên ngoài người ta xếp hàng đầy đặc, shopping cart cái nào cái nấy đầy ắp thức ăn, nước uống và đồ dùng trong nhà. Mấy cái kệ bán xẻng xúc tuyết, đồ cào tuyết cho xe hơi vv…đã vơi thấy rõ. Mấy anh xếp hàng trong tiệm chạy tíu tít hết lấy thêm bánh mì ra thì lại đi lấy sữa, lấy rau và trái cây để xếp lên quay, làm không ngơi tay. Kim nhìn đồng hồ, ráng lên, ráng lên vài tiếng nữa là xong cả thôi. Tới mùa đông. Kim chỉ thích về nhà cuộn mình trong chăn ấm, vừa được uống hot chocolate vừa xem phim hay đọc sách thôi. Nhưng tối nay, Kim còn có lý do nữa: Kim muốn về nhà sớm để gặp bố, bố tối nay phải nhịn ăn từ 7 giờ tối, rồi phải uống thuốc để thải hết thức ăn trong người ra, ngày hôm sau bà bác sĩ mới nội soi làm colonoscopy được. Về tới nhà, Kim thấy bố đã lôi chai thuốc và tờ chỉ dẫn của bà bác sĩ ra đọc. Cái quy trình này bố đã làm cách đây 2 năm về trước, thành ra bố đã nói với Kim từ mấy hôm trước là khỏi cần mua chai thuốc cho bố, bố tự mua được. Oh my god, Kim nhìn chai thuốc bố đang cầm trong tay, bứt đầu bứt tai tự trách mình sao không check lại với bố. Thay vì mua chai thuốc 3 oz, bố mua chai nhỏ chỉ có 1oz rưỡi thôi. Phải uống nửa chai tối nay, ngày mai 3 giờ trước giờ làm test thì uống thêm nữa chai nữa. Tối nay bố mà uống nữa chai nhỏ thì đâu có đủ dose, Kim phải giải thích cho bố hay. Kim nói với bố là Kim chạy ra pharmacy cạnh nhà mua thêm thuốc cho bố đây, rồi tức tốc lái xe đi. Cái pharmacy sát nhà Kim, lái xe chưa tới 5 phút là tới. Parking lot xe đậu đông nghẹt. Ai nấy đi như chạy, tất tả, gấp gáp. Người mới tới thì như sợ tiệm hết món mình cần, người mua xong bước ra thì muốn xếp hàng hóa mới mua cho nhanh vào xe để rời khu shopping thôi. Trời lạnh quá xá cỡ, Kim đeo găng, khoác cái coat dày cộm, bước ra khỏi xe là nhận ngay một luồng gió lạnh quẹt ngang mặt tê cả má cả môi. Pharmacy lớn như vậy mà không còn đến 1 chai thuốc Kim cần. Cái chỗ để thuốc trống trơn, chán quá xá. Kim tấp vào hỏi ông pharmacist quen, coi còn chai nào ở phía bên trong hay không, hỏi cầu may vậy thôi. Lúc ông pharmacist đi vòng vòng check thử thì nhỏ technician Kim cũng quen đang đứng type như điên ở computer ngẩng lên, cười như mếu với Kim "Waiting time ở đây bây giờ gần tới 2 tiếng. Kim có rảnh không, vào phụ với tụi này đi" không còn chai thuốc nào cả, ông bạn vàng đồng nghiệp nói vậy Kim liếc nhìn vào, bên trong labels chất cao nghêu. Ngày mai pharmacy vẫn mở cửa như thường mà bà con toàn tới hôm nay đòi fill thuốc và lấy thuốc ngay, cái line của customers xếp ở pharmacy cũng kéo dài rồng rắn tới phát khiếp. Kim cảm thấy an ủi phần nào là mình đã xong ca làm việc hồi sớm. Kim lấy cell phone, gọi qua tiệm Kim làm. Hồi sáng Kim có thấy còn 1 chai thuốc bày ở phía ngoài, không biết bây giờ còn hay không. Cậu bé cashier bắt phone, Kim mô tả chai thuốc và nói tên cho nó tìm, may quá chừng, tiệm Kim còn chai thuốc đó. Kim dặn chú nhóc giữ dùm chai thuốc, đừng bán cho ai hết, Kim lái xe tới ngay thôi. Mất gần 20 phút sau Kim mới lái xe tới. Bước vào tiệm cũng lại thấy cảnh bà con ùn ùn đi mua hàng, làm Kim cũng bắt đầu xốn xang, áy náy trong lòng. Kim lấy chai thuốc định trả tiền xong rồi về nhà, nhưng chân Kim lại kéo đi vòng vòng trong tiệm, càng nhìn thiên hạ chất đồ lên xe, bánh mì, trái cây, đồ hộp, giấy vệ sinh, xẻng xúc tuyết, Kim càng muốn mua đồ. Kim nhẩm tính xem mình còn món gì ăn được trong tủ lạnh, trong freezer, rồi tạt qua quầy bánh mì. Kim chưa ăn tối, nhìn mấy ổ bánh mì bỗng bao tử đói cồn cào, nhìn ổ bánh mì nào cũng muốn mua cả. Sao dạo này bakery có nhiều loại bánh mì lạ quá vậy nè, Kim vừa lựa vừa nghĩ. Đã lấy ổ Challah bread xong, định quay đi thì mắt Kim thấy ổ Focaccia bread có mấy miếng cà đỏ tươi nằm cạnh mấy sợi chesse vàng cam trông ngon hết sức, Kim lấy luôn ổ Focaccia bread. Cái túi Garlic bread stix kế đó lại có mùi thơm hấp dẫn khôn cùng, vậy là Kim cũng lấy luôn. Rồi cơn sốt mua sắm kéo chân Kim qua mấy quầy khác, Kim mua chesse, mua nước cam vắt, mua distilled water, mua trái cây, thịt nguội. Giờ nếu có bão tuyết mấy ngày đi nữa Kim vẫn có đủ thức ăn cho bố, Kim nghĩ vậy. Kim chắc lưỡi, phải rời khỏi tiệm thôi, ở càng lâu càng mua đồ nhiều nữa thôi. Đi mua thức ăn trong lúc bụng đói là hạ sách, Kim biết vậy, mà vẫn không tránh khỏi. Về tới nhà, Kim đưa bố chai thuốc. Bố hỏi Kim sao chỉ có ra pharmacy cạnh nhà mua đồ mà đi lâu thế con, gần cả tiếng đồng hồ luôn. Kim cười cười, nói với bố là thấy bà con mua đồ quá chừng khi nghe tuyết xuống, con cũng lây bệnh mua sắm thành ra về trễ. Rồi bố với Kim ngồi coi Tivi, tivi dự báo sẽ có 6-8 inchs tuyết, buổi sáng thì nói là tối nay tuyết đổ, tối nay lại nói khuya tuyết mới rơi. Kim nói với bố dám kỳ này tuyết đổ hết trên hướng Philadelphia và New York, tới tiểu bang mình thì chẳng còn hội tuyết nào cả. False alarm như vài năm vừa rồi vậy đó mà, Kim nghĩ vậy, vì lúc nãy Kim lái xe ngoài đường thì đường phố vẫn sạch trơn, không có một cái bông tuyết nào bay trong không khí cả. Bố có cái hẹn 8 giờ sáng ngày mai ở bệnh viện, Kim set đồng hồ báo thức 5 giờ rưỡi sáng. Quay qua quay lại mà nữa đêm Kim mới chợp mắt, cuốn sách Kim coi khá hấp dẫn làm Kim quên cả thời gian. Mai chắc phải uống 1 tách cà phê đậm đặc mới tỉnh được. Kim nghĩ như vậy trước khi chìm vào giấc ngủ. Kim thức dậy lúc 5 giờ rưỡi sáng, buồn ngủ không thể tả, không muốn rời cái chăn ấm ấp chút nào hết. Ngoài kia đã nghe tiếng bố thức dậy bật tivi, Kim mắt nhắm mắt mở bước ra, vừa nhìn ra balcony là Kim tỉnh ngủ ngay lập tức. Ngoài balcony tuyết phủ trắng xóa, mấy inchs có lẽ. Nhìn ra con đường nhỏ chạy vắt ngang khu nhà Kim có vài chiếc xe đang vất vả nhích từng chút một, tuyết phủ trắng đường. Kỳ này có tuyết thực sự không phải là Falsa alarm gì hết! Quay qua quay lại, Kim đã thấy mình nai nịt sẵn sàng, khoác cái coast dày cộm, đội nón, đeo găng, chuẩn bị vào trận chiến: cái tuyết khỏi xe và defrost cái xe. Phải mất cả hơn 10 phút Kim mới dọn dẹp sạch tuyết trên xe, tuyết tiếp tục rơi, rơi quá chừng trong lúc Kim làm việc. Vậy là Kim với bố đi sớm, chưa tới 6 giờ rưỡi sáng 2 bố con đã rời khỏi nhà. Mười mấy năm rồi kể từ ngày qua Mỹ, mới ngày nào bố chỉ Kim học lái xe, dắt Kim thi lấy bằng lái, rồi chở Kim đi chỗ này chỗ kia, bây giờ thì Kim là người chở bố đi đây đi đó. Bố già rồi phản xạ kém, mắt kém, chỉ đi xe bus là an toàn thôi, bố nói vậy. Kim bật cho 2 cây gạt nước trên kiếng xe hoạt động, gạt tuyết qua 1 bên, chỉnh heat trong xe, rồi bắt đầu lùi xe ra. Lần nào chở bố đi Kim cũng hồi hộp như là đi lấy driver's license vậy, tim Kim đập thình thịch, không biết Kim sẽ làm cái lỗi gì nữa đây? Tuyết vẫn rơi trắng xóa cả đất trời. Không biết mấy chiếc xe cào tuyết của county bây giờ ở đâu nữa, đường xá ngập trong tuyết, không còn thấy lane nào nữa hết. Kim lái xe chưa tới 5 miles / giờ, cái xe nhích từng chút một. Kính xe Kim mờ hẳn đi, Kim nhấn nút xịt washing fluid lên kính xe rồi cho 2 cây quạt nước quạt liên tục 1 hồi, kính xe có hơi đỡ hơn 1 chút xíu, nhưng có mấy chỗ vẫn mờ mờ như có 1 lớp sương mỏng bao phủ. Chắc tại bên ngoài trời lạnh quá chăng, Kim vừa nghĩ vừa tăng heat trong xe, chỉnh cho luồng gió nóng thổi nhiều hơn lên kính xe. Bố hỏi Kim "Lần cuối cùng con check nước rửa kính xe là hồi nào vậy? Còn đủ nước để dùng không con, chắc là phải xịt thêm nước cho trong cái kính xe rồi đó" Kim lặng người, oops từ đầu mùa đông tới giờ Kim đâu có check mực nước rửa kính xe hơi đâu. Hồi gần 2 tháng trước đem xe ra check up ở dealer thì thợ ngoài đó check mọi thứ cho Kim, Kim coi vậy là an tâm rồi, từ đó tới giờ có gặp trận tuyết nào đâu! Kim thú thật với bố là gần 2 tháng rồi không có kiểm tra xem xe còn bao nhiêu nước rửa kính, nhưng chắc cũng còn đủ cho ngày hôm nay. Bố nói với Kim: "Chút chiều xong cái hẹn ở nhà thương, về bố check xe cho con". Rồi bố nhìn lên 2 cây quạt nước đang quạt qua quạt lại, để lại trên kính xe mấy đốm nhòe nhoẹt thật to, nói tiếp "Bố nghĩ chắc đến lúc con phải thay 2 cây quạt nước mới cho xe rồi đó". Bố càng ngồi lâu trên xe, thế nào bố cũng tìm ra thêm lỗi của Kim cho mà xem. Kim vừa lái xe vừa nghĩ như vậy. Xe ra tới đường lớn, lane nào rõ ra lane đó, Kim lái nhanh hơn. Bố bảo Kim "Đừng lái nhanh như vậy con, giảm gaz đi" Kim đạp thắng, cái xe trợt trên mặt đường mà không chịu dừng lại, kích kích, kích, kích, tiếng bánh xe cọ sát với lớp băng vô hình trên đường làm Kim lạnh tóc gáy, trời ơi, may quá là may, không có cái xe nào chạy phía trước hay ở 2 lane 2 bên hết. Nếu Kim mà lái nhanh hơn chút nữa, khi đạp thắng, thế nào cái xe cũng bị quay vòng vòng rồi. Sợ hết cả hồn vía, tay Kim nằm trong găng ấm mà cảm thấy lạnh ngắt. Từ đó trở đi, Kim lái cẩn thật hết biết và lái chậm hết biết. Nhiều xe chạy vượt qua mặt Kim, Kim cũng không dám tăng tốc độ. Tuyết quá xá cỡ, chạy nhanh hơn rủi có chuyện gì thì sao. Cái chuyện đạp tháng xe mà xe vẫn chạy trên đường hồi nãy Kim không thể nào quên được. Cuối cùng rồi Kim với bố cũng đến được bệnh viện. Ngày thường thì chưa tới 20 phút Kim có thể lái từ nhà đến bệnh viện, còn hôm nay thì mất đúng 1 tiếng 20 phút. Điều quan trọng là Kim chở bố đến bệnh viện bình an. Lúc bố theo bà nurse vào phòng khám bên trong, bà nurse nói với Kim là qui trình nội soi khám bệnh cho bố cũng phải mất đến gần 3 tiếng, bố sẽ được truyền thuốc mê để bác sĩ làm nội soi, Kim muốn quay về nhà rồi lát sau trở lại cũng được, Kim nhìn ra ngoài parking lot, tuyết rơi thấy ngập đến ¼ bánh xe của vài chiếc xe hơi đậu trước đó rồi. Xe Kim thì đã phủ 1 lớp tuyết trắng xóa từ đầu tới chân. Kim nói với bà nurse, Kim ngồi chờ ở phòng đợi phía ngoài vậy. Trời đổ tuyết nặng mà bà con vẫn ráng lái xe được tới bệnh viện. Lấy hẹn với bác sĩ và dàn xếp nghỉ để đi khám bệnh đâu phải là dễ, cancel một cái hẹn thì mấy tuần sau mới lấy được cái hẹn mới, thành ra ai cũng cố gắng thu xếp lái xe đi trong tuyết, Kim nghĩ vậy. Chỉ trong chưa tới nữa tiếng, mấy cái ghế dài trong phòng đợi của bệnh viện đã chật ních người. Trẻ con, trung niên, người già ai bước vào cửa bệnh viện cũng mang theo 1 chút dấu vết của trận bão tuyết bên ngoài vương trên áo khoác dày cộm, trên khăn quàng cổ, trên nón trên giày ủng, trên găng tay. TV trong phòng đợi hết chiếu cảnh kẹt xe ngoài highway này thì lại chiếu cảnh tai nạn do lái xe trên đường tuyết trơn ở khu phố kia. Trường học ở County đóng cửa, công sở của nhà nước cho nhân viên lấy liberal leave….Kim thu người trong cái áo khoác to đùng nặng chình chịch của mình, đọc tờ báo mang theo từ nhà. Kim cảm thấy buồn ngủ dễ sợ luôn. Có vài người người gần đó, chắc cũng thức từ sớm lái xe đi, giờ trong lúc đợi thân nhân khám bệnh thì tranh thủ nhắm mắt ngủ một chút. Hai mí mắt Kim nặng trĩu, Kim ráng mở ra, mở ra rồi cuối cùng Kim cũng chào thua ông thần ru ngủ luôn. Kim bừng tỉnh giấc, nhìn đồng hồ. Oh, Kim ngủ quên cũng gần 20 phút, mà tưởng như là cả tiếng đồng hồ vậy. Kim lát lát nhìn đồng hồ trên tường, mấy cây kim nhích từng chút một. Kim đọc hết tất cả mấy mục trên báo, mà vẫn chưa tới 11 giờ trưa. Vậy là tiếp tục đọc lại tờ báo vậy, kỳ này Kim đọc luôn những phần mà từ đó tới giờ Kim lướt qua không thèm đọc. Bà bác sĩ quen làm qui trình nội soi cho bố bước ra, cầm theo một lô giấy tờ và hình chụp. Bà chỉ cho Kim mấy cái hình màu chụp trực tràng của bố, chỉ mấy cái bướu không hình, rồi nói là phải chừng chiều nay mới có kết quả xem đó là bướu lành hay không. Bà không nhắc gì tới chữ colon cancer hết, nhưng Kim bắt đầu lo trong bụng. Từ đó tới giờ bố có triệu chứng gì đi nữa, bố có nói cho Kim hay đâu. Kim áy nấy quá đỗi…. Có tiếng bà nurse gọi tên bố, rồi gọi tên Kim, người nhà của bố. Bà nurse cho Kim hay bố đã tỉnh, có thể xuất viện được. Bà kêu Kim ra cào tuyết trên xe cho xong rồi lái xe vào trước cửa phòng khám, bà sẽ gọi bố ra. Kim bước ra parking lot, bắt đầu cuộc chiến thứ nhì với tuyết, bật máy xe, bật heat, cào tuyết. Đến chừng hai cánh tay Kim bắt đầu mỏi nhừ thì coi như cái xe tương đối sạch sẽ, tương đối vì trong lúc Kim dọn tuyết khỏi xe, ông trời vẫn rãi tuyết đều đều… Kim chở bố về, đường xá vẫn ngập trong tuyết, dù trên đường có bóng dáng của vài chiếc xe cào tuyết chạy. Trận tuyết đầu tiên của năm nay, coi bộ county không chuẩn bị kỹ rồi. Dự báo 6-8 inchs tuyết mà từ sáng tới giờ coi bộ nhiều hơn, mấy anh chàng dự báo thời tiết của địa phương làm việc vậy mà không mất Job, hay thật là hay, Kim vừa lái xe vừa càu nhàu trong lòng. Càu nhàu như Kim vẫn lái xe chậm, thật chậm. Kim vẫn tự hào về thắng xe hơi của mình là loại super, nhưng sau vụ xe trợt hồi sáng sớm và xem mấy vụ đụng xe ở vùng này trên TV vừa rồi thì Kim cũng phải sợ. Về tới nhà, đậu xe xong, bố bước ra khỏi xe là đến mở cốp phía trước xe ra là kiểm xem xe Kim còn bao nhiêu nước rửa kính. Bố chỉ cho Kim xem cái bình nào chứa coolant fluid, cái bình nào chứa washing fluid, rồi dặn Kim lo check mức washing fluid thường xuyên hơn trong mùa đông. Lúc nghe bố nói, Kim mới sực nghĩ ra là ở nhà Kim không có bình washing fluid nào hết. May là nước rửa kính xe còn kha khá, chứ bố mà phát hiện Kim không phòng bị gì cả, bố còn phiền nữa. Kim hứa hẹn với bố là vài ngày nữa sẽ đem xe đi thay 2 cây quạt nước ngay, rồi giục bố vào nhà nghỉ ngơi. Bố chỉ ăn qua loa rồi đi ngủ. Cái thuốc mê bệnh viện dùng trong quá trình nội soi vẫn còn ảnh hưởng, bố ngủ say quá đỗi, đến cả mấy tiếng sau điện thoại reo vẫn không đánh thức bố dậy. Kim bắt điện thoại. Bà bác sĩ gọi, cho hay kết quả nội soi tốt, mấy cái bướu trong trực tràng của bố là loại nhỏ và là bướu lành không có gì phải lo cả. Chừng 5 năm nữa mới cần làm lại qui trình này. Kim nghe nhẹ nhõm cả người. Chút bố dậy Kim phải nói cho bố hay cái tin tốt đẹp này mới được. Ngoài trời tuyết vẫn rơi trắng xóa, đất trời lạnh quá, nhưng bên trong lòng Kim cảm thấy ấm cúng khôn cùng. Kết quả khám bệnh của bố hôm nay tốt đẹp, Kim gọi điện thoại báo cho mấy đứa em hay. Bố đã gần 70, Kim chỉ mong bố sống thọ với con với cháu. Kim thầm mong sẽ có dịp chở bố đi nội soi trong 5 năm nữa, kỳ tới Kim sẽ lấy hẹn với bác sĩ vào mùa hè, để bố và Kim không còn phải vất vả với tuyết như hôm nay. Dù vất vả trăm chiều lái xe trong tuyết, nhưng ngày mùa đông hôm nay, trận bão tuyết tạo thêm một cơ hội cho Kim thấy rằng Kim vẫn là đứa con nhỏ trong cái nhìn thương yêu của bố. Kim vẫn nghĩ rằng mình đã lớn, sống tự lập được ở xứ người, không cần bố kiểm soát nhắc nhở từng ly từng tí như lúc Kim còn bé. Nhưng thật ra còn bao nhiêu điều Kim bỏ sót, Kim quên, Kim lơ đãng không để ý tới và bố là người nhẹ nhàng chỉ cho Kim thấy điều đó, nhẹ nhàng mà sâu sắc khôn cùng. Bố, ngọn núi Thái Sơn của Kim. |
|
#14
|
|||
|
|||
|
Ngày tốt nghiệp
Huy Phương Trên đường vào nhà con gái, tôi tình cờ đứng lại bên chiếc xe của đứa cháu ngoại và nhìn những tấm stickers dán trên kiếng xe, có hai tấm, một là parking permit của trường college mùa Fall năm ngoái, một cho mùa Spring năm nay. Thế là cháu ngoại đã vào college được gần một năm. Thời gian qua quá nhanh. Bỗng dưng những tháng ngày xưa hiện về. Mười chín năm trước, cháu chỉ là một đứa trẻ tám tháng, ngủ mê mệt trên tay bà ngoại trên chuyến bay xuyên Thái Bình Dương từ Saigon đến San Francisco. Cuộc sống bắt đầu ở Mỹ đầy bận rộn và khó khăn, trong khi bố mẹ phải đi làm cật lực, cháu được phó thác cho ông bà. Làm sao con có thể nhớ ngày đầu tiên, ngoại đưa con đến trường vào lớp mẫu giáo, cho đến mới năm ngoái đây, dự lễ tốt nghiệp trung học của con, quãng thời gian dài nhưng đi quá nhanh, phải nói là như một chớp mắt. Trong quãng thời gian đó, đã bao lần ông ngoại đưa đón, chờ xe dưới cơn nóng nắng gắt hay cả trong khi tuyết rơi, chờ con ngoài sân vận động hay ở nhà bạn bè trong một buổi hội họp cuối tuần. Ở miền Ðông, ông bà ngoại đã cùng chơi tuyết với con, dắt con đi tìm các loại lá vàng mùa Thu để làm bộ sưu tập mai đem vào lớp học. Cuối tuần, ông bà đã dắt con ra ngoài park để con chạy nhảy nô đùa với bạn bè. Con lớn lên từng ngày, có thể ông bà không bao giờ nhận ra, cũng như tuổi già đến lúc nào mà ông bà không bao giờ thấy, cho đến một ngày nọ. Một biến cố gì đó xảy ra, khi chúng ta dừng lại ở một dấu mốc ngày tháng nào đó, như chuyện ông ngoại vào bệnh viện trên chiếc xe cấp cứu, ngày ra trường của con, hay đến một lúc nào đó, con được cha con đưa vào nhà thờ, đi trên tấm thảm đỏ để nhận chiếc nhẫn đính hôn từ tay một thằng con trai xa lạ nào đó. Ðối với những người mẹ, thì nuôi con, tấm lòng mẹ đã trải dài biết bao nhiêu năm, với những tất bật, lo âu, phiền muộn từ khi đứa bé lọt lòng. Những bình sữa ấm, muỗng thuốc giảm sốt thời bé bỏng cho đến những chiếc lunch-box với chiếc bánh mì thịt, chai nước lúc vào trường. Mẹ mừng con chập chững biết đi ngày nào, cũng như lo âu vào ngày con được chính thức ngồi vào sau tay lái của chiếc xe đầu tiên của đời con. Mẹ đã chờ con lúc đi học về, nhìn y phục của con, nhìn vẻ mặt của con để tìm ra những gì đã xảy ra trong lớp học hay ngoài sân chơi trong ngày hôm nay, cũng như mẹ thức suốt đêm lo lắng và cầu nguyện lúc con đi dự lễ Prom mải mê với bạn bè chưa về. Nếu con là trai, mẹ sợ con theo bạn bè hư hỏng, nhận phải những điều tai ương, với con gái mẹ lo sợ từng lúc theo quan niệm Á Ðông của mẹ, chuyện “khôn ba năm, dại một giờ.” Mẹ muốn con thật thà, tỏ bày với mẹ những gì con đã gặp, con đã làm và những điều gì con dấu giếm, không muốn nói ra, nhưng bây giờ con đã có một thế giới riêng của con. Ðối với mẹ, bao giờ con cũng là đứa con bé bỏng dưới bàn tay che chở của mẹ, dù hôm nay, ngày tốt nghiệp con đã trở thành một ai, một nhân vật nào đi nữa. Nhưng những lời khuyên răn, dạy dỗ của mẹ bây giờ không còn phù hợp nữa. Nhiều đứa con gái đã chẳng kêu lên: “Mẹ ơi! Con đâu còn nhỏ nữa!” là gì! Ngày ra trường kết thúc một thời gian theo đuổi việc học, có thể để bắt đầu cho một cuộc đời mới mẻ của đứa con, nhưng người mẹ mơ hồ cảm thấy đó là một giai đoạn kết thúc từng chặng đời của bà, đối với từng đứa con. Như con chim đủ lông đủ cánh, đứa con sắp rời tổ để bay xa. Ðội mũ tốt nghiệp, mặc áo choàng, cổ mang vòng hoa tím, con tươi cười giữa đám bạn bè, anh chị em vây quanh chúc mừng ngày ra trường của con. Cả cha mẹ cũng đến ôm con vào lòng, nói những lời chúc tụng bình thường, nhưng có đứa con nào nói được một lời, chân thành với nước mắt, mà cũng không người mẹ nào mong được nghe con nói một câu như: “Mẹ ơi! được như ngày hôm nay cho con, mẹ đã trải qua biết bao nhiêu lo âu, hy sinh biết bao nhiêu tiền bạc, sức khỏe. Con mang ơn mẹ biết bao nhiêu!” Tình thương như dòng suối chảy mãi từ cao xuống thấp, như “nước mắt chảy xuôi,” chuyện thường tình mà nhiều thế hệ người Việt chúng ta đã xem như là một định luật. Mười tám tuổi, đối với đứa con là tuổi trưởng thành, nhưng đối với người mẹ con chỉ là một đứa bé ngày nào không hơn không kém. Người mẹ ao ước được ôm những đứa con trong tay vì lúc nào bà cũng tưởng như chúng hãy còn bé dại. Những món ăn bà chăm chút nấu ra không còn là món thích của con thời nhỏ, những giờ phút quanh quẩn bên mẹ không còn có gì thích thú, bây giờ bạn bè công việc là nguồn vui mới, đâu có điều gì mà đứa con cần phải kêu lên hai tiếng, “Mẹ ơi!” Cứ một vài năm hay có khi từng năm một, người mẹ đã lần lượt dự nhiều ngày lễ ra trường của con cái, nhưng nhà mỗi năm mỗi vắng, những đứa con càng ngày càng xa gia đình hơn, trong khoảng cách lẫn trong tâm tưởng. Ngày Mother's Day vừa qua, nhiều bà mẹ nhận được những lẵng hoa từ tiệm bán hoa mang lại, kèm theo hoa là những tấm thiệp vô hồn, đã được in ra hằng loạt. Tên của con đó, nhưng do một bàn tay xa lạ đã viết thay. Có khi là một tấm thiệp mua từ tiệm tạp hóa do con đã gởi từ xa về, có khi là một vài dòng chữ gởi mẹ qua máy điện toán. Và có khi, không là gì cả. Vào khoảng thời gian này, nhiều trường lễ tốt nghiệp đã được cử hành trọng thể, đem lại niềm vui cho nhiều gia đình. Lời chúc mừng đầy trên các trang báo, tiệm hoa đông người mua, những nhà hàng nhiều gia đình đặt chỗ cho tiệc mừng. Ngày ra trường đối với nhiều người là sự kết thúc một đoạn đường vất vả học hành, nhưng bắt đầu từ đây là sự nghiệp, tiền bạc và thăng tiến ngoài xã hội. “Ðại đăng khoa” rồi “tiểu đăng khoa,” sau đỗ đạt là hôn nhân, rồi tiếp theo là xe mới, nhà đẹp, con ngoan, “vinh thân-phì gia.” Ít người nhìn lại tình nghĩa gia đình và món nợ xã hội phải trả (trừ món “loan” mượn để học hành), vì những món nợ này không có chủ nợ và cũng không thấy ai đòi. Ðối với gia đình, ngày ra trường để lại trong mỗi gia đình những khoảng trống. Ngày ra trường là một dấu mốc thời gian. Từ đó con ra đi với cuộc đời mới, con đường thênh thang trước mắt mà ít khi nhìn lại. Người mẹ vẫn ở đó, dưới mái nhà xưa kia, rộn rã tiếng cười trẻ thơ, bây giờ chỉ con nghe tiếng Việt chuyển âm từ những cuốn phim bộ Trung Quốc đang chiếu trên máy truyền hình. Người xưa thường cho rằng trên bàn thờ những đứa con nhà nghèo lúc nào cũng nghi ngút khói hương. Chúng ta nhìn lại những gia đình ở Việt Nam ngày trước, những gia đình có những đứa con đỗ đạt là những gia đình trống vắng, vì những đứa con giỏi giang may mắn đều có nhiệm sở mới, đi làm ăn xa để lại nơi ngôi nhà cũ những đứa con ít học, nghèo hèn hay những cô con gái lỡ duyên, muộn màng hầu hạ cha già mẹ yếu hoặc chăm lo hương hỏa từ đường. Một ngôi làng có nhiều khoa bảng là một ngôi làng thường mang cảnh vắng lặng trong những ngày giỗ chạp, cúng tế hằng năm. Ở hải ngoại ngày nay, thường ít có cảnh cha mẹ ở với con cháu chung nhà như người xưa vẫn thường ca tụng: phước đức cho ai có được cảnh “tứ đại đồng đường”(bốn đời ở chung dưới một mái nhà). Sau những niềm vui, là những nỗi buồn. |
|
#15
|
|||
|
|||
|
Thái Lan và Cha Tôi và Chùa Phật và
Chuyến Ði Vượt Biển và Quá Khứ và Hiện Tại Trịnh Hội (nguoi-viet) Tôi lấy tựa đề này vì tôi thích ý tưởng của Nam Lê khi anh đặt tên cho chương đầu tiên trong quyển sách của anh có tên là 'The Boat' (Chiếc Thuyền), một quyển sách đang được dịch ra nhiều thứ tiếng và đoạt được nhiều giải thưởng văn học cao quý ở Anh, ở Úc và ở Mỹ trong năm vừa qua. Chương sách đầu tiên đó được tác giả đặt một cái tên khá dài: 'Love and Honor and Pity and Pride and Compassion and Sacrifice' (Tình Yêu và Danh Dự và Thương Hại và Kiêu Hãnh và Tình Thương và Hy Sinh). Ðây là một chương sách khá hiếm được tác giả viết rất chân thành và sâu lắng về sự xung đột mãnh liệt giữa anh và cha anh, một người lính trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa và những khó khăn to lớn mà cả hai đều phải trải qua trong những năm tháng đầu tiên đặt chân đến Úc. Giữa một người con trai được nuôi nấng theo tinh thần và giá trị của Á Châu nhưng lại được dạy bảo theo văn hóa của Tây Âu ở trường học lẫn cả trường đời. Cái hay của những quyển sách cực hay là ở chỗ đó. Nó nói lên được những gì mình muốn nói. Và nó ghi nhận lại những kỷ niệm, những chặng đường mà mình đã đi qua chính xác còn hơn là người trong cuộc. Cứ y như là chuyện của mình đã tìm ra được một người viết hộ. Lúc tôi đọc chương sách này của Nam Lê vào những ngày cuối năm, đến những đoạn anh và cha anh cãi vã to tiếng, anh phải bỏ nhà ra đi trong tiếng khóc nghẹn ngào của người mẹ thì chính tôi cũng đã bị những kỷ niệm riêng tư của mình gần 2 thập niên về trước tấp nập quay về làm cho tôi không thể nào chú trọng đọc tiếp được. Cha tôi và tôi cũng có những xung đột mãnh liệt như thế. Là con trai độc nhất trong một gia đình được cho là ‘gia giáo’ (tôi rất ghét hai chữ này lúc mới lớn!), cả hai ba mẹ tôi đều là thầy cô giáo có trên 20 năm trong nghề, vì vậy các anh chị em tôi từ nhỏ và đặc biệt là tôi, đã được tôi luyện rất ư là kỹ lưỡng. Và điều đó có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là hình như từ nhỏ tôi đã luôn luôn được cây roi mây của ba mẹ chiếu cố một cách rất thắm thiết. Chiếu cố vì tội đi chơi không xin phép, về nhà muộn, đi chân không... thả diều. Cho đến tội trốn học đánh bài. Hoặc bực mình chửi bậy. Có lẽ vì vậy mà cho đến giờ phút này ngay những lúc nóng giận nhất tôi vẫn không thể nào dùng từ ngữ Việt Nam để... ÐM! Tôi vẫn còn nhớ mang máng kỷ niệm cuối cùng tôi bị ba tôi đánh ở Việt Nam. Ðó là vào khoảng năm 78, 79 trước khi ba tôi vượt biên sang Thái Lan. Sau năm 75, ba tôi đã bị bắt đi “học tập cải tạo” và sau khi ông được thả ra, cả gia đình của tôi đã không được tiếp tục cho ở Sài Gòn mà phải dọn về kinh tế mới. Lúc đó bên ngoại tôi ở Phú Quốc vẫn còn một khu đất trống ở gần rừng. Thế là ba mẹ tôi đã xin về ở đó. Cũng may là họ cho. Dĩ nhiên là với số tuổi đời 7, 8 của tôi vào thời điểm đó, tôi đã không thể nào cảm nhận được những gì mà ba mẹ tôi đã vừa phải trải qua. Lúc ấy tôi chỉ không thể hiểu là tại sao ba mẹ tôi lại có thể từ bỏ một ngôi nhà to có đầy đủ tiện nghi ở Gia Ðịnh để dọn về một nơi đồng không hiu quạnh dựng nhà, lấy tranh làm nóc, lấy đất làm nền. Cứ mỗi khi mưa to về là cả nhà lại đầy nhũng ra nước. Ðã vậy lại không có điện, mà nước cũng không luôn. Mảnh đất trống khá to nhưng lại không được tốt cho lắm. Ðào lên ở đâu thì cứ y như rằng chỉ thấy toàn là nước đục đầy phèn. Vì vậy cứ mỗi chiều nhiệm vụ của tôi là phải sang nhà hàng xóm bên cạnh gánh nước về cho cả nhà xài. Và sẵn tiện tưới luôn cây trái trồng quanh, nhất là giàn bầu trước nhà. Chỉ có 4, 5 gốc gì đó nhưng nó rất được thích ngốn nhiều nước, ít nhất cũng phải là 5, 7 đôi nước của tôi mỗi ngày. Cộng thêm khoản nước xài, tắm rửa cho cả nhà, mỗi chiều tôi nghĩ tôi gánh ít nhất cũng phải là 10, 15 đôi nước. Ðã bảo tôi là con trai một trong nhà mà lị! Lúc ấy tôi chưa cao như bây giờ nên việc gánh nước có phần hơi khó khăn. Nếu tôi không cẩn thận thì *** của hai thùng nước có thể chạm mặt đất rất dễ dàng và không cần phải nói, nếu nó va vào đá (vì tôi lười nhón chân lên) thì coi như hỏng toét. Không những nước sẽ đổ vơi đi mà *** thùng sẽ lủng và khi về đến nhà thì trong thùng sẽ chẳng còn gì. Trong một lần xui xẻo như vậy, ghi vừa gánh thùng không về đến nhà thì tôi đã gặp ba tôi. Có lẽ hôm ấy ông mệt vì vừa đi làm cu li ở bến cảng về - từ hôm được thả ra khỏi trại cải tạo ông không được cho phép đi dạy lại. Cũng có thể ông đang bực mình vì bị gạt mất tiền một lần nữa sau bao nhiêu lần tổ chức vượt biên nhưng không thành của gia đình. Tôi thật không nhớ rõ là ông đã nói gì với tôi khi thấy thùng nước một lần nữa đã bị tôi làm cho thủng đáy. Hình ảnh duy nhất mà tôi vẫn còn ghi nhận lại trong ký ức của tôi vào thời điểm đó là cảnh tôi chạy vòng vòng chiếc võng mà mẹ tôi đang ngồi để tránh những đòn đánh của ba tôi, miệng la oai oải: ‘Con xin lỗi ba. Con xin lỗi ba. Con không dám vậy nữa đâu. Mẹ ơi. Mẹ ơi. Cứu con’. * Không ít lâu sau đó là bao thì ba tôi đã thành công trong chuyến vượt biển cuối cùng của ông. Tuy không còn tiền bạc để lo cho cả gia đình được đi chung như ý nguyện nhưng ông đã may mắn có một người bạn hảo tâm cho ông đi nhờ mà không cần phải trả một đồng nào cho chuyến đi không hẹn ngày trở lại. Trên chiếc thuyền mỏng manh không dài quá 10 mét, ba tôi và hai người bạn cùng hai người con nhỏ của họ đã vượt đại dương cố đi tìm đến một bến bờ tự do tươi sáng hơn. Nhưng sau 10 ngày lênh đênh trên biển vì máy tàu bị hỏng, chỉ cần có một bến bờ, bất kỳ là ở đâu, để tấp họ cũng không tìm thấy. Không nước, hết lương thực, cả tàu vỏn vẹn 5 người chỉ biết nằm chờ chết. Mắt hai đứa bé đã đứng tròng. Hàng chục tàu buôn, chiến hạm của thế giới đi ngang qua. Nhưng chẳng ai để tâm dừng lại cứu giúp. Ngoại trừ duy nhất một chiếc tàu đánh cá người Thái. Họ cứu sống 5 mạng người mặc cho lúc ấy có lệnh của chính phủ là không được cứu vớt tỵ nạn Việt Nam. Và sẽ bị phạt rất nặng nếu như bị phát hiện. Vì thế sau khi được chăm sóc tận tình, được cho ăn uống và nghĩ dưỡng để lấy lại sức, chiếc tàu nhỏ của họ đã được kéo vào gần đất liền trước khi được thả trôi để cập bến. Bước chân lên bờ, ba tôi và gia đình người bạn của ông đã lập tức được dân làng giúp đỡ và đem về một ngôi chùa gần cạnh lưu trú. Không ít lâu sau, họ được chuyển về trại tỵ nạn và chỉ sau 3 tháng, ba tôi đã được cho đi định cư ở Úc nhờ vào khả năng tiếng Anh lưu loát của một thầy giáo dạy ngoại ngữ từ lúc còn ở quê nhà. Năm năm sau ngày ra ông bỏ nước ra đi thì gia đình tôi mới được đoàn tụ ở Úc. Vì thế có thể nói tuổi ấu thơ của anh chị em tôi lúc còn ở Việt Nam hầu như không có hình bóng của người cha nhà giáo. Là một người cha, ông luôn chu toàn đầy đủ cho cuộc sống của chúng tôi lúc còn ở Việt Nam cũng như cho đến khi chúng tôi vào trung học, lên đại học và ra trường ở Úc. Nhưng nếu bảo tôi kể lại một kỷ niệm vui, đẹp giữa tôi và cha tôi thời tôi còn thơ ấu thì tôi chịu. Kỷ niệm đầu tiên mà tôi nhớ về cha tôi là lần tôi được đi theo mẹ để thăm ông trong một trại cải tạo ở tận Năm Căn, Cà Mau lúc tôi lên 5, 6 tuổi. Ðó là một chuyến đi rất xa, rất lâu, rất mệt và đối với riêng tôi thì có quá là... nhiều muỗi. Lần sau đó là lúc ông dắt tôi đi vào một vùng kinh tế mới cũng ở đâu đó rất xa, rất nắng, rất nóng và tôi phải đi bộ cả ngày cùng ông mà không có nước uống. Sau này về Phú Quốc thì tôi chỉ nhớ những lần ông dắt tôi đi vượt biên, lội suối, trèo núi, ăn cơm thiu, đi suốt đêm trong sợ hãi, sợ bị bắt nhưng để rồi cuối cùng cũng bị bắt và vào ngồi tù ăn bo bo như mọi người. Và dĩ nhiên là tôi luôn nhớ trận đòn cuối cùng của ông dành cho tôi. Có lẽ vì vậy mà khi tôi sang Úc năm 14 tuổi, tuổi bắt đầu của sự nổi loạn, thiếu hiểu biết nhưng lại hơi thừa nam khí (ý tôi muốn dùng chữ 'testosterone' ở đây), thì tôi đã hoàn toàn không cảm thấy gần gũi với ông. Việc ông khó khăn từ cử chỉ cho đến lời nói, từ việc học cho đến cách dùng điện thoại tán dóc của tôi càng làm cho tôi có cảm giác như ông quá khắt khe, quá câu nệ, và nhất là có quá nhiều kiểm soát trong cuộc sống của tôi mà tôi lúc ấy rất thành tâm nghĩ rằng hoàn toàn không cần thiết. Cứ mỗi khi đụng chuyện thì y như rằng ông sẽ bắt đầu bằng câu 'Ở Việt Nam thì mày blah blah blah... ' Lúc ấy tôi nghĩ rất đơn giản: 'Well, you are not in Vietnam anymore!' Ba đâu có còn ở Việt Nam nữa đâu mà ‘tại’ ‘thì’ với ‘bị’. Tôi thật không thể nhớ rõ bao nhiêu lần tôi đã to tiếng với ba tôi, đã cãi vã, tức giận đến độ không thể nào khóc được. Và cũng như Nam Lê, tôi cũng đã từng phải bỏ nhà ra đi trong nước mắt ngậm ngùi của mẹ tôi, bị dằn xé giữa hai bên, chồng và con. Tôi thấy hình như điều này xảy ra trong khá nhiều gia đình Việt Nam. Người mẹ luôn là người phải im lặng và nhịn nhục, nhẫn nại làm đầu cầu cho 2 bên chồng con được yên thắm và thông cảm cho nhau. Nhưng rồi thì ngày qua ngày, tháng lại tháng và mọi chuyện cũng trở thành dĩ vãng. Vừa tốt nghiệp đại học xong thì tôi cũng khăn gói lên đường đi theo tiếng gọi của giang hồ cho mãi đến ngày hôm nay. Những khi có dịp về thăm nhà thì tôi và ba tôi cũng có dịp tâm sự cùng nhau, không sâu đậm lắm như những người bạn thân thiết, nhưng chắc chắn là không còn xung khắc như những ngày tháng cũ. Ông vẫn thường nhắc đến chuyến vượt biển năm nào của ông, vẫn còn trăn trở đôi khi không cần thiết, và luôn tự đánh giá về sự đời, đôi khi có phần tiêu cực, mặc dù sự đời luôn không ngừng biến đổi. Thường thì tôi chỉ nghe và để lại đó, ít khi có dịp để tâm suy ngẫm. Phần vì cuộc sống của tôi quá bận rộn. Phần có lẽ là vì tôi đã nghe quá nhiều và đã bị nhàm chán từ những lúc tôi còn sống chung với ông trước khi ra riêng. Cho đến khi tôi có dịp đi cùng ông tìm lại ngôi chùa nơi ông đã từng được cưu mang sau chuyến đi vượt biển hãi hùng. Chùa nằm cạnh một làng chài lưới khá nghèo nàn cách thủ đô Bangkok khoảng 4 tiếng nếu không bị kẹt xe. * Theo Phật giáo thì hầu như tất cả mọi chuyện xảy ra trên thế gian này đều do một chữ Duyên. Là một người có thể cho là khá sùng đạo, năm vừa qua ba tôi cho là đã có duyên khi gặp lại người bạn cùng thuyền năm xưa ở Mỹ và được cho biết tên của làng chài lưới mà ông ta vẫn còn nhớ rõ lúc vừa được cứu lên bờ. Càng có duyên hơn nữa là trong thời gian gần đây tôi có dịp ở Thái Lan nhiều hơn là ở những nơi khác. Thế là tôi và ba tôi lần đầu tiên đã gặp nhau trên đất Thái. Ba lần trước đến đây để đi ngược về quá khứ mong tìm ra ngôi chùa từng cưu mang ông đều đã không thành công. Ông đã phải tạm cúng dường những ngôi chùa khác mà ông đặt chân đến. Nhưng lần này thì không. Với cái tên Thái rất đầy đủ cùng hai người bạn thân của tôi nói rành tiếng Thái, sau bốn tiếng lái xe từ Bangkok, chúng tôi đã tìm lại được làng chài lưới và ngôi chùa khá dễ dàng. Sau một lúc dò hỏi những người Thái trong làng, chúng tôi đã có thể xác nhận chắc chắn đây là nơi mà ba tôi đã được cứu sống 3 thập niên về trước. Bước xuống xe đi ngược về phía biển để đến ngôi chùa, tôi nghe miệng ông lẩm bẩm: 'Ðúng là chỗ này rồi. Ðúng là chỗ này rồi'. Ðây là đồn cảnh sát nơi ông phải đến trình diện lúc tàu vừa mới cập bến. Ðây là cầu tàu bằng gỗ của năm xưa nhưng bây giờ đã được xây bằng bê tông dài hẳn ra. Và đây là ngôi chùa nhỏ nằm bên cạnh một con lạch do một sư ông biết nói tiếng Anh trụ trì. Nhưng tất cả đều đã thay đổi. Chùa đã được xây lớn và rộng hơn gấp nhiều lần, khá ồn ào vì có nhiều khách đến hành hương. Chỉ còn dãy nhà cũ ở tận phía sau cùng là ông có thể ngờ ngợ nhận ra. Con lạch đã bị lấp đi từ lâu và theo nhà sư già nhất có mặt ở chùa 3 thập niên về trước thì sư ông, người đã tiếp xúc và trực tiếp nuôi dưỡng ba tôi, cũng đã viên tịch cách đây trên 10 năm. Sau khi ông hoàn tục trở về sống với vợ con. Nghe nói đâu ông từng là sĩ quan trong quân đội Thái Lan. Nhờ vậy mà ông biết nói tiếng Anh. Ngồi nghe người sư già thuật lại câu chuyện của 30 năm về trước, tôi thầm tiếc cho cha tôi. Cuối cùng thì ông cũng đã được toại nguyện, đã tìm lại được một phần hồn của ông. Nhưng nó đã không còn nguyên vẹn như những gì ông tưởng nhớ sau bao nhiêu năm vật đổi, sao dời. Người xưa không còn mà cảnh cũ cũng bằng không. Có còn đâu chỉ là những kỷ niệm của một thời khó nhọc nơi xứ người và tôi nghĩ rằng những gì ông lưu luyến, ôm ấp những lúc ông cô đơn nhất, thiếu thốn nhất cũng đã không còn hiện hữu. Ðời người là thế. Kỷ niệm, vui hay buồn, chỉ đẹp, chỉ có một thời vì ta không tìm lại được nó. Và nếu như ta có đầy phép thần thông để đi ngược dòng thời gian, trở về quá khứ thì ta cũng sẽ không thể nào tìm lại được những cảm xúc của một thời đã qua. Thế gian luôn thay đổi. Vì ngay cả chính chúng ta cũng thay đổi. Trước khi ra về, tôi theo cha tôi vào chùa lễ Phật, thắp nhang thầm cảm ơn đấng tạo hóa đã cho ông một cơ hội sống để làm lại cuộc đời. Nếu không thì cũng chưa biết tương lai của anh chị em tôi sẽ ra sao. Cũng có thể là tôi vẫn phải lam lũ ở đâu đó bên quê nhà gánh nước tưới cây sống qua ngày, không tương lai, không nhà cửa. Tôi bước ra cổng chùa trong gió chiều lồng lộng nhìn về biển Ðông ở phía xa và chợt nghĩ đến chữ Duyên trong cuộc sống. Ðúng là tất cả đều do một chữ Duyên mà ra. Ít có ai trong chúng ta có thể chủ động, kiểm soát được mọi khía cạnh trong đời. Nhất là đối với thế hệ của cha tôi. Cuộc sống đang sung túc, đầy đủ, bỗng nhiên ông mất tất cả. Mất nhà cửa, mất việc làm và mất cả gia đình yên ấm. Ông không là một tội đồ nhưng vẫn phải vào tù. Ông vào tù nhưng không biết ngày ra. Ðược tha ra nhưng ông lại không được trở lại nghề cũ. Ðể rồi bị hạch hỏi, bị ức chế đến cùng cực. Cuối cùng ông đã phải bỏ nước ra đi và có thể sẽ phải bỏ thây trên biển cả. Nếu không thì cũng chẳng biết khi nào ông mới có dịp sum họp lại cùng gia đình, vợ con. Không may mắn như thế hệ của chúng tôi, cả cuộc đời ông hình như chẳng lúc nào ông đã có thể làm chủ cuộc sống của chính mình, của gia đình mà ông đã mãi mãi mất cơ hội làm gia trưởng. Có lẽ vì thế mà ông đã cố gắng hết sức mình kiểm soát chặt chẽ cuộc sống của những người con ông. Mặc cho những lời phản đối của đám trẻ đang trưởng thành trong một nền văn hóa mới. Mặc cho những xáo trộn trong gia đình vì hoàn cảnh của một thời loạn lạc. Ông phải cố nắm chặt lấy nó. Vì ông không còn một sự chọn lựa nào khác. ‘Con, Hội’. Tôi quay lại và nhìn cha tôi đang chầm chậm bước ra cổng chùa đến đứng gần bên cạnh tôi. Ông xin được một lá xăm cho tôi và bảo tôi cầm lấy. Bỗng nhiên ông giơ cả hai cánh tay của ông và ôm tôi vào lòng. Lúc ấy tôi chỉ biết đứng lặng yên để cho ông ôm thật chặt. Hình như tôi nghe có tiếng khóc thầm của một người cha mà trước đó chưa bao giờ trong đời tôi thấy ông xúc động. Tôi nghe thấy hình như là ông đang cảm ơn tôi. Nhưng tôi phải cảm ơn ông mới đúng. Tôi phải có duyên mới được chia sẻ, được ở cạnh cha tôi ngày ông tìm lại được quá khứ đau buồn để khép nó lại mãi mãi. Tôi phải có duyên mới nhận thức được ngày hôm nay những mất mát to lớn trong cuộc đời của ông trong quá khứ mà tôi sẽ không thể nào hiểu thấu. Và nhất là tôi cần phải cảm ơn ông vì ông đã dùng mạng sống của chính mình để đi tìm một bến bờ mới cho riêng ông. Và cho cả riêng tôi. |
|
#16
|
|||
|
|||
|
Cây Trái Trong Vườn
Phan Lạc Phúc Hồi đầu năm 1992, khi chúng tôi ODP sang Úc được mấy tháng, hai vợ chồng già chúng tôi được tháp tùng con cái đi làm một việc bình thường nhưng nhiều ý nghĩa: đi xem nhà. Mấy đứa con chúng tôi tính bán cái nhà town house, mua một cái nhà đúng nghĩa ở Úc, có vườn trước vườn sau, ngôi nhà ở giữa, một thứ home sweet home. Xứ này đất rộng người thưa, ở những vùng ngoại ô, nhà cửa, vườn tược tha hồ rộng rãi. Có mấy cái nhà vừa với túi tiền khiêm nhượng của tụi nó nhưng mà embarras du choix, không biết chọn cái nào. Sau cùng, chúng chọn cái nhà vườn trước có cây đào, vườn sau có khá nhiều cây trái Việt Nam. Con gái tôi nói: “Tụi con đi làm vắng, bố mẹ có vườn đằng trước, đằng sau để bố mẹ trông nom, đỡ nhớ khu vườn Hóc Môn của bố mẹ”. Chủ cũ của gia đình này thuộc một gia đình VN thuần túy. Bà chủ nhà nói: Chúng tôi đi nhớ nhất là khu vườn sau. Chúng tôi trồng toàn cây trái quê hương, vừa có trái là đi, tiếc quá. Gia đình này chắc cũng giống gia đình chúng tôi, ở xa quê nhà, nên muốn có ít cây lá VN để phần nào đỡ nhớ nhà, nhớ nước. Vườn đằng trước, cũng như những nhà xung quanh có trồng cây, trồng hoa theo kiểu Úc. Bãi cỏ xanh có mấy cây gồi tỏa bóng, có cây đào cho trái, có hoa dạ lý hương và trước hiên nhà có những dãy hoa hồng, hoa cúc. Ở đây bác sĩ gia đình thường khuyên người già phải nên vận động hằng ngày. Đối với chúng tôi còn có sự vận động nào tốt hơn là tưới bón cho cây cỏ. Nhưng nói cho ngay, chúng tôi chí trông nom cái vườn đằng trước qua loa cho phải phép. Chúng tôi dành thì giờ và công sức cho khu vườn đằng sau. Ở nơi đây, dù là xứ Úc tại Nam bán cầu, tôi như thấy một góc trời VN thu nhỏ. Ngoài 2 cam trắc bá ở bên phải như 2 cái bút xanh chĩa thẳng lên trời, còn toàn là cây lá VN. Ở góc vườn có cây bưởi đang thời kỳ sung mãn, hoa lá tưng bừng rồi là đến một điểm nước có trang trí mấy hòn đá giả sơn (ý hẳn ông bà chủ nhà cũ theo quan niệm địa lý, ở cuối sân phải có điểm tụ thủy để cho tài lộc đừng trôi đi mất). Cạnh hòn giả sơn là cây cam, cây quít. Ở bên trái vườn là một dãy xanh um. Có 2 cây ổi, một cây ối xá lị trái lớn, cùi dày, một cây ổi lòng đào, quá nhỏ mà thơm. Cạnh đó là cây mận , gần Tết quả oằn sai trĩu trịt, những con chim két lông xanh. mỏ đỏ kéo đến ăn trái mận từng đàn. Rồi đến bộ bàn ghế gỗ xếp gần một cái lò barbecue kiểu Úc để khi nào có anh em bạn bè đến chung vui, ăn uống ngoài sân. Sau cái lò barbecue là cây mãng cầu dai, ngọt lịm, múi thật trắng, hạt thật đen. Rồi là một khoảng nhỏ trồng rau, mọc lền khên nào tía tô, rau dăm, dấp cá. Ở đằng sau, gần nhà xa ngõ, có một gia đình VN thì phải, vì nơi đó có trồng một dãy cây chuối, hoa chuối đỏ tươi, lá chuối rung lên phần phật theo từng cơn gió. Ở xa xa, một nhà nào đó trồng một cây jacaranda cao vút. Để cho gần gũi, tôi gọi cây jacaranda hoa tím là cây xoan cho “được việc”. Nơi đây, có đôi vợ chồng chim cu làm tổ, sáng, trưa, chiều gù cúc cù cu đều đặn. Đầu mùa Hạ, hoa jacaranda vẽ trên nền trời một màu tím nhớ nhung và lãng mạn giống như màu hoa xoan tím nhạt ở quê nhà. Tôi chợt nhớ mấy câu ca dao: Hoa xoan như thể cụm mây Sụt sùi nhớ bạn khóc ngày khóc đêm Bìm bìm luồn lách vườn em Anh theo con bướm vào xem mặt nàng Hoa cải vàng thật là vàng Còn như hoa mướp lỡ làng vì ong... Ở đây không có hoa mướp mà cũng không có cây mướp. Tôi định đi xin giống mướp về trồng nhưng mẹ cháu can ngăn mãi. Chắc bà ấy sợ vì tục ngữ ta có câu: Rách như sơ mướp. Thay vào đó tôi đi xin hạt giống cây Su su về trồng. Giống cây này khỏe lạ lùng, tăng trưởng rất nhanh. Chẳng bao lâu nó đã mọc kín hàng rào đằng sau và mọc lan tràn sang hàng rào nhà bên cạnh. Cây leo đến đâu trái mọc lủ khủ ra đến đó. Láng giềng nhà tôi bên trái là nhà ông Liban có mấy dứa con nhỏ. Bên phải là nhà ông Ăng lê. Trái su su mọc sang bên vườn nhà ông Liban được mấy đứa nhỏ nhà ông xin chúng tôi hái xuống cũng như chúng thường sang vườn nhà tôi “trèo lên cây ổi". Nhưng giây su su mọc tràn sang vườn nhà ông Ăng lê thì lại có chuyện. Một hôm, đã xế chiều, chúng tôi dang ở trong nhà, chợt có tiếng gõ cứa. Mở ra thấy ông Ăng lê, người hàng xóm. Ông mang theo một cái giỏ, trong đựng hàng chục trái su su khá lớn. Ông nói: cây trái nhà ông, xin mang trả . Tôi vội hàng xin lỗi và mong ông chia sẻ với chúng tôi chút cây trái vườn nhà. Tôi nhận thấy vẻ ngại ngùng của ông khi nhận mấy trái su su chúng tôi biếu tặng. Tôi nhớ lại khi còn ở Hóc Môn quê nhà, đến mùa chôm chôm, thứ cây mọc nhiều nhất trong vườn, chúng tôi thường chọn lúc đầu mùa, hái tặng bà con hàng xóm mỗi nhà một ít ăn "lấy thảo”. Chúng tôi cũng được ông bà hàng xóm tặng trái “sa bô chê” của vườn bên ấy. Ở quê ta sự trao đổi như vậy là bình thường, giữ tình lân lý, “bán anh em xa mua láng giềng gần”. Nhưng ở đây xứ Úc. người ta hết sức tôn trọng cái riêng tư. Cây leo nhà mình mọc qua vườn bên ấy là một sự “xâm phạm”. Một bữa, tôi lấy con dao chặt bó cây su su mà khe khẽ thở dài... Tiếng Chim Gù Có một người bạn đọc vì thương yêu mà tìm đến "Ông người Hóc Môn hả?”. Người bạn mới tưởng tôi là người đồng hương nên sốt sắng hỏi han. Tôi không sinh trưởng ở Hóc Môn nhưng tâm hồn tôi, ký ức tôi đầy ắp âm thanh, hình ảnh của khu vườn ấy. Năm 1978 khi “nhà nước ta” mở chiến dịch đánh tư sản thì gia đình tôi ở Sai gon bị đuổi đi kinh tế mới. Nhà tôi lúc trước ở chợ Hoà Bình; bà già vợ tôi vốn hay nhai trầu bỏm bẻm thường mua trầu, mua cau nên quen thân với mấy bà bán trầu cau ngoài chợ. Trầu cau là đặc sản của 18 thôn vườn trầu Hóc Môn. Lúc thời thế khó khăn, một bà bán trầu cau ngoài chợ, thân với bà già tôi mới nói "Hay là bà về Hóc Môn, tôi để lại mánh vườn bà ở tạm”. Ông bà nhạc tôi không có lối giải quyết nào khác nên sau đó dọn về Hóc Môn. Nhà tôi và mấy đứa nhỏ sống ở khu kinh tế mới không nổi nên cũng trôi dạt về ở nhờ ông bà ngoại. Khi đi tù được tạm tha về, tôi cũng xin "tạm trú” ở đấy luôn. Tôi trở thành người Hóc Môn là như thế. Khi về phải quản thúc 2 năm, đi đâu ra ngoài Hóc Môn phải xin phép, hằng ngày làm gì, gặp ai phải khai báo, ghi vào sổ, cuối tuần trình diện và nộp sổ cho Công an sở tại nên tiếng là được tha về mà đâu dám đi đâu, cứ quanh quẩn ở trong vườn. Tôi làm một cái lều giữa cây mít và cây chôm chôm, suốt ngày tha thẩn. Ở nhà thì con gái út tôi hằng ngày đi học, mẹ cháu thường đi chợ có hôm lại lên Saigon có việc, 2 ông bà nhạc tôi ở trong nhà nên chỉ. có tôi một mình lúi húi trong vườn. Trong tình trạng ấy, dù không muốn tôi cũng phải lấy thiên nhiên cây cỏ làm bầu bạn. Không phải chỉ có cây cỏ mà thôi, cả những sinh vật trong khu vườn ấy đối với tôi cũng thật là thân thiết. Sinh vật vừa gần vừa xa với mình nhất là mấy con chim. Lúc nào trong vườn cũng nghe, cũng nhìn thấy nó. Nghe lao xao đủ loại nhưng dần dần tôi nhận thấy thật sự trong khu vườn nho nhỏ của tôi chỉ có mấy mẹ con con chim sẻ ở đầu hồi dưới bóng cây chôm chôm và 2 vợ chồng con chim sâu nhỏ như 2 cái móng tay, di chuyển âm thầm trên cây mít. Chúa tể trong khu vườn ấy là đôi vợ chồng con chim chèo bẻo, cánh và đuôi nhọn hoắt, từ đầu đến chân đen tuyền như mực tàu óng ánh, bay vun vút như phi cơ chiến đấu "sì pit phai”. Có “hộ khẩu” thực sự trong vườn nhà tôi chỉ có mấy con chim đó. Nghe nói giống chim chèo bẻo đen này nhỏ mà thật dữ, chim nào cũng phải sợ. Mấy con chim chào mào, chim sáo giang hồ vặt đến khu vườn này thấy bóng vợ chồng chim chèo bẻo là cất cánh bay xa. Một hôm có một anh quạ đen lạng quạng đến kiếm ăn ở khu này, vừa đu mình trên ngọn tre cao là 2 vợ chồng chim chèo bẻo. con trước con sau ập đến. Chim quạ to là vậy mà kêu ầm lên “quạ quạ” rồi bay đi mất. Ở gần khu vườn nhà tôi là nhà chú Dinh, một gia đình đại điền chủ ngày xưa còn sót lại. Cái dinh cơ tòa ngang dãy dọc bây giờ đã được nhà nước quản lý, chỉ còn lại một dãy nhà ngang dành lại cho chủ nhân. Chú Dinh là một loại công tử vườn chính hiệu. Thời buổi xã hội chủ nghĩa mà chú Dinh vẫn nuôi một dãy hàng chục lồng chim cu. Từ nhà chú, sáng, trưa, chiều vọng ra tiếng cúc cù cu nhiều giọng khác nhau. Chú Dinh hào hiệp bảo tôi "Anh Ba có thích sang em xách một lồng về nghe cho đã". Tôi cảm ơn chú mà nói rằng “Thôi cứ để bên nhà chú, ở xa văng vẳng nghe nó gù càng thích”. Một bữa chú mời tôi đi “gác cu" với chú ngoài đồng. Chú vẫn thường đi lưới chim ở vùng ruộng rẫy xa. Tôi không dám đi một phần vì câu ca dao: “Ở đời có bốn cái ngu. Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”, nhưng cái ngăn cản tôi nhiều nhất là đi như vậy, trường hợp tôi là phải xin phép Công an, lôi thôi phiền phức quá. Chim cu thường gọi nhau, con chim này gọi con chim khác đến. Buổi xế trưa, tiếng cúc cù cu bên nhà chú Dinh vang lên gióng giả thì ở ngọn tre cao gần đó có một con chim cu khác bay đến đáp lời. Cúc cù cu trong nhà gọi tiếng cúc cù cu trên cao vọng xuống. Những tiếng chim gù cứ đối đáp nhau như vậy. Tôi nằm võng trong vườn, nửa thức nửa ngủ, nghe tiếng chim gù như gần như xa, vừa như thực vừa như trong mộng. Có một điều lạ là vợ chồng con chim chèo bẻo, chim nào đến đây nó đều đánh đuổi mà con chim gáy cúc cù cu kia lại như người khách được mời. Trưa nào cũng đến, tiếng chim gù cúc cù cu trở thành khúc nhạc nền thiên nhiên cho giấc ngủ của tôi. Trong tiềm thức tôi, phải chăng vẫn còn vang vọng tiếng chim gù cúc cù cu, con chim gáy ở quê hương Sơn Tây ngoài Bắc mà trên 40 năm nay tôi chưa có dịp trở về. Tiếng con chim gù ở quê hương tôi với tiếng cúc cù cu ở quê hương mới Hóc Môn không khác gì nhau, tuy hai mà một. Nó như một tiếng ru hời, tiếng nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu thẳm của quê hương xa vời và tiếc nhớ. Việt Nam, Việt Nam hai tiếng ngọt ngào Hai tiếng khẽ trong lòng tôi rất khẽ Hai tiếng dịu dàng âm vang nhè nhẹ Như giọt buồn tí tách những đêm mưa Như tiếng chim gù thao thức những giờ trưa Như tiếng gọi đò ơi trên bãi vắng... Lâu quá rồi mấy câu thơ trên tôi thuộc từ ngày còn niên thiếu, không nhớ là thơ của ai. Những câu thơ ấy càng trở nên tha thiết khi tạm dung trên xứ Úc này, tuổi mỗi ngày mỗi lớn, quê nhà mỗi ngày một xa. Ở đây cái gì cũng khác với quê hương nghèo đói của chúng ta, duy có tiếng chim gù cúc cù cu thì không khác. Thành nhiều lúc nằm giở thức giở ngủ ở Sydney, nghe tiếng chim gù trên cành phượng tím, tôi vẫn tưởng mình đang nằm đung đưa cái võng trong vườn cây trái Hóc Môn. Nghe tiếng chim gù càng thêm nhớ quê da diết... |
|
#17
|
|||
|
|||
|
Đường Mía Lau
Nguyễn Trần Diệu Hương (vietbao) Thời thơ dại , mỗi lần nghe câu ca dao dân gian: "Mẹ già như chuối ba hương, Như xôi nếp một, như đường mía lau" tôi vẫn nghĩ đến ... thức ăn (chuối ba hương, xôi nếp một, đường mía lau) nhiều hơn là nghĩ đến Mẹ (vì lúc đó Mẹ chưa đến tuổi bốn mươi, chưa già như trong câu ca dao dân gian nổi tiếng) Nghĩ như vậy, nhưng tôi không biết chuối ba hương là loại chuối nào, xôi nếp một có gì khác với xôi vò, xôi đậu xanh, đậu đen, xôi lá dứa...; và đường mía lau khác với đường cát trắng thường dùng để làm nước chanh, hay đường cát vàng để nấu chè đậu ván như thế nào? Thắc mắc đó cứ quanh quẩn trong đầu, nhưng tôi không dám hỏi ai, sợ người ta cho là mình tham ăn. Chưa kịp lớn lên để tự tìm hiểu ba món ăn chắc hẳn là ngon và qúy lắm nên mới được người ta so sánh với những bà Mẹ , người có trái tim và tấm lòng được ví von với kỳ quan đẹp nhất thế giới. Biến cố tháng 4/1975 như một cơn lốc cuốn đi nhiều thứ qúy giá của người dân miền Nam, nhưng không làm mất được câu ca dao ngọt ngào có Mẹ , có những món ăn mà mãi sau này, ở tưổi nửa đời người, tôi vẫn thắc mắc đó là những món nào? Mặc dù không biết được cả chuối ba hương, lẫn xôi nếp một, và đường mía lau như thế nào nhưng tôi chắc chắn cả ba món đó đều ngọt ngào cho vị giác, và không có tác dụng tai hại cho sức khỏe, như tấm lòng của tất cả mọi ba mẹ trên đời đối với con cái của mình Tôi có diễm phúc được lặn ngụp trong ngọt ngào của lòng Mẹ, trong sự bao che của Mẹ với chúng tôi như gà mẹ đối với bầy gà con hàng ngày trong suốt tuổi thơ. Nhiều khi quên mất mình đang được hưởng thứ hạnh phúc mật ngọt lớn nhất đời người. Mẹ là chị cả của các dì, cậu. Từ nhỏ Mẹ đã giúp Bà Ngoại lo cho các em, nên lúc nuôi chúng tôi sau này, Mẹ đã "dày dặn kinh nghiệm chiến trường” trong việc nuôi con nít, vì vậy chúng tôi lớn lên khỏe mạnh, dễ nuôi, không bị đau ốm vặt vãnh. Hồi đó, khoa học dinh dưỡng chưa phát triển như bây giờ, ở Mỹ, -thức ăn nào cũng có nutrition facts trên bao bì theo luật bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Nhưng bằng kinh nghiệm dân gian truyền từ đời này sang đời khác, Mẹ cho chúng tôi ăn thực phẩm có đủ màu: màu đỏ của củ dền, màu vàng của bí rợ, màu trắng của củ cải, màu xanh đậm của rau cải, dưa leo. màu xanh nhạt của bí bầu và mướp hương, mướp đắng..... Nhờ vậy, lớn lên chúng tôi có được thói quen tốt ăn trái cây và rau cải nhiều hơn thịt, cá hay đồ biển. Và do đó, tránh được nỗi ám ảnh của cholesterol, bệnh tiểu đường, bệnh cao máu, cùng tất cả thứ bệnh tật đến do thức ăn. Thời con gái, Mẹ là nữ sinh Đồng Khánh, tuy không phải là hoa khôi, nhưng cũng được tiếng dễ nhìn. Xã hội thời đó, thập niên 50s của thế kỷ hai mươi, đàn bà con gái, nhất là ở Huế, việc nấu ăn, may vá, thêu thùa, nội trợ được đặt trên học vấn rất nhiều, nên Mẹ nấu ăn rất giỏi. Sau này ở California, thỉnh thoảng cuối tuần đi ăn thử bún bò Huế ở nhiều nơi, chúng tôi vẫn thấy nhớ tô bún bò kiểu Huế chỉ lớn hơn cái chén một chút, có đủ màu sắc đỏ, xanh, vàng, thoáng thoáng mùi sả tươi mà Mẹ vẫn nấu cho chúng tôi ăn thủa nào. Những năm gần đây, chúng tôi, được Mẹ tận tình "truyền nghề bếp núc". Một trong những cô con dâu của Mẹ nói tiếng Việt nhiều khi không chính xác, nhưng mỗi lần về Việt Nam thăm nhà, mỗi ngày được Mẹ dạy nấu một món ăn. Khi qua lại Mỹ, mỗi lần có tiệc tùng, những món ăn học được từ Mẹ vẫn được mọi người hỏi là đặt ở nhà hàng nào? Rời trường Đồng Khánh, Mẹ đi làm ở Bưu diện. Công việc của Mẹ là trực điện thoại ở Tổng đài, vào cái thời đại mà điện thoại có dây, mỗi lần muốn gọi cho ai, phải quay từng số một trên cái đĩa tròn lớn có những vòng tròn nhỏ hơn , mỗi vòng tròn nhỏ là một con số từ 0 đến 9. Lập gia đình được vài năm, khi anh cả của chúng tôi ra đời, theo ý của Ba, Mẹ thôi việc, ở nhà làm nội tướng. Công việc ở nhà không tên, không tuổi, và không có giờ giấc cố định như đi làm Công chức, Mẹ vất vả hơn, nhưng bù lại có tiếng cười của anh chị em chúng tôi làm Mẹ vui hơn. Ba là lính nên những năm đầu tiên mới lấy Ba, Mẹ phải dọn nhà liên tục. Tưởng tượng cảnh Mẹ dọn nhà không có ai giúp, vì Ba vẫn đang miệt mài chinh chiến, con cái thì còn nằm nôi hay mới chập chững biết đi, tôi vẫn thán phục việc quán xuyến nhà cửa của Mẹ. Ông Bà Ngoại người Trung, thời con gái, Mẹ chỉ được rèn luyện nấu ăn kiểu Huế, món nào cũng cầu kỳ, hơi ngọt, và nhỏ xíu. Vậy mà khi lấy Ba, làm dâu Bà Nội là người Bắc, món ăn mặn hơn, kích thước cũng lớn hơn nhiều vậy mà chỉ sau chưa đầy một năm làm dâu, Bà Nội đã "cho điểm" nấu ăn của Mẹ rất cao. Lúc dọn nhà vào miền Nam, Mẹ học được thêm món canh chua nổi tiếng của người Sàigòn từ hàng xóm, nên chúng tôi lớn lên, tuy giống Ba, không đứa nào kén ăn, nhưng biết thưởng thức đủ cả ba món Bắc Trung Nam: từ vị mặn dịu dàng của món ăn đạm bạc canh mồng tơi ăn kèm cà pháo của miền Bắc, đến vị cay nồng của bún bò Huế miền Trung, và cả vị ngọt thanh của canh chua cá lóc miền Nam Lớn lên, do thời thế, phải nhận quê người làm quê hương, nhiếu khi ăn đồ ăn Mỹ thừa mứa chất dinh dưỡng nhưng thiếu hản vị đậm đà của món ăn Việt Nam , và không còn bàn tay nội trợ của Mẹ, lâu lâu chúng tôi vẫn "ăn hàm thụ" trong trí tưởng tượng những món ăn được Mẹ nấu ngày xưa. Và thấy Mẹ vẫn ở quanh mình chứ không phải xa cách cả một đại dương. Thời thơ dại, Ba Mẹ dạy chúng tôi bằng những câu ngạn ngữ , ca dao trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư nên anh chị em chúng tôi dù không biết quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư dày hay mỏng và màu gì nhưng đều thuộc tất cả ca dao, tục ngữ, kể cả những câu Hán Việt, vì nghe mãi, tự nhiên vô đầu, nằm luôn ở một góc của tâm hồn, và giúp chúng tôi giữ được cội nguồn Việt Nam dù đã rời xa quê nhà từ lúc bước vào tuổi hai mươi. không có Ba Mẹ bên cạnh. Không những chỉ lo cho chúng tôi, Mẹ còn quan tâm lo cho những người bạn học, bạn hàng xóm của chúng tôi đến nhà chơi thời đó. Còn hơn thế nữa, một vài người bạn của Ba Mẹ phải thuyên chuyển đơn vị hay sở làm giữa niên khóa, không muốn làm gián đoạn việc học hành của con cái, đôi lúc gởi con của họ đến nhà chúng tôi nhờ Mẹ trông coi những tháng còn lại của niên học. Có lúc bầy con nít trong nhà, kể cả chúng tôi, lên đến cả chục đứa. Vậy mà tất cả chúng tôi đều tươm tất đàng hoàng. Mãi về sau này, mấy chục năm sau, khi Ba Mẹ qua Mỹ thăm chúng tôi, những cậu bé thơ ngây ở tạm nhà chúng tôi thời nhỏ dại, đã trở thành những người đàn ông trung niên thành công, từng trải, vẫn thu xếp thời giờ rất qúy báu của họ, đến thăm Ba Mẹ, và vẫn nhớ ơn Mẹ đã trực tiếp lo cho họ rất chu đáo, bằng cả một trái tim của người Mẹ như lo cho chúng tôi, bầy con Mẹ đã mang nặng dẻ đau. Là con gái duy nhất trong nhà, giữa một bầy anh em trai, Mẹ thương tôi không có ai chơi những trò chơi của con gái, nên mỗi khi chọn người giúp việc nhà, Mẹ thường chọn người không lớn hơn tôi nhiều, mặc dù như vậy không có hiệu qủa nhiều như khi thuê một người trung niên. Mẹ là vậy, vẫn nghĩ đến người khác nhiều hơn là nghĩ đến bản thân mình. Những ngày tháng vất vả đi thăm nuôi Ba trên những chuyến tầu thống nhất xuyên Nam Bắc, người và hàng hóa chen chúc đến nỗi không có lối đi, không thấy sàn tàu. Lúc đó, chúng tôi còn nhỏ, không giúp gì được nhiều cho Mẹ, thông thường chỉ có một đứa được theo Mẹ ra Bắc thăm Ba, và thêm vào gánh nặng cho Mẹ nhiều hơn là đỡ đần cho Mẹ. Vậy mà có một lần thăm nuôi Ba ở trại Đầm Đùn (một trại tù chính trị có tiếng khắc nghiệt nhất Việt Nam), được người ta gọi bằng một cái tên văn hoa hơn là trại Nam Hà, ngoài đồ đạc thăm nuôi, và một đứa con còn nhỏ, Mẹ còn giúp thêm một bà cụ thân sinh ra một người bạn đồng ngũ của Ba từ trước năm 75, rồi thành "bạn tù" của Ba cả một thập niên dài. Sau này, ở Mỹ, mỗi lần mua gạo từ 25lbs (10kg) trở lên, tôi đã phải nhờ người khác vác giùm từ xe vào bếp. Tưởng tượng hình ảnh Mẹ lúc đó, cả áo quần và giày dép, chỉ cân nặng khoảng hơn bốn mươi kg; mà ngoài hai mươi kg quà bánh, thuốc men nuôi Ba, còn hai mươi kg đồ thăm nuôi đỡ đần giùm bà cụ đi cùng, đôi lúc lại còn phải nâng đỡ cả người già lẫn con nít, tôi thấy được tấm lòng của Mẹ bao la vô cùng, và tự thấy mình thua Mẹ rất nhiều về sức chịu đựng. Thời mới đến Mỹ, còn đi học, nghèo xác xơ, lái một cái xe rất cũ có số tuổi còn cao hơn tuổi của người lái, máy lạnh bị hư, máy sưởi lúc làm việc lúc không, radio tắt tiếng không bao giờ nghe được news hay nhạc khi đang lái xe, mỗi tối đi học về, tôi thường đi đường trong dài hơn thay vì đi đường xa lộ, vì nếu xe có bị hư dọc đường, đường nhỏ đỡ bị nguy hiểm hơn xa lộ. Vậy mà chúng tôi vẫn thấy mình hạnh phúc khi nghĩ đến chặng đường Mẹ đi thăm nuôi Ba, có đoạn phải di xe trâu (tôi không biết đó là xe gì, nhưng nghe tên gọi đã đủ thấy... .. hãi hùng!), có đoạn phải đi bộ trên đường rừng gập gềnh, chênh vênh. Vả chăng, lúc đó, chúng tôi dù mới đến Mỹ còn cơ cực, vẫn vui vì có cả một tương lai rộng mở ở quê người, trong khi Ba Mẹ ở quê nhà chịu nhiều gian lao mà không có ngày mai. Ngay từ lúc đó, Mẹ đã tập cho chúng tôi nghĩ đến người kém may mắn hơn, mỗi năm mỗi đứa "cho Mẹ xin" hai mươi dollars để Mẹ mua sách vở cho những em bé nghèo hiếu học ở Việt Nam, hay mua gạo cho những người già neo đơn và người tàn tật. Lúc đầu, chúng tôi gởi hai mươi dollars mỗi năm làm việc thiện, chỉ để cho Mẹ vui, mãi về sau, thành thói quen, và càng trưởng thành, chúng tôi càng hiểu mình phải có bổn phận giúp đỡ người không may , đúng như câu "lá lành đùm lá rách" đã được học từ thủa nào. Hai mươi dollars gởi về quê nhà hàng năm tăng theo cấp số cộng , và trở thành một hoạt động không thể thiếu mỗi năm của chúng tôi, như gương sáng mà chúng tôi đã thấy từ Ba Mẹ. Có một kỷ niệm về một lần chuẩn bị thức ăn đi thăm nuôi Ba ở trại cải tạo ngoài Bắc suốt đời chúng tôi không thể nào quên được. Hồi đó, cuối thập niên 70, đời sống khó khăn đến mức độ những thứ bình thường cho nhu cầu sống hàng ngày của con người cũng không có. mỗi lần gởi đường cho Ba, tôi phải dùng dao nhỏ cạo từng thỏi đường đến nát vụn ra, rồi vắt chanh tươi vào, đem phơi nắng, làm thành một thứ "kẹo chanh" rất thô sơ, mong Ba vừa có đủ chất ngọt, vừa có Vitamin C để sống còn trong các "trại học tập cải tạo" chỉ tồn tại trong xã hội chủ nghiã. Lúc đó, chúng tôi đang tuổi lớn, trong bối cảnh toàn xã hội đói nghèo, cơ cực, cũng thèm chất ngọt vô cùng, nhưng biết dùng ý chí thắng bản năng của mình, vì hiểu Ba cần đường vắt chanh hơn là mình. Duy có mỗi một cậu em út, còn ở những năm đầu Tiểu học lúc đó, vẫn len lén nhón vài nhúm đường chanh ăn thay cho bánh kẹo. Sau mỗi một ngày phơi đường vắt chanh dưới nắng gắt, đường khô dần, tôi phải cân lại để biết sẽ còn bao nhiêu trọng lượng còn lại cho những món khác mỗi lần gởi quà thăm nuôi cho Ba, vì nếu quá trọng lượng quy định, quà sẽ không đến tay Ba. Một lần cân lại đường vắt chanh, thấy trọng lượng bị giảm gần một nửa. Đoán là cậu em út là "thủ phạm.” Khi bị tra hỏi, em trả lời rất hồn nhiên, và ngây thơ: - Chắc mình phơi trên mái nhà, bị con mèo nhảy lên đó ăn bớt! Những đứa lớn chúng tôi và Mẹ đều cười thầm, vì loài mèo không bao giờ ăn thức ăn ngọt, nhưng Mẹ vẫn dịu dàng, từ tốn dặn dò: - Thôi lần sau, làm nhiều đường chanh hơn một chút, để trừ hao "mèo" ăn mỗi lần phơi đường trên mái nhà. Có những điều "không nói ra nhưng ai cũng hiểu chỉ có một người không hiểu", nên cậu em út còn non dại,vẫn tiếp tục ăn đường vắt chanh phơi trên mái nhà, thay cho bánh kẹo mà em không có; và con mèo vẫn mang tiếng oan . Điều đó vẫn nằm trong một góc ký ức của Mẹ và chúng tôi về những ngày không hề có cả một tia sáng lẻ loi ở cuối đường hầm dài hun hút tối tăm mù mịt như tưong lai của con cái những nguời tù chính trị vào đầu thập niên 80s. Và do vậy, Mẹ đành dứt ruột gởi chúng tôi, từng đứa một, ra biển để may ra nếu đến được bờ bến tự do, còn có tương lai, còn được học hành thành người. Sau này, nhìn lại, tôi vẫn phục và thương Mẹ đã hy sinh rất nhiều để chúng tôi có được ngày hôm nay. Đến phiên tôi mang chính sinh mạng mình ra đánh cuộc với định mệnh, với sóng gió trên biển Đông bao la, Mẹ đưa tôi ra bến xe liên tỉnh, hôm đó trời xanh tháng sáu mùa hè, nhưng "bão tố phong ba" nổi lên trong lòng cả hai mẹ con. Tôi bắt đầu hành trình xuyên qua đại dương từ bến xe liên tỉnh về Vũng Tàu,-mang theo hình ảnh Mẹ, mảnh mai, yếu đuối như một cây lau, nhưng có sức chịu đựng như một cây cổ thụ, đứng một góc bến xe,với cái xách tay rất cũ, gần sờn rách Mẹ đã dùng từ tháng 4 năm 1975. nhìn theo cái xe cũ kỹ mang tôi về hướng biển Vũng Tàu- không phải để đi nghỉ hè, đi tắm biển, mà để đi tìm tương lai, để được tự do học hành, và không bị xếp loại thứ mười bốn trong mười lăm thứ bậc của xã hội chủ nghiã. Hình ảnh Mẹ ốm yếu với cái xách tay duy nhất Mẹ đã dùng từ tháng 4/75, đứng bất động ở một góc bến xe, nhìn theo cái xe đò cũ kỹ mang tôi về hướng Vũng Tầu cứ quẩn quanh trong trí tưởng của tôi. Nên khi đã học hành xong, ổn định đời sống ở Mỹ, tôi không ngừng gởi về cho Ba Mẹ đủ loại Vitamin, và những cái xách tay đủ cỡ, đủ kiểu đủ hiệu từ rẻ tiền đến brand name mặc dù như từ bao giờ, Mẹ không đòi hỏi gì từ chúng tôi. Mẹ cũng chưa bao giờ dạy chúng tôi phải trả ơn cho Ba Mẹ nhưng cứ nhìn cách Ba Mẹ đối xử với Ông Bà Ngoại, và Bà Nội, chúng tôi hiểu mình phải làm gì để Ba Mẹ vui. Thế hệ của Mẹ, thế hệ của những người trạc tuổi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đàn bà con gái thời đó, nhất là đàn bà con gái ở Huế, rất thích bài "Diễm Xưa". Hồi nhỏ tôi vẫn được nghe bài này, nghe đi nghe lại rất nhiều lần mà... không biết mình có hiểu đúng ý của tác giả hay không, nhưng tôi vẫn nhớ mãi câu "..... làm sao em biết bia đá không đau...." và nghĩ là thế hệ lớn hơn mình, những ông cha bà mẹ, phải hy sinh rất nhiều, nhất là sau năm 1975. Đôi lúc tôi vẫn tưởng tượng dù bia đá cũng đau như ông nhạc sĩ có tài đã viết thành ca khúc, nhưng không bằng một phần nhỏ nỗi dau của những ông Cha, nỗi chịu đựng của những bà Mẹ Việt Nam, trong đó có Mẹ yêu qúy của chúng tôi trong những ngày khốn khó cuối thập niên 70s, đầu thập niên 80s Khác với thời thơ dại, bây giờ, mỗi khi nghe câu ca dao "mẹ già như chuối ba hương, như xôi nếp một như đường miá lau", tôi chỉ nghĩ về Mẹ, nghĩ về tấm lòng bao la hơn cả đại dương của Mẹ. Và không cần phải biết xôi nếp một, chuối ba hương, và đường miá lau ra sao, tôi vẫn tin là ba món ăn đó ngọt ngào và qúy hiếm , qúy như Mẹ của chúng tôi, như mỗi một bà Mẹ Việt Nam mà tấm lòng bao la hơn cả đại dương to rộng. Đâu có cần phải biết đường miá lau là gì, chỉ cần có Mẹ ở trên đời là mỗi một chúng ta đã có được vị ngọt dịu dàng nhất trên đời, Dù có lớn, có già đến đâu đi nữa, hạnh phúc lớn nhất trên đời vẫn là được nếm đường miá lau, được ăn chuối ba hương, được nhai xôi nếp một, và được cài bông hồng đỏ mỗi dịp lễ Vu lan-.Mother s Day của người Việt Nam. Cầu mong bông hồng đỏ nằm trên ngực áo của mỗi người sẽ tồn tại lâu dài, dài như sự hy sinh triền miên, không ngừng nghỉ của mỗi người Mẹ Việt Nam trong gian khổ cũng như trong an nhàn... |
|
#18
|
|||
|
|||
|
bữa cơm gia đình là nền tảng của hạnh phúc gia đình
|
|
#19
|
|||
|
|||
|
Nhật Ký Ngày Giỗ Cha
Trần Trung Đạo Hôm nay là ngày giỗ cha tôi. Ngày đánh dấu ba mươi lăm năm chìm nổi của đời tôi. Ba mươi lăm năm là một quãng đời dài. Thế nhưng, tất cả chi tiết, hình ảnh về ngày bất hạnh đó vẫn còn nguyên vẹn. Buổi chiều cuối năm trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Gần cuối bữa cơm đạm bạc như mọi ngày, cha tôi dừng đũa nhìn tôi và nói: “Ăn Tết xong, con xuống Viên Giác ở với thầy ăn học”. Tôi “dạ” đáp lời. Thật sự tôi không hiểu cha tôi nói như vậy có ý gì. Chiến tranh tuy đã lan rộng đến những vùng chung quanh, tiếng đại bác vọng về, màu hỏa châu soi sáng dọc bờ sông nhưng làng tôi cho đến đêm tháng Chạp 1968 vẫn còn tương đối thanh bình. Tại sao tôi phải bỏ đi? Tại sao đang sống bình an với gia đình, tôi lại phải xuống chùa Viên Giác, mãi tận Hội An, để ăn học? Tôi biết cha tôi là đệ tử thầy Viên Giác. Ông rất kính trọng bổn sư và đã vài lần đưa tôi đến thỉnh an thầy. Thầy Viên Giác rất thương tôi. Thầy là Đặc Ủy Thanh Niên của Tỉnh Giáo Hội nên thường tổ chức các buổi văn nghệ lớn tại nhiều nơi trong tỉnh. Mỗi lần văn nghệ, thầy thường cho gọi Gia Đình Phật Tử Duy Xuyên, trong đó có tôi, đi theo. Thế nhưng, dù thân thiết bao nhiêu đi nữa, việc xuống ở luôn với thầy ăn học, như cha tôi dặn dò, là điều, trong trí óc thơ ngây của tôi, chưa bao giờ nghĩ tới. Cha tôi thì sao? Căn nhà thân yêu, ngôi trường xinh xinh và giòng sông nhỏ của tôi thì sao? Tuy thắc mắc trong lòng nhưng tôi vẫn dạ khi cha tôi dặn dò. Như một thói quen, tôi vẫn “dạ” nhiều lần trong những đêm khuya khi cha tôi ru tôi ngủ bằng những câu chuyện buồn nhiều hơn vui của đời ông. Cha tôi không giải thích lý do tôi phải ra đi và tôi cũng chẳng hỏi gì thêm. Nhưng buổi sáng hôm sau tôi mới biết ra rằng bữa cơm tối hôm qua là bữa cơm cuối cùng của cha con tôi trong căn nhà nhỏ ở Duy Xuyên. Lời dặn dò của cha tôi “Ăn Tết xong xuống Viên Giác” trở thành lời trăn trối của ông. Cha tôi ra đi trong đêm tối trời tháng Chạp năm đó. Một viên đại pháo rớt vào căn nhà tranh của chúng tôi, nổ tung tuổi thơ tôi thành nghìn mảnh vụn, chặt đứt đi của tôi một tàng cây che mát cuối cùng, chỗ dựa thiêng liêng duy nhất mà tôi có trên thế gian này. Tôi thức dậy sau tiếng nổ với một thân hình đầy máu. Không phải máu của tôi nhưng là máu của cha tôi. Cha tôi ra đi không kịp nói với tôi thêm một lời nào khác ngoài những dặn dò sau buổi cơm chiều. Tôi áp ngực để nghe nhịp tim, vẫn còn đập nhưng vô cùng yếu ớt của ông. Cha tôi ra đi giữa lúc tuổi đời tôi còn quá nhỏ. Mười ba tuổi. Ông đến một nơi, tôi không chắc là đâu nhưng có một điều tôi tin, ở đó sẽ không có chiến tranh, không bom đạn, hận thù, nghèo đói, bịnh tật, những độc dược đã tàn phá gia đình tôi, và bao nhiêu thế kỷ hủy hoại đến mức tận cùng sinh lực của đất nước tôi. Bao nhiêu năm qua, mỗi khi nghĩ về lời dặn dò của cha, tôi cảm nhận được trong đó sự kỳ diệu của tình người. Cha tôi phải ra đi nhưng đã tìm một nơi ông yên lòng nhất để gửi gấm tôi. Mỗi ngày, mỗi đêm, mỗi giờ, mỗi sát na mà tôi đang sống, cha tôi, qua hình ảnh một cơn gió nhẹ, một áng mây trên nền trời xanh, bao giờ cũng ở gần tôi, che chở cho tôi trong những cơn hoạn nạn, vực tôi đứng dậy sau những lần vấp ngã. Tôi không nghĩ những lời dặn dò, trăn trối của cha là một điều siêu nhiên huyền bí. Tôi không tin cha tôi đã biết trước điều bất trắc sẽ xảy đến cho ông. Nhưng tôi cũng không nghĩ đó chỉ là những lời nói bâng quơ, ngẫu nhiên, vô tình, vô cớ. Phải chăng đó là một trách nhiệm tinh thần và máu huyết thiêng liêng giữa cha và con, giữa con người và con người trong trùng trùng nhân duyên với nhau từ bao nhiêu kiếp trước cho đến kiếp này. Tất cả đã thúc dục ông lo lắng, thúc dục ông chọn lựa và buộc ông nói những lời dường như cũng không phải của chính ông. Sau một thời gian sống với cô tôi ở Đà Nẵng cho đến hết trận Mậu Thân tàn khốc, tôi vào Vĩnh Điện học lớp đệ ngũ ở trường Duy Xuyên, lúc đó đang dạy nhờ tại trường Nguyễn Duy Hiệu. Sang niên học mới, tôi xuống Hội An và tìm đến chùa Viên Giác. Thầy Viên Giác, sau khi nghe câu chuyện thương tâm đã nhận lời cho tôi ở lại. Tôi không bạch với thầy lời cha tôi dặn vì tôi biết ông sẽ cười và gõ vào trán tôi mà nói “ai dạy con bài học chiến tranh tâm lý này sớm thế”. Ở Viên Giác, ngoài giờ đi học và kinh kệ, ngoại trừ thầy trụ trì, từ các thầy, chúng điệu cho đến đám trẻ con có tóc như tôi đều được giao một công việc để làm mỗi ngày. Là một trong những người nhỏ nhất, năm đầu, tôi được giao công việc lau bàn thờ và bàn ghế trong giảng đường. Giảng đường chùa Viên Giác khá lớn. Những bộ trường kỹ dài, được đóng theo lối cổ và chạm trổ công phu, không một vết bụi vì rất ít được dùng. Công việc tôi làm như là một hình thức để trả cái ơn thứ ba, ơn cơm gạo của chúng sinh, trong Tứ Ân của Phật Giáo, hơn là lao động nặng nề. Chính giữa giảng đường là bàn thờ các Thánh Tử Đạo đã hy sinh vì Đạo Pháp trong mùa pháp nạn 1963. Dọc bức tường dài là di ảnh hàng chục thánh tử đạo Phật Giáo, từ chân dung Bồ Tát Quảng Đức, Hòa Thượng Tiêu Diêu, Đại Đức Thiện Mỹ, nữ sinh Quách Thị Trang cho đến anh Văn Bá Hoành, huynh trưởng Gia Đình Phật Tử quận Duy Xuyên của chúng tôi. Anh Hoành là người ở ngay trong tỉnh Quảng Nam và là đệ tử của thầy Viên Giác nên cái chết của anh được kể lại một cách chi tiết và rõ ràng hơn cả. Một đêm tối trời trước ngày 1 tháng 11 năm 1963, một số người lạ mặt gõ cửa nhà huynh trưởng Văn Bá Hoành, kê súng và bắt anh đi. Tuần sau, gia đình tìm được xác anh trên một cồn cát cách nhà vài cây số. Hai tay anh bị trói bằng dây kẽm gai, mắt anh bị bịt chặt. Theo lời thân nhân, các thầy và các huynh trưởng Gia Đình Phật Tử đi nhận dạng anh, anh không bị bắn chết. Thay vì, từ những vết máu khô còn đọng trong đôi mắt, tai, mũi, họ nghĩ rằng, những người lạ mặt đã ném anh Hoành vào trong một bao bố, trói chặt và chôn sống anh trên bãi cát Tây An. Anh có tội gì để phải chịu đựng hình phạt thảm khốc đầy đau đớn như vậy? Một nông dân nghèo. Một huynh trưởng chăm sóc cho Gia Đình Phật Tử quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Một người chồng, một người cha chỉ biết vất vả sớm trưa để nuôi bầy con còn nhỏ dại. Chị Hoành sau ngày anh bị giết, buôn tảo bán tần vẫn không lo lắng nổi cho mấy đứa con, đành đem gởi trong chùa. Một trong những người con anh, một thời gian, đã được thầy Viên Giác đem về nuôi nấng như tôi. Và ở đó, trong giảng đường chùa Viên Giác, mỗi buổi sáng, đúng 6 giờ, tôi thức dậy để lau bàn thờ và bàn ghế trong giảng đường. Mỗi khi lau xong bàn thờ Thánh Tử Đạo, tôi dừng lại một chút, nghiêm cẩn cúi đầu trước giác linh của những vị đã hy sinh để đạo Phật được đối xử một cách bình đẳng như mọi tôn giáo khác trong cộng đồng dân tộc. Những lúc như thế tôi bắt gặp đôi mắt của huynh trưởng Văn Bá Hoành nhìn xuống tôi. Có khi nghiêm trang. Có khi hiền dịu. Có khi đỏ au màu máu. Tôi nghe như có tiếng anh cười. Tiếng còi anh thổi thật nhanh trong những trò chơi lớn. Tiếng anh rên tức tưởi đau thương trong bao vải. Tiếng anh van xin như con nai cố thoát ra chiếc bẫy của người thợ rừng. Tiếng anh gọi vợ, gọi con ai oán trong đêm khuya giữa bãi cát trắng hoang vu. Mỗi buổi sáng lúc 6 giờ. Anh nhìn xuống tôi như muốn dặn dò, trao gởi những điều anh chưa kịp nói. Anh nhìn xuống như để mong tôi sẽ giúp anh tìm câu trả lời mà người giết anh, có thể đã bận lo bịt mắt, siết dây, nên không kịp trả lời. Họ là ai và tai sao họ phải giết anh. Trong giảng đường chùa Viên Giác tôi đã hứa với anh. Vài tháng một lần tôi được phép về Đà Nẵng thăm cô tôi, người gần gũi nhất còn lại của tôi lúc bấy giờ. Cô tôi bịnh thường xuyên. Cái chết của gia đình người chị họ tôi, con thứ bảy của cô, và rồi cái chết của cha tôi, em trai út của cô, đã làm căn bịnh của cô ngày thêm trầm trọng. Chị Bảy, chồng, và con gái bốn tuổi chết khi chiếc xem lam họ ngồi chạy qua một trái mìn cực mạnh được đặt trên đường lớn chạy từ trạm Nam Phước lên chợ Quận Duy Xuyên. Thân xác họ bị mìn xé tan nát thành hàng trăm mảnh nhỏ. Các anh họ của tôi phải đi dò tìm trong những thửa ruộng hai bên đường để nhặt từng cái đầu, từng cánh tay, từng chút thịt. Tất cả được bỏ chung trong một cái nia lớn, sau đó chôn cất trong nghĩa địa gần nhà. Cô tôi có vẻ vui hơn trong những lúc tôi về. Biết tôi suốt tháng ăn chay nên dù rất nghèo, cô cũng ráng mua sắm thêm chút cá thịt cho bữa ăn. Cô thức khuya hơn, dặn dò tôi hàng trăm việc. Cố gắng nhịn nhục. Cố gắng chịu đựng. Cố gắng học hành. Cô hỏi thăm từng việc lớn nhỏ trong chùa tôi đang tá túc. “Bà Chín có còn chửi mắng con không? ” “Không, bà Chín chết rồi” “Sao vậy? ” “Xe tông chết”. “Có ai đánh con không? “Không”. “Có ai bắt con làm chuyện gì nặng nề không? ” “Không”. “Thầy có biểu con đi tu không? ” “Có, nhưng không phải thầy Viên Giác”. “Thế ai biểu con? ” “Thầy Giải Nguyên”. “Thầy Giải Nguyên là ai? ” “Đệ tử của thầy Viên Giác ” “Con trả lời thầy Giải Nguyên sao? ” “Con nói con không muốn đi tu. ” “Thầy nói gì thêm? ” “Thầy nói đi tu sẽ được các thầy lo lắng ăn học, mai mốt lớn sẽ được đi Huế hay Sài Gòn học thêm. Không đi tu chẳng lẽ ở trong chùa này hoài hay sao. Chùa chỉ dành cho người đi tu thôi, đâu có thể nuôi con hoài như vậy được”. “Thế con trả lời sao? ” “Con không biết trả lời sao vì không biết nếu thầy đuổi sẽ đi đâu, nhưng con nhất định không đi tu”. “Thầy hay hỏi thế không hay chỉ hỏi một lần? ” “Nhiều lần nhưng tháng nầy thì không hỏi nữa vì con đã bạch với thầy là con nhất định không đi tu”. “Con đừng bỏ đi. Nếu thầy đuổi thì về Đà Nẵng ở với cô”. “Nhưng ở Đà Nẵng với cô thì chỉ đi bán cà-rem hay đánh giày chứ làm gì có trường công để học”. “Ừ thì lúc đó hãy tính”. “Con phải đi học”. “Cô biết, nhưng lúc đó hãy tính, giờ còn đi học được thì phải lo học”. “Dạ” Hai cô cháu tôi thường ngồi như thế rất lâu trong căn nhà nghèo nàn phía trong Ngã Ba Huế. Một đứa bé bất hạnh ngồi bên người đàn bà bất hạnh trong một đất nước bất hạnh. Thỉnh thoảng cô đưa bàn tay gầy guộc cầm lấy tay tôi sợ rằng đứa cháu trai của cô sẽ khóc. Tôi không khóc. Cô không khóc. Không có hay vì không ai còn giọt nước mắt nào để nhỏ trong những đêm tôi về thăm cô. Nếu có chăng chỉ là những giọt nước mưa từ buổi chiều còn đọng trên mái tranh nghèo, như những nốt nhạc buồn, gõ từng nhịp đều vào chiếc lu hứng nước ngoài sân. Ở Hội An những năm đầu tôi không có bạn. Bạn chân tình của tôi, ngoài hai cây đa già mà tôi đã nhiều lần viết về trong những bài tâm bút khác, chỉ còn là những vì sao trên nền trời. Những đêm hè, tôi và nhiều chú điệu khác, thường ôm chiếu ra trước hiên chùa nằm ngủ. Sân chùa rộng, lát gạch, những chậu hoa nhiều loại được đặt chung quanh một hồ sen nhỏ. Các điệu nằm xuống là ngủ ngay. Hồn nhiên như những giọt sương sớm trên cành. Tôi chưa hề nghe các chú than van. Không chú điệu nào thắc mắc tại sao chú phải đi tu, tại sao chú không được đi thả diều, đuổi bướm, đá banh như nhiều đứa bé cùng tuổi trong xóm. Dường như với các chú, tu hành không phải chỉ bắt đầu vài tháng, vài năm mới đây thôi nhưng là để nối tiếp một hành trình dở dang từ kiếp trước. Tôi thì khác. Tôi phải sống ở đây chỉ vì không còn một nơi nào khác để dung thân. Tôi đang chiến đấu để tồn tại trước bao nhiêu bất hạnh của thế gian đang đè xuống đôi vai nhỏ bé của tôi. Những đêm khuya im vắng tôi ngồi dưới hiên chùa ngắm hàng vạn vì sao mọc kín vòm trời. Một cảm giác lạ kỳ, vừa ấm cúng nhưng cũng vừa cô độc, vừa rất thực nhưng cũng vừa hư huyễn thường đến với tôi trong những đêm khuya khoắt như thế. Tôi chọn một vì sao nhỏ, lẻ loi và xa xôi nhất trong dải thiên hà bát ngát để làm bạn với mình, để chia xẻ những buồn vui bắt gặp trong ngày. Tôi tâm sự với sao những chuyện thầm kín nhất. Những chuyện tôi chưa từng nói với ai và, dù tôi muốn, cũng chẳng có ai gần gũi để cùng san sẻ. Như thầy Giải Nguyên có lần đã cảnh giác, nếu không đi tu, sớm hay muộn, tôi cũng phải ra khỏi nơi nầy. Tôi biết. Tôi biết. Dù thế gian này là giả tạo và mộng tưởng, dù khoảnh khắc tôi đang sống là vô thường hay hữu thể, thì con đường dài sâu hun hút phía bên kia cổng tam quan chùa Viên Giác vẫn là con đường có thực. Con đường đầy gai gốc kia, một ngày không xa, trong cuộc đời này, tôi phải dẫm lên, tôi phải đi qua. Những đêm gió mát, tôi thường nằm hàng giờ lắng nghe tiếng lá rung xào xạt, hồn đuổi theo những mơ ước riêng tư của lứa tuổi đang bắt đầu mơ mộng. Tôi mơ về một mái nhà ấm cúng. Một gia đình. Một người chị. Một đứa em. Một người bạn. Một chiếc xe đạp. Một thôn xóm thanh bình. Tôi mơ thấy cha tôi về. Vẫn chiếc áo cánh đen như ông thường mặc. Vẫn giọng hát bộ điệu Nam Ai buồn não nuột mỗi đêm trong căn nhà tranh nhỏ. Vẫn với hình ảnh của người thợ dệt vải nghèo nàn ở làng Mã Châu, mỗi ngày dệt dày thêm những sợi buồn phiền vào cuộc đời vốn đã nhiều cay đắng của mình. Những đêm như thế, tôi nhớ lại hình ảnh chiếc trực thăng quân đội mang cha tôi đến một bịnh viện dã chiến mà tôi không biết tên, với hy vọng cứu sống cuối cùng. Tôi nhớ đến đôi tay người lính Mỹ ôm tôi lại để khỏi bị cuốn theo sức hút từ chiếc trực thăng đang cất cánh. Chiếc trực thăng bay xa, bay xa, nhỏ dần, nhỏ dần và mất dạng bên kia hàng dương liễu. Tiếng gọi cha của thằng bé mười ba tuổi bị át đi bởi tiếng máy trực thăng. Không ai nghe. Không có tiếng trả lời. Tiếng thét của tôi, như một viên sỏi nhỏ rơi vào biển cả, không tạo nên chút sóng, không để lại một âm vang nào. Và như thế cha tôi đi. Ra đi vĩnh viễn trong cát bụi mịt mờ. Tuổi thơ của tôi, từ hôm đó, như chiếc lá non bị cuốn vào cơn bão lửa mịt mùng của thế kỷ. Mỗi ngày 22 tháng Chạp, tôi tự mình đọc kinh cầu siêu cho cha. Không ai biết, ngay cả chính tôi, đó là ngày giỗ cha tôi. Và ở đó tôi lớn lên. Lớn lên trong tiếng chuông chùa nhẹ đưa vào đúng 5 giờ sáng mỗi ngày. Lớn trong những lời Phật dạy “Hãy bao dung và tha thứ’ đi nhẹ vào tâm hồn ngây thơ trong trắng của tôi. Lớn lên trong tiếng lá đa xào xạt suốt mùa thu viết vào hồn tôi những vần thơ buồn, mãi ba mươi năm sau mới dần dần kết tụ. Và tôi cũng lớn lên dưới ánh sao của những đêm hè nằm nghe tuổi hoa niên thổn thức. Tháng 8 năm 1972, tôi lạy Phật ra đi, sau lưng cánh cửa chùa cũng vừa khép lại. Hôm nay ngày giỗ cha tôi. Ba mươi lăm năm trong một đời người. Từ Mã Châu, xuống Hội An, ra Đà Nẵng, vào Sài Gòn và chiều nay giữa xứ người trong mùa đông Boston giá rét. Con nước nhỏ dưới chân cầu Vĩnh Điện, Câu Lâu ngày xưa đã trôi xa thẳm. Trôi xa hàng vạn dặm. Những người thân yêu nhất trong thời hoa niên khốn khổ của tôi không còn nữa. Thầy Viên Giác đã viên tịch. Cô tôi đã chết. Cô tôi mất khi tôi còn ngồi trong tù vượt biển ở Bạc Liêu nên không kịp về Trung để tang cô. Ra tù tôi lại phải lo vượt biên lần nữa. Ngồi trên thành ghe tôi đau xót nhớ về cô. Ngày xưa tôi thường nói với các anh chị họ, nếu cô chết tôi sẽ không bao giờ về lại Mã Châu. Thế mà thật. Hai mươi hai năm rồi từ ngày cô tôi chết, hai mươi hai năm tôi vẫn chưa về lại Mã Châu. Tôi nhớ vô cùng bàn tay gầy guộc, chiếc áo cánh màu nâu cô thường mặc, nụ cười héo hon trong mỗi lúc thấy tôi về. Văng vẳng bên tai tôi những lời hỏi han, dặn dò, lo lắng của cô “Có ai đánh con không?”, “Có ai chửi mắng con không?” Tôi bao giờ cũng trả lời không để cô vui, dù mỗi ngày trên con đường tôi qua, biết bao người đã chửi mắng tôi, đã bao người xô tôi ngả. Hôm nay, nếu cô tôi còn sống chắc là cô vui lắm. Thằng cháu mồ côi mười ba tuổi của cô đã sống sót, đã có gia đình, vợ và ba cháu rất ngoan. Giấc mơ thời niên thiếu tuy vẫn còn xa, vẫn chưa thành sự thật nhưng cháu của cô đã làm được một điều quan trọng mà cô dặn dò: “Hy vọng để mà sống, cố gắng để vươn lên, học để làm người có ích”. Nhánh lau non bên bờ sông Thu Bồn ngày xưa, còn đứng được sau cơn bão lửa triền miên dài hơn một phần tư thế kỷ. Ba mươi lăm năm sau. Tôi đã tìm ra và đã bắt được kẻ đã chôn sống anh Hoành. Tôi cũng đã tìm ra và bắt được kẻ đã bắn viên đại pháo vào căn nhà tranh thân yêu của tôi trong đêm tháng Chạp năm 1968. Tôi đã tìm ra và bắt được kẻ đã đặt trái mìn trên con đường dẫn lên chợ Quận Duy Xuyên ngày trước. Tôi đã tìm ra. Vâng, nhưng tôi cũng đã thả họ đi. Tôi thả người du kích đặt mìn và những người đã bắn viên đại pháo đi chỉ vì họ không phải là chính phạm. Chính phạm đã gây ra bao nhiêu thảm họa cho đất nước tôi, không phải từ những bàn tay, những viên đại pháo, những bẫy mìn, mảnh đạn nhưng là những tư tưởng phản dân tộc, nô lệ, vong bản, ngoại lai độc hại, bằng nhiều ngã, nhiều thời điểm, nhiều cơ hội đã cấy vào con người Việt Nam, xâm nhập vào suy nghĩ Việt Nam và qua đó, điều khiển hành động của một số người Việt Nam, nhất thời, có quyền lực trong tay. Những nọc độc văn hóa đó gần một thế kỷ qua đã biến bao nhiêu con người Việt Nam thật thà chơn chất thành những kẻ sát nhân, biến tâm hồn Việt Nam đầy ắp thi ca, với những ngày mới lớn “rất đậm hương và rộn tiếng chim” để có thể một ngày, nhẫn tâm hạ bút “giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ”. Đất nước, vì thế, hơn bao giờ hết đang đối diện với một nhu cầu cách mạng từ căn bản. Không phải cách mạng xã hội chủ nghĩa hay kinh tế thị trường. Không phải cách mạng khoa học kỹ thuật hay kinh tế chính trị mà là cách mạng con người. Phục hưng Việt Nam phải bắt đầu từ việc phục hưng con người Việt Nam. Tôi cũng đã thả những người siết dây anh Hoành đi, bởi vì, trong lúc sợi dây oan nghiệt phải tháo từ cổ anh Hoành nhưng cũng không nên dùng nó để buộc vào cổ người khác, và càng không nên buộc vào cổ con cháu họ. Tôi không thể nhân danh việc trả thù cho cái chết oan ức của anh Hoành, nhưng thật ra chỉ để trút cơn thù hận của riêng mình lên thế hệ hôm nay. Đạo Phật là đạo của tình thương, bao dung và tha thứ. Lời thầy dạy ngày xưa: “Tinh thần Phật Giáo giống như tấm lòng của mẹ đất, chịu đựng bao sức nặng và lỗi lầm của nhân loại mà không hề than van, oán trách, vẫn đem đến cho đời niềm vui và sức sống”. Ba mươi lăm năm, những bài học đầu tiên đó còn in đậm trong tâm hồn tôi. Anh Hoành đã trọn nghiệp. Dân tộc đã trọn nghiệp. Bóng tối của lạc hậu, rẽ chia, thù ghét nhỏ nhen phải được xua tan bằng ánh sáng của cảm thông và đối thoại trong một tinh thần tương kính trên một đất nước Việt Nam văn minh và khai phóng. Những con sông Gianh trong lòng người phải cần được lấp lại. Lấp lại bằng cảm thông chứ không phải bằng những bãi xương khô, những cánh đồng nhuộm máu. Người Việt Nam cần được nghe tiếng chuông chùa nhẹ đưa, tương tự như cũng cần được nghe tiếng chuông nhà thờ thánh thoát. Hãy trao cho các thế hệ tương lai Việt Nam một cơ hội để được sống trong hòa thuận, bao dung, tha thứ. Tại sao phải mang theo một gánh nặng của phân hóa, rẽ chia, hoài nghi, mặc cảm, trong lúc dân tộc Việt Nam đang cần một đôi cánh để bay cao, để vượt qua ao hồ quá khứ, để mong đuổi kịp nhân loại, đã nhiều thế kỷ, tiến xa về phía trước? |
|
#20
|
|||
|
|||
|
"Tôi biết câu nói ngắn của ông phản ảnh tấm lòng u uẩn của một trí thức khi đắp tấm “chăn kháng chiến” vào rồi mới thấy rận ở chăn nhiều quá, tung ra thì mang tiếng bỏ anh em đồng đội, cắn răng chịu đựng thì hậu quả sau này cũng chẳng hay ho gì." (Vũ Ánh)
"Khi chúng tôi ngồi bên bờ hồ Ðại Lãi, anh Châu giơ tay chỉ cái đảo có đông chim di trú thường sống ở đó, anh Bảo, "hoặc là cô chết hoặc là cô sẽ đến được cái đảo đó, còn chúng tôi thì không bao giờ đến được nơi đó, vì chúng tôi đã già rồi và chúng tôi đành cam chịu những gì mà người ta cư xử với chúng tôi". (Dương Thu Hương) Bố Tôi Vũ Ánh Tôi mới từ Cùa (tiền sơn Quảng Trị trở về sau một cuộc hành quân kéo dài đến ba tuần lễ. Cuộc rong ruổi trong vùng đất đỏ và gió Lào với những người lính của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh suốt thời gian ấy chỉ để di chuyển, đóng quân, ăn ngủ trong rừng, rồi đi theo một sĩ quan của đơn vị này trên chuyến trực thăng liên lạc về đến Ðông Hà, để có thể viết một cái tin ngắn khoảng mười dòng đọc về Sài Gòn qua điện thoại quân sự của tiểu khu Quảng Trị. Rồi bản tin ấy sẽ được người chủ bút sắp xếp vào hạng thứ ba hay thứ tư trong bản tin dài năm phút, phát thanh vào lúc năm giờ sáng trên làn sóng điện quốc gia lúc mọi người thành phố còn say ngủ. Vội vã chìa thẻ báo chí ra tại phi trường Ái Tử để kiếm một chỗ ngồi trên chiếc phi cơ vận tải quân sự C-130, xuống Phi Long, lội bộ ra đón xích lô từ Lăng Cha Cả, ngừng trước phở Công Lý, gọi một tô tái nạm vè giòn, hút một điếu Bastos xanh rồi chiêu một ngụm cà phê đen bỏ ít đường, một ly cà phê được pha rất điệu nghệ bởi tay một trong những cô con gái của chủ tiệm phở này. Cuối cùng, lại “bắt” xích lô về chợ Cây Quéo. Một pha tắm giặt, cạo râu đã đời trong một phòng tắm tiện nghi là chuyện trong tầm tay rồi. Nhưng khi mở xong ổ khóa nhà, mới thấy một miếng giấy cứng có chữ viết nắn nót của bố tôi: “Khi nào về, đến bố bảo”. “Ðến bố bảo...” có nghĩa là có thể ông cần tôi giúp dịch một thư chữ Anh mà hãng dĩa ở một đất nước xa tít tắp ở bờ bên kia Thái Bình Dương báo cho bố tôi biết giá cả mẫu của một bộ dĩa hát 78 tua nhạc jazz của Benny Goodman; hoặc ông cần tôi chia sẻ với ông những món quê mùa nhất của cái đất Thủy Nguyên (Hải Phòng), quê hương chôn nhau cắt rốn đã xa, ôi quá xa của chúng tôi. Ðó là món bún mắm tôm và đậu hũ bọc lá chuối nướng, hoặc là bún riêu cá chứ không phải là loại canh chua phong phú như người trong Nam được nấu giản dị hơn: cá bống hay cá chim, hành ngò, thìa là, cà chua (có một chút váng mỡ), một chút me. Ông anh cả và thằng em kế tôi, thì quyết liệt không bao giờ chịu chia sẻ với bố tôi những món ăn quê mùa ấy. Chỉ có tôi là còn thưởng thức được cái quá khứ xa xăm của thói quen ăn uống ấy. Không phải vì tôi thương mà chìu ông, một ông bố không bao giờ tìm cách gột rửa chất phèn của đồng chua nước mặn nơi ngôi làng nhỏ ông được sinh ra, chỉ cách bến Ðò Bính có mười cây số, dù rằng suốt đời ông thấm đẫm Tây học. Chính bản thân tôi cũng rất thích những món “đặc sản” của bố tôi. Chẳng hạn, nhiều lần ông phải đạp xe đạp lên tận ngả tư Bảy Hiền, vào một lò bún của một gia đình gốc Phát Diệm đặt làm những “lá bún” (chế biến sao cho những sợi bún xếp thành những bánh hình tròn), sợi nhỏ mịn và khi bún ráo nước được xếp vào những miếng lá chuối đã rửa và lau sạch. Bố tôi đích thân ra chợ kiếm tôm bạc thật tươi đem về để chế biến mắm tôm của người Bắc (trong Nam gọi là mắm ruốc). Mỗi lần như vậy ông làm khá nhiều hũ để mang biếu bạn bè ông, một vài hũ để cho ông và cho mẹ tôi dùng nấu bún thang hay kho với thịt ba chỉ bằm. Ông cụ còn mua đậu hũ về ép cho ráo nước, bọc lá chuối nướng trên lò than, lá chuối cháy xém nên khi dỡ ra, miếng đậu cháy vàng mặt ngoài. Mắm tôm được vắt chút chanh, đánh cho sủi bọt, thêm ớt. Bún ăn với mắm tôm và đậu hũ nướng, rau thơm. Làng nhỏ của bố tôi có cái tên rất đẹp, Phương Lăng, nhưng lại là một làng nghèo, đất canh tác ít nên số gia đình khá giả rất hiếm. Bà nội tôi chỉ có mười mẫu ruộng thôi, phần lớn ở gần tận chân Núi Ðèo, cấy lúa cũng mùa mất mùa được mà rồi cũng trở thành một trong số mười người chết trong chiến dịch đấu tố ruộng đất. Cho nên, trong cảnh nghèo ấy chuyện thịt thà, mỡ dầu một năm cũng chỉ vài lần vào dịp lễ Tết, thành thử cái món đậu bọc lá chuối nướng ăn với bún mắm tôm trở thành “đặc sản” của quê tôi. Tôi tắm vội, thay quần áo và lấy xe đạp sang thăm bố tôi, không quên mang theo hộp xì gà tôi mua được ở Ðà Nẵng về tặng bố. Căn nhà mà tôi thuê chung với bạn bè cách nhà bố mẹ tôi chưa đầy năm phút đạp xe. Ðẩy cửa vào nhà, chỉ thấy bố tôi ngồi trong phòng khách với một chồng đĩa hát 78 và 33 tua rất quen thuộc với anh em chúng tôi thời còn học ở Chu Văn An. - “Mẹ đâu bố. Bố khỏe không?” Tôi hỏi. - “Ừ vẫn thường. Mẹ mày lên Phương Lâm thăm mấy bạn của bà ấy. Thằng anh mày dẫn học trò đi du khảo ở Nha Trang. Còn út (em tôi) nó bị Quân Y trưng tập đã phải vào Thủ Ðức thụ huấn quân sự rồi. Con đi kỳ này hơi lâu, bố rốt ruột nên để cái giấy ngoài cửa chứ không có gì quan trọng.” - “Con lại tưởng bố la mắng con điều gì chứ nên vội sang đây.” Tôi đưa hộp xì gà cho bố và nói: - Con biết bố thích loại nặng này, đặc sản ở La Havana. Hoàn toàn bằng lá thuốc Cuba cuộn. Mà bố biết con mua ở đâu không? Ở ngay chợ quân đội Mỹ trong Trung Tâm Quốc Gia Báo Chí của Mỹ ở Ðà Nẵng.” - “Lạ thật, Cuba là xứ cộng sản. Chúng nó (Mỹ) vừa chống cộng lại vừa buôn bán với cộng à. Bố không hiểu nổi.” Tôi ngồi xuống cạnh bố tôi, nhìn mái tóc gần như đã bạc trắng của ông, lòng bỗng chùng xuống. Năm đó, bố tôi mới gần 60, về hưu được năm năm vì tuổi hưu pháp định của công chức vào thời điểm ấy là 55. Lẽ ra bố tôi có thể xin lưu dụng và tiếp tục đứng ở bục giảng môn Pháp văn thêm ít ra cũng 5 năm nữa, nhưng ông không làm điều đó. Trước ngày về hưu, ông tổ chức bữa cơm gia đình để con cái chúc mừng và cũng là dịp để bố tôi đưa ra một thông điệp cho chúng tôi trước khi ông vui thú điền viên (mẹ tôi nghỉ hưu trước vì bà hơn bố tôi 4 tuổi). Bài “diễn văn” của ông hôm đó cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ từng chữ một, và còn nhớ cả những dòng nước mắt xúc động của chính mẹ tôi và chúng tôi. Tôi xin viết ra ở đây, những lời của một nhà giáo, mà khi ghi lại vào lúc này tuổi đời của tôi đã gần 65, vì nghĩ nó có thể có ích cho một số bạn trẻ bây giờ. Bố tôi nói với chúng tôi và những người anh em họ đồng thời cũng là học trò của bố mẹ tôi hôm đó như thế này: “Thế hệ bố mẹ đang có một chỗ dành riêng cho mình. Ðó là nơi để bố chuyển tất cả những kinh nghiệm cho một thế hệ giáo chức mới như thằng cả (anh cả tôi), một thế hệ mà cho đến bây giờ phải đối mặt với cả hai khó khăn lớn: chiến tranh tàn phá và việc trồng người đầy nhân bản và xây dựng ở trong Nam. Bố cho rằng trồng người không phải chỉ làm sao cho đám học trò của mình đạt được bằng cấp và bằng cấp cao, mà chính là làm sao cho họ trở thành một người có giáo dục, có cách cư xử tốt và ngay thẳng với mọi người. Mới hay cũ chung quy chỉ là cách so sánh với những gì đã có trước đó. Một thế hệ trẻ hơn tất phải có cái mới hơn so với cái cũ, nhưng căn bản thực ra phần nhiều vẫn chỉ dựa trên cái nền cũ rồi phát triển sửa đổi theo sự phát triển của khoa học và xã hội mà thôi. Dù biết rằng chỉ còn thằng cả theo nghề giáo, một điều bố mong ước là các con dù có theo nghề nào khác cũng không nên chặt bỏ các gốc cây cổ thụ trong khu vườn của các con. Vì, những gốc cây ấy còn một ích lợi cuối cùng trong đời sống của chúng là giúp các con leo cao hơn để thấy bầu trời trong xanh hơn, thênh thang hơn...” Bố tôi hỏi, cắt ngang những hồi tưởng của tôi: - “Suy nghĩ gì mà thừ ra thế. Ngày hôm qua bố kiếm được một cuốn trinh thám Pháp, rất mới ở hàng sách cũ chỗ nước mía Viễn Ðông. Có nhiều ghi chú đặc biệt về Moscow.” - “Bố đọc xong bộ Z-28 của Bùi Anh Tuấn chưa? Cũng được lắm, có nhiều ghi chú mà con chắc là bố thích.” - “Bố đọc hết rồi, chờ ông ấy lâu nữa mới có cuốn kế tiếp. Giữa thời gian gián đoạn này bố đọc loại trình thám của Tây cũng được.” Bố tôi không phải là một người chơi sách. Ông chỉ đọc những gì cần đọc. Căn phòng nhỏ dành cho bố mẹ tôi rất nhỏ, làm gì còn khoảng không gian nào cho những kệ sách. Bố tôi giải quyết bằng cách xếp lên cái bàn viết trong góc phòng. Ông chế những cái chặn hai đầu và xếp chồng lên nhau. Căn nhà bố mẹ tôi tuy nhỏ nhưng hoàn toàn làm bằng gỗ, hai tầng, mái lợp tôn có trần. Vì ở tầng trên, sàn lại bằng gỗ nên mẹ tôi chỉ sợ bố tôi tha nhiều sách về, nặng làm sập xuống thì nguy, nên bà cằn nhằn chồng hoài. Ông giải quyết chuyện này bằng cách thuê đóng những chiếc rương lớn để ở dưới phòng thằng em tôi. Ðọc tới đâu, ông xếp vào rương tới đó. Bố tôi lại cắt dòng suy tưởng của tôi: - “Ði đâu thì chiều cũng về ăn với bố.” - “Thôi bố, chiều nay từ đài về, con đón bố đi ăn.” - “Nếu con bận với bạn bè thì thôi, còn nếu không thì về ăn với bố, có thịt đông, dưa chua và canh mồng tơi.” Buổi chiều, làm xong công việc, tôi trở về nhà ăn cơm với bố tôi. Ông tự tay làm những món mà tôi thích. Món nào cũng tươm tất và ngon miệng. Xong, tôi dọn dẹp rửa chén bát rồi ra phòng khách uống cà phê với bố tôi. Tôi giục ông hút thử xì gà tôi mới mua biếu ông thì bố tôi nói để ngày hôm sau vì không ai uống cà phê mà hút xì gà cả. Thay vào đó ông đốt một điều Gaullois, một loại thuốc lá đen, rất nặng do Pháp sản xuất. Khoảng bốn thập niên trước đây, thuốc Gaullois chưa có đầu lọc và bao ngoài sang trọng như bây giờ. Bố tôi giải thích: - “Ðây là loại thuốc đen, nhưng ngon hơn Bastos xanh nhiều. Ngày xưa, thời Tây, Gaullois được phát không cho quân đội Pháp. Nhiều thằng chê nặng không hút được đem vất đầy đường nên gọi là thuốc “Tây quăng”. Thời bố mới lấy mẹ mày thì tập hút JOB đỏ, rồi sau chuyển sang hút Gaullois. Khi di cư vào Nam, không có Gaullois nữa bố hút lại JOB đỏ. Gần đây bố tìm ra được loại Gaullois này ở các quán thuốc lá trước Bưu Ðiện.” Bố tôi chợt hỏi sang chuyện khác: - “Thế nào, tình hình liệu có khá hơn không?” - “Con không đủ dữ kiện để có thể kết luận khi Mỹ đổ quân vào thì khá hơn, vẫn thế, hoặc bết hơn. Nhưng theo con, vẫn có quan ngại về ảnh hưởng xã hội. Ở Ðông Hà trước đây không có bar rượu, nhưng bây giờ thì bar rượu mọc lên như nấm, gái mại dâm đổ về đây hàng đoàn.” - “Ðất nước chiến tranh đành chịu. Thời Pháp cũng vậy. Bọn Tây đi đến đâu là có nhà chứa ở đó. Những cái mụn nhỏ ấy sẽ lan ra và sẽ làm ung thối mọi ngõ ngách của xã hội. Mình là người cổ cày vai bừa nói sao được, mà có nói cũng chẳng ai nghe. Bố ưu tư về chuyện này vô cùng.” Hai bố con ngồi nói chuyện thời sự cho đến khuya. Tôi ngủ lại vì sợ nhà đi vắng hết, đêm hôm khuya khoắt có gì xảy ra cho ông, tôi sẽ ân hận suốt đời. Tuy nhiên, phải nói chưa bao giờ tôi nói chuyện với bố tôi lâu như vậy, một phần cũng để san sẻ với ông nỗi băn khoăn giữa quá khứ và hiện tại. Quá khứ của ông là một cuộc kháng chiến chống Pháp mà ông đã lao mình vào. Ông đem cả vợ con lên chiến khu Việt Bắc, nhưng rồi ông lại đem gia đình trở về thành rất sớm. Thời chúng tôi còn học trung học, có lần ông vui miệng kể lại chuyện ông phải trốn về thành như thế nào, những người bạn của ông trong Việt Nam Quốc Dân Ðảng đưa ông về Hải Phòng ra sao. Lúc đầu, là thanh niên mới lớn, chúng tôi cũng không quan tâm gì về quá khứ của ông vì cho rằng nó chẳng liên quan đến thế hệ của chúng tôi lúc ấy. Trong mớ kiến thức non nớt về lịch sử, tôi cho rằng thời bố tôi là thời Tây, thời kháng chiến. Còn ở vào thế hệ của chúng tôi, những người miền Bắc lớn lên ở Miền Nam, thì mọi điều đã có sẵn, mọi luồng tư tưởng mới mẻ nhất từ Hoa Kỳ và từ những nơi khác cũng đã đủ sức “làm một cuộc cách mạng đánh đổ ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp”. Tôi hãnh tiến bước vào trường Luật với những môn học mới mẻ. Nhưng đến môn Pháp Chế Sử (tôi nhớ không lầm do Giáo Sư Vũ Quốc Thông dạy), chúng tôi lại phải lật lại trang sử của mấy ngàn năm trước và phải nghiên cứu chế độ xã thôn Việt Nam từ thời cổ đại. Thế hóa ra, chúng tôi vẫn có mối liên hệ với quá khứ từ khi ông cố tổ chúng tôi mới chỉ là “hạt bụi vo tròn trong bụng mẹ”? Khi vào nghề truyền thông rồi, sau khi đã bị đời tát cho năm bảy tát, nhân một dịp ngồi uống cà phê với bố tôi, tôi đã hỏi ông tại sao trong không khí bừng bừng kháng chiến chống Pháp lúc đó mà bố lại bỏ về thành, ông chỉ nói: “Họ (Việt Minh) không thành thật”. Tôi biết câu nói ngắn của ông phản ảnh tấm lòng u uẩn của một trí thức khi đắp tấm “chăn kháng chiến” vào rồi mới thấy rận ở chăn nhiều quá, tung ra thì mang tiếng bỏ anh em đồng đội, cắn răng chịu đựng thì hậu quả sau này cũng chẳng hay ho gì. Tôi đoán có lẽ cũng vì thế mà khi ông bị ám sát hụt lúc gia đình tôi đang ngồi ăn trong một tiệm mì ở phố Ðông Kinh, Hải Phòng năm 1951, dù ông biết tên sát thủ thuộc ban ám sát của Việt Minh ở Hải Phòng mà cô ruột tôi lúc đó rất có ảnh hưởng với đám này, ông vẫn coi như không có gì xảy ra. Bố tôi cũng không làm đổ vỡ thêm tổ chức của cô tôi, như lời bố tôi đã tiết lộ khi anh em chúng tôi đủ tuổi trưởng thành. Thảm kịch giữa anh em ruột của bố tôi không phải chỉ có thế. Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, cô, chú tôi lại còn ở phía những người thắng trận, trong khi anh em chúng tôi vào tù. Họ đã bị bố tôi mắng khi họ vào thăm bố tôi trong Nam. Ngày tôi đi tù cải tạo trở về, mẹ tôi kể lại rất chi tiết vụ cãi cọ giữa bố tôi và cô, chú tôi. Mẹ tôi thì bao dung hơn. Bà nói với tôi: “Mẹ không hề nhờ vả cô, chú mày bất cứ một điều gì, kể cả việc nhờ dẫn mẹ vào thăm nuôi anh em mày trong tù cải tạo. Nhưng bố mày vẫn là anh ruột và tao vẫn là chị dâu chúng nó. Khi tao không thèm nhờ đứa nào, thì còn gì để sợ nữa để mà không giữ trọn tình máu mủ với nhau”. Những năm sau này (1969) ông mở một lớp dạy học ngay trong nhà, lúc đó đã thành căn nhà gạch sau khi căn nhà gỗ đầy kỷ niệm của gia đình tôi bị thiêu rụi hồi Tết Mậu Thân. Học trò là con cái của những gia đình nghèo trong xóm. Nói cho ngay, đây là một lớp dạy kèm thì đúng hơn, một lớp dạy cho vui trong cuộc sống hưu trí của bố tôi. Tuy vậy, bố tôi tổ chức lớp học rất quy củ. Ông cũng cho thi xếp lớp dù cái “trường” nhỏ này chỉ có trình độ: lớp nhì (lớp 4) và nhất (lớp 5). Trước khi bắt đầu giờ học, ông khám sách vở, khám tay học trò. Sách vở bị cong mép hay vấy mực, tay dơ dáy, móng tay không cắt ông bắt về nhà hay đổi sách vở khác, cắt móng tay, rửa tay thì được vào lại lớp học. Thấy bố tôi tận tụy với từng đứa học trò, mà học phí chỉ tượng trưng, gia đình nào nghèo thì miễn học phí, phụ huynh các xóm bên cũng kéo đến xin học cho con rần rần. Nhưng ông vẫn chỉ nhận tối đa mười người cho đến khi ông bạn đánh cờ tướng hàng xóm của bố tôi cho mượn căn phòng bỏ trống phía sau nhà ông làm lớp học thì sĩ số tăng lên hai mươi người. Cuộc sống của một người về hưu như bố tôi êm đềm như thế cũng làm chúng tôi rất mừng. Ai cũng ngại tính tình ông thay đổi vào tuổi già gây khó khăn cho con cái. Nhưng không. Người quyết định mọi việc trong gia đình lúc bố tôi nghỉ hưu là anh tôi. Bố mẹ tôi ít khi còn có ý kiến gì liên quan đến cuộc sống riêng tư của anh em chúng tôi nữa. Có lần tôi thắc mắc nên hỏi mẹ tôi: “Bố có giận gì tụi con không mà không thấy bố bàn tán vào chuyện lấy vợ hay không của anh cả vậy?” Mẹ tôi cười: “Ông ấy nuôi dạy chúng bay thân vóc học hành cho đến bây giờ mà còn chưa nên thân nữa hay sao. Bọn bay bây giờ chỉ có một câu duy nhất cần nói với bố: con đưa bố vài ngàn để bố tiêu vặt hay đi bác sĩ. Nói xong là phải móc ví ra liền, thằng nào chậm tao bắt chìa tay đánh cho vài thước”. Lời của mẹ tôi làm tự nhiên tôi thấy cay mắt. “Trường” của bố tôi lẽ ra đóng cửa từ ngày 26 Tháng Tư 1975 vì phần đông phụ huynh đều đích thân đến tận nhà bố tôi để xin cho con nghỉ vì tình hình rối ren. Nhưng thực sự nó được đóng cửa vào sáng ngày 30 Tháng Tư 1975, khi hai cậu học sinh nhỏ là Thịnh và Hổ khóc mếu máo gõ cửa vào gặp bố tôi. Chúng khoanh tay nói: “Thưa thầy, chúng con xin thầy cho chúng con nghỉ học. Ba má con đi đâu đến nay vẫn chưa về nhà”. Mẹ tôi giữ hai đứa học trò ở nhà tôi cho đến ngày 3 Tháng Năm 1975 khi bố mẹ chúng hớt hải sang nhà tôi tìm con. Thì ra lúc hoảng loạn, cả hai vợ chồng chạy Honda ra bến Bạch Ðằng thăm dò đường đi nước bước. Thấy còn chỗ, họ nhảy lên một chiếc tàu hải quân. Nhưng khi ra đến Lòng Tảo mới chợt nghĩ là mình còn hai đứa nhỏ bị kẹt lại. May, khi ra tới Vũng Tàu, chiếc tàu tạm dừng lại để đón một số gia đình hải quân, họ mới xuống được một trong những chiếc ghe chở các gia đình này để vào bờ. Phải mất mấy phùa đánh đu xe đò mới về tới Sài Gòn. Khi tôi từ trại cải tạo về cuối năm 1988, hai anh em Thịnh, Hổ đã thành người lớn. Mẹ tôi nói: “Nó là hai đứa đại diện cho học trò những lớp dạy kèm của bố mày khênh quan tài ông ấy vào năm 1983, sau khi ông ấy mất”. |
![]() |
| Đang xem chủ đề này: 1 (0 thành viên và 1 khách) | |
| Công cụ | |
|
|