|
#41
|
|||
|
|||
|
Quảng Bình: Tuyển “lậu” hơn 1.000 cán bộ, giáo viên
Quảng Bình: Tuyển “lậu” hơn 1.000 cán bộ, giáo viên
TintucOnline Trích:
Gia Lai, Lâm Đồng đột biến học sinh bỏ học Trích:
Chỉnh sửa lần cuối bởi dingo vào 21-04-2007 lúc 02:48 PM |
|
#42
|
|||
|
|||
|
Giáo dục Canada
Người Canada luôn đặt chất lượng cao đối với nền giáo dục và hỏi các trường học phải đạt chất lượng cao nhất. Canada đầu tư cho hệ thống giáo cao hơn bất cứ quốc gia nào khác trong khối G7. Bằng cấp do các trường đại học của Canada cấp được khắp thế giới công nhận. Vì thế, học sinh quốc tế tốt nghiệp từ các trường đại học Canada sẽ có một sự nghiệp đầy triển vọng và thành công.
Nhiều năm qua, kết quả khảo sát của Liên Hiệp Quốc cho thấy Canada là nơi sinh sống tốt nhất trên thế giới. Canada dành được số điểm rất cao về việc tiếp cận với giáo dục, triển vọng cuộc sống cao (do hệ thống chăm sóc sức khoẻ toàn diện), tỷ lệ bạo hành và tội phạm thấp. Các thành phố lớn nhất ở như Vancouver, Toronto và Montreal được công nhận là thành phố cấp thế giới để sinh sống và làm việc về môi trường an ninh và sạch sẽ, về những hoạt động văn hoá và phong cách sống hấp dẫn. Ngành giáo dục Canada có giá cả cạnh tranh Học tập ở Canada không miễn phí, nhưng có thể trang trải được. Giá trung bình đối với học sinh nước ngoài trong một năm học (8 tháng) trong chương tŕnh khoa học tự nhiên hay văn khoa là 7.100 đô la Canada (4.765 đô la Mỹ). Một nơi an toàn để học tập Canada nổi tiếng là một xã hội yên ổn, công bằng và an toàn. Tỷ lệ tội phạm đã giảm đều đặn kể từ thập niên 90. Không giống như nước láng giềng Hoa Kỳ ở phía Nam, vũ khí là thứ được quản lý nghiêm khắc và thường bị cấm ở Canada. Hệ thống giáo dục hoàn hảo Hệ thống giáo dục Canada gồm có trường công lập và trường tư thục từ mẫu giáo cho đến đại học. Giáo dục thuộc trách nhiệm của tỉnh theo hiến pháp Canada, có nghĩa là có nhiều khác biệt giữa hệ thống giáo dục của các tỉnh khác nhau. Tuy nhiên, tiêu chuẩn khắp đất nước đều cao một cách đồng bộ. Nói chung, trẻ em Canada theo học mẫu giáo một hoặc hai năm vào lúc 4 hoặc 5 tuổi trên cơ sở tự nguyện. Tất cả trẻ em bắt đầu học lớp 1 vào lúc 6 tuổi. Năm học thường bắt đầu từ tháng 9 cho tới tháng 6 năm sau nhưng trong một vài trường hợp, tháng 1 cũng có thể là ngày nhập học. Các trường trung học lên đến lớp 11, 12 hoặc 13 tuỳ theo các tỉnh. Từ đây học sinh có thể theo học đại học, cao đẳng hay cao đẳng nghề. Cégep là chữ viết tắt tiếng Pháp của Cao đẳng phổ thông và dạy nghề và là 2 năm phổ thông hoặc 3 năm giáo dục kỹ thuật giữa bậc trung học và đại học. Giáo dục chất lượng cao Các cơ sở giáo dục không được chính thức xếp hạng ở Canada, vì tất cả các cơ sở giáo dục Canada đều có các chương trình đào tạo có chất lượng cao. Khi chọn trường học của bạn ở Canada, hãy xem xét loại trường, cỡ trường và vị trí của trường. Nếu bạn quan tâm vào một ngành học đặc biệt nào đó, bạn hãy kiểm tra xem trường nào có nhiều ưu điểm hơn trong ngành học đó. Một quốc gia công nghệ cao Canada là một quốc gia hàng đầu thế giới về công nghệ thông tin và máy tính và nổi tiếng về sự xuất sắc trong các lĩnh vực viễn thông, vận tải và cơ khí, đặc biệt là hàng không vũ trụ, giao thông đô thị, vi điện tử, y cụ, phần mềm cao cấp, thuỷ điện, năng lượng hạt nhân, laze và quang điện tử, công nghệ sinh học, chế biến thực phẩm và thức uống, địa toán, công nghệ môi trường và đại dương. Đỉnh cao trong công nghệ viễn thông Canada bao gồm cáp CANTAT 3 của hăng Teleglobe, là hệ thống đầu tiên của loại này trên thế giới. Canada cũng là một trong số các nước đầu tiên trên thế giới nhận ra nhu cầu kết nối các trường học và thư viện vào Internet và chương trình SchoolNet của Canada đang được sao chép trên thế giới. Chương trình SchoolNet của Industry Canada đă làm cho Canada trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới kết nối trường học và thư viện vào xa lộ thông tin một cách thành công. Đất nước song ngữ Canada là đất nước song ngữ có hai ngôn ngữ chính thức, tiếng Anh và tiếng Pháp. Đại đa số (75%) cư dân nói tiếng Pháp của Canada sinh sống ở tỉnh Québec, tọa lạc ở phía đông Canada nhưng cũng có nhiều cộng đồng nói tiếng Pháp trên khắp đất nước. Là một quốc gia song ngữ, Canada đưa ra chương trình đào tạo chất lượng cao về tiếng Anh như sinh ngữ hai (ESL) và tiếng Pháp như sinh ngữ hai (FSL) cho học sinh muốn học một trong hai hoặc cả hai ngôn ngữ này. Mức sống cao Người dân Canada hưởng mức sống vào hàng cao nhất thế giới. Trên 65% dân Canada có nhà riêng với tỷ lệ cao sở hữu các sản phẩm tiêu dùng như xe hơi, tủ lạnh, máy giặt, máy truyền hình, điện thọai, máy truyền thanh. Môi trường hiếu khách Canada là quốc gia của dân nhập cư và vừa có truyền thống và chính sách khuyến khích sự đa dạng của nền văn hoá đa sắc tộc. Hầu như mọi sắc tộc trên thế giới đều hiện diện ở Canada. Vì vậy hầu hết các lọai thức ăn, các hoạt động giải trí cùng với nền văn hoá đặc thù của các dân tộc cũng sẵn có ở Canada. Các câu lạc bộ, kể cả không chính thức và các hiệp hội, tiêu biểu cho phần lớn bản sắc các dân tộc cũng dễ dàng tiếp cận. Nhân viên tư vấn cho học sinh quốc tế tại các trường học có thể giúp học sinh tiếp xúc với cộng đồng này. Tất cả trung tâm đô thị chính đều có siêu thị, nhà hàng, rạp hát, phòng trưng bày nghệ thuật và viện bảo tàng. Các thành phố ở Canada cũng có nhiều công viên, vườn cây và băi biển phục vụ công cộng, cũng như các trang thiết bị giải trí và thể thao tuyệt hảo. Thiên nhiên đẹp Người dân Canada đánh giá cao về môi trường thiên nhiên của họ. Hiện nay có 39 công viên và khu bảo tồn quốc gia ở Canada, tọa lạc khắp các tỉnh và vùng lănh thổ. Học sinh đến Canada sẽ chứng kiến một trong số các môi trường thiên nhiên đẹp nhất thế giới. |
|
#43
|
|||
|
|||
|
Đối với tụi Đức thì Canada và Phần lan có hai nền giáo dục tiêu biểu cần được học hỏi. Có điều tụi nó khen hoài, mà chả thấy tụi nó bắt chước cái gì.Tuy nhiên cái bài này viết hơi thiếu nội dung. Khen thì thật nhiều mà chả thấy giải thích là do đâu ra. Bác VNDanchu mà viết lại bài này thì chắc là nó sẽ hoàn hảo hơn nhiều.
|
|
#44
|
|||
|
|||
|
mình trích về " giáo dục Canada "cho mọi người tham khảo.riêng mình ít nghe ng V kể về Canada và kg biết sự giáo dục,đời sống bên đó thế nào. Đọc theo bài này và cũng biết qua 1 chút về cảm nghĩ về vndanchu và ng Canada.họ là ng Bắc Mỹ nhưng có lẽ sự suy nghĩ Âu châu dữ lắm
VNdanchu có thể kể thêm về Canada nữa được không . |
|
#45
|
|||
|
|||
|
62 tuổi đậu tiến sĩ
Chân Dung Một H.O. Huy Phương (nguoi-viet) LTS. - Anh Chị Em cựu tù nhân chính trị sang định cư tại Hoa Kỳ theo các danh sách H.O. từ năm 1990 đến nay, người đầu tiên lâu nhất là gần mười lăm năm, người trễ nhất cũng đã đến đây được sáu bảy năm. Gia đình, công việc coi như đều đã ổn định, nhưng số phận đã đem mỗi con người đi theo những con đường khác nhau. Sang đây, tùy cuộc đời đưa đẩy, có người đi học lại có cấp bằng để gia nhập vào đời sống Mỹ một cách dễ dàng, có người chịu làm nghề tay chân để sống qua ngày, không ít bạn xoay sang các ngành nghề thương mãi, cũng có người xuống tóc xuất gia ngày đêm kinh kệ...Sau bao nhiêu năm lao tù, đói khát, nhọc nhằn, sang đến đây, sức tàn lực kiệt, đã có rất nhiều người hiện đang đang nằm trong nursing home hay đã qua đời. Chúng tôi hy vọng, trong khả năng hạn hẹp, sẽ tìm hiểu và vẽ lại chân dung đa dạng của những người anh em mà chúng ta tạm gọi là những người H.O. Nguyễn Ngọc Sẳng sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Tân Chánh, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Thuở nhỏ ông theo học trường làng, vào trung học mới về được trường Quận, cấp hai mới lên Saigon theo học tại trường Chu Văn An. Năm 1962, mới đậu xong tú tài phần 1, phận nhà nghèo, không thể tiếp tục đi học, ông thi vào trường Sư Phạm Saigon khóa hai năm, về dạy trường tiểu học ở Vũng Tàu, rồi lấy vợ tại đây. Ba năm sau, 1967, Nguyễn Ngọc Sẳng bị động viên khóa 24 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ra trường ông đổi về phục vụ tại Tiêu Khu Long Khánh và giữ chức vụ Trung Đội Trưởng thuộc Đại Đội 624 tại Chi Khu Định Quán, Long Khánh. Năm 1969, Nguyễn Ngọc Sẳng cầm lệnh giải ngũ về lại quê vợ, đỗ xong Tú Tài phần 2 và được bổ nhiệm dạy học tại trường Trung Học Thắng Nhì. Nhờ tinh thần hiếu học và cần cù, sáu năm sau, Nguyễn Ngọc Sẳng đã tốt nghiệp Cử Nhân Văn Chương tại Đại Học Văn Khoa Saigon, và từ một giáo viên tiểu học, ông đã được nhập ngạch giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp, bổ nhiệm về dạy tại trường Trung Học Thị Xã Vũng Tàu. Chỉ ở trong quân đội hai năm, nhưng chế độ Cộng Sản xem chuyện biệt phái về ngành giáo dục của một sĩ quan là một trọng tội, do đó trung úy Nguyễn Ngọc Sẳng đã bị tập trung cải tạo đúng 5 năm rưỡi qua các trại Vũng Tàu, Long Khánh và Hàm Tân ở trại Z.30C. Năm 1981, Nguyễn Ngọc Sẳng được ra tù và về sống tại quê vợ và cũng là nơi ông đã dạy học trong nhiều năm. Trong thời gian ấy, vùng biển Vũng Tàu cũng là nơi người ta chọn để vượt biên nhiều nhất, tuy vậy gia đình ông nhà giáo Sẳng quá nghèo, không kiếm đâu ra vài chỉ vàng để đóng góp với chủ tàu. Nghề nghiệp nuôi sống của một người đi tù “cải tạo” mới về ít vốn liếng như ông là đi bán vé số dạo trong các quán giải khát và ăn nhậu trên bãi biển Vũng Tàu trong gần hai năm trời, nghề mà ông không khỏi ngượng ngập khi phải gặp không ít những khuôn mặt quen thuộc tại địa phương hay buồn phiền khi cầm trên tay nắm vé số trong những chiều mưa ế ẩm. Nghề bán vé số không khá, nhất là khi phải nài nỉ khách mua và phải đi lang thang suốt ngày. Sau đó, ông nhận một việc làm tưới cây kiểng cho một Hotel, nhưng chỉ trong một tuần đã bị chủ đuổi vì bắt gặp ông ngồi nhâm nhi bên ly cà phê, mặc đầu chưa tới giờ làm việc. Thấy ông có chút sức khỏe, một chủ khách sạn ở bãi sau đề nghị ông về làm cho họ với một số tiền hằng ngày ổn định hơn. Công việc hằng ngày của ông là xách nước ngọt cho khách tắm biển tại các phòng tắm trên bãi của nhà hàng. Mỗi ngày, “ông thầy” Nguyễn Ngọc Sẳng phải xách hơn 150 thùng nước ngọt cho khách hàng từ chỗ nước máy ra các phòng tắm trên bãi, và vì ở ngoài bãi suốt ngày, da ông đen nhẽm, đám môn sinh Vũng Tàu cũng khó nhìn ra ông. Tuy công việc khá cực nhọc, nhưng bù lại, với tiền công mỗi ngày ông mua được 6, 7 kg gạo, đủ ăn và chi dùng cho gia đình. Làm việc như thế ròng rã suốt hai năm cho tới một ngày nọ, ông may mắn gặp được một người phụ huynh học sinh có lòng tốt, thấy ông thầy giáo cũ quá vất vả, muôn giúp đỡ ông. Vị này có quen một người vừa trúng số độc đắc, đang mở một cửa hàng xe đạp, giới thiệu cho ông Sẳng về đó làm kế toán cho cửa hàng. Cuộc đời ông từ đó khá thêm một bậc, được ở trong bóng mát, đỡ phải vất vả lăn lộn ngoài bãi biển. Dần dà ông dành dụm được tí vốn, và nhờ sự giúp đỡ của người chủ cũ, Nguyễn Ngọc Sẳng đã mở được một cửa hàng xe đạp nhỏ. Nhờ sinh vào thời buổi “toàn dân đi xe đạp”, gia đình ông cũng kiếm được chút tiền, vừa lúc chương trình H.O. tới, ông có đủ tiền để lên Saigon dịch vụ xuất cảnh, muốn đi sớm phải có “chỉ” và được xếp vào danh sách H.O.4. Tháng 11-1990, gia đình ông giáo Sẳng đã tới được đất Mỹ, thuộc diện “mồ côi”, do một nhà thờ bảo lãnh, về định cư tại thành phố Tucson, tiểu bang Arizona. Cũng như các cựu tù nhân chính trị mới sang Mỹ, ông phải làm nhiều nghề để sinh tồn. Thoạt đầu, ông theo một người bạn làm nghề cắt cỏ, trong khi không có tay nghề, công việc của ông là cào lá, hốt cỏ, rác cho vào bao đem đi. Năm sau ông xin được một chân làm assembly trong một hãng nhỏ, sau đó hãng đem công việc sang Mễ, ông lại đổi nghề. Lần này ông làm công việc là đóng bao bì cho cho một hiệu sản xuất dụng cụ học sinh. Trong sáu năm cuối cùng, Nguyễn Ngọc Sẳng làm janitor quét dọn cho nhà thương Tucson Medical Center vào ban đêm. Điều đáng nói là từ lúc sang Hoa kỳ, ban ngày đi làm kiếm sống, nhưng ban đêm ông lại tới trường để theo học các lớp ESL vì ông vốn là giáo sư dạy Việt Văn vốn liếng tiếng Anh không có bao nhiêu. Ròng rã như thế, trong 7 năm, vừa đi làm vừa đi học, Nguyễn Ngọc Sẳng lấy xong văn bằng Master of Education vào năm 1998 và từ đấy ông mới chính thức có công việc tại Khu Học Chánh Tucson. Có lẽ cá nhân ông Nguyễn Ngọc Sẳng chưa bao giờ cho mình là già, và tuy đã có viêc làm ổn định, ông vẫn còn đi học. Cuối năm 2004 vừa qua, vào ngày 18 tháng 12, ông giáo Nguyễn Ngọc Sẳng, mới ngày nào sang Mỹ ban đêm còn ngồi trong các lớp ESL, đã vinh dự nhận văn bằng Ph.D. của University of Arizona. Số các cựu tù nhân chính trị đến Mỹ theo diện H.O. nhận văn bằng Ph.D. không nhiều, hầu hết đều đã có vốn liếng Anh Ngữ từ trước, Nguyễn Ngọc Sẳng là một trường hợp đặc biệt. Phải nói là ông đã nổ lực nhiều lần hơn những người đồng hoàn cảnh để vươn lên. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Sẳng là “The Role of Cultural Factors Affecting the Academic Achievement of Vietnamese Immigrant/Refugee Students in the United States” (Những Yếu Tố Văn Hóa Ảnh Hưởng Đến Sự Thành Công Trong Học Vấn của Học Sinh Di Dân/ Tỵ Nạn Việt Nam trên đất Mỹ). Mọi sự chưa bao giờ là chậm. Nguyễn Ngọc Sẳng đỗ bằng Ph.D. lúc ông đã 62 tuổi cũng cũng chưa phải là già. Xin chào mừng người bạn tù H.O.4.
|
|
#46
|
|||
|
|||
|
Trường Đại Học
Cộng Đồng Ở Mỹ Nước Mỹ có rất nhiều trường Đại Học Cộng Đồng rộng lớn, giảng dạy hằng triệu sinh viên mỗi năm. Đấy là những trường với chương trình hai năm dạy nghề chuyên môn cho sinh viên ra làm việc và cũng là trường dạy chuyển tiếp cho sinh viên, vì lý do nào đó chưa thể vào thẳng đại học lớn ngay được, có chỗ hâm nóng, chuẩn bị để nhờ đó được nhận vào các đại học lớn về sau. Những trường ĐHCĐ nầy rất thực dụng, bổ ích, và hữu hiệu, mà nước Vietnam lúc trước rập khuôn theo tổ chức giáo dục xưa của Pháp không hề biết đến. Những thành phố lớn ở Mỹ đều có ít nhất một vài trường, hoặc ba bốn thành phố nhỏ gần nhau cũng có một vài ba trường. Những trường nầy ở rải rác cách nhau không xa. Sinh viên có thể ở nhà cha mẹ, khỏi phải trọ học xa, mà có thể ngày, đêm đến trường bằng mọi phương tiện lưu thông với khoảng từ năm mười phút hay không quá một giờ. Trong những trường nầy, hầu hết mọi nghề chuyên môn thực dụng cần trong đời sống hiện đại đều được giảng dạy. Nếu ở trường nầy không có môn nọ, lớp kia thì trường khác trong vùng quanh đó sẽ có. Lớp học thường nhỏ, chỉ từ 15 đến 30 hay 40 sinh viên mà thôi. Không có đại giảng đường như ở xứ ta lúc trước. Trường có chương trình đại học chuyển tiếp, sau hai năm học ở trường nầy, sinh viên học hành đều đặn, đũ điểm trung bình trở lên có thể được chuyển qua trường đại học lớn 4 năm, học tiếp năm thứ ba và thứ tư để lấy bằng Cử nhân Khoa Học (Bachelor of Sciences, BS.) hay Cử nhân Nghệ Thuật (Bachelor of Arts, BA.). Trường vừa dạy nghề chuyên môn có chương trình 2 năm để lấy cấp bằng Associate of Arts, (AA) hay là chỉ lấy Certificate (chứng chỉ nghề chuyên môn), ví dụ lấy certificate nghề thợ hàn, thợ sửa xe hơi, hay căn bản ngành bảo hiểm chẳng hạn. Người đang làm nghề nào đó cũng có thể vào học chỉ một hay hai lớp để bổ túc cho kịp thời đại, hay bổ túc chỗ yếu của mình. Ví dụ một người có tiệm chụp hình, nhưng không biết cách sửa phim hình cho hoàn chỉnh hay vẽ thêm bớt khi cần, có thể vào học một vài lớp chấm vẽ sửa chửa (retouch). Hay một người cuối tuần thích làm lặt vặt trong garage cho nhà mình, cũng có thể vào đó học một lớp hàn xì, hàn điện, chạm gỗ, làm landscapes… chẳng hạn. Trường có dạy nhiều ngôn ngữ: Anh, Pháp, Tây ban nha, Tàu, Nhật…, Văn chương, Xã hội, Triết học, Tâm lý học, Hình pháp học (Criminology), Địa ốc, Toán học, Điện toán, Điện tử, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Cổ sinh vật học, Nhân chũng học, Địa chất, Địa dư, Lịch sử, Chuyên viên du lịch, Tiếp viên hàng không, Bảo hiểm, Kế toán, Mãi dịch (Purchasing), Kiểm phẩm (Quality control), Vẽ kiểu quần áo, Âm nhạc, Chơi các loại đàn, Khiêu vũ, Thể dục, Đánh tennis, Bơi lội… (không kể hết). Trường cũng có lớp dạy nhiều thứ ngành nghề cần thiết: Thẩm mỹ (Cosmetology), Thợ mộc, Thợ ống nước, Thợ điện, Thợ máy, Thợ đồng (body works), Y tá 2 năm ra làm việc hay chuyển lên Y tá 4 năm, Xây cất nhà (vẽ họa đồ, làm nền, làm sườn,..), Trang trí nội thất, Thợ hàn, Thợ tiện, Nấu bếp, Điện ảnh (chụp hình, làm phim) Vẻ tranh, Nặn tượng, Khắc tượng, Làm đồ gốm… (nhiều thứ không kể hết). Đại khái, đến các trường Đại học Cộng đồng (City Colleges) bạn có thể học bất kỳ nghề ngổng gì cũng có, nếu trường nầy không có, thì qua trường khác trong vùng sẽ có. Cư dân đến cư trú ở tiểu bang hơn một năm đóng học phí rẻ hơn dân mới đến. Lúc trước học phí chỉ là tượng trưng, tính theo số đơn vị học (Unit, thường là 1giờ /1tuần/1 khóa) nhưng từ hơn hai mươi năm gần đây sinh viên phải đóng học phí cao hơn nhiều và có tăng dần với thời gian, nhưng cũng chỉ vừa phải. Nếu lợi tức thấp, thì lại có học bỗng chính phủ giúp cho, rồi đâu cũng vào đấy. Tuổi tối thiểu của sinh viên vào học thường là 16 tuổi và tuổi tối đa không giới hạn. Người già cả 80, 90, nếu còn khỏe và muốn ghi tên vào học cũng sẽ được chấp nhận . Những học sinh lớp 11 hay lớp 12 trung học cũng có thể ghi tên học thêm một số lớp nào đó ở những trường nầy, nếu việc học ở trung học không bị trở ngại. Cho nên trường City Colleges hay Community Colleges được chúng ta dịch ra tiếng Việt là “Đại Học Cộng Đồng” thật là sát nghĩa. Vì thành phần sinh viên có đủ nam nữ già trẻ với nhiều trình độ. Có những vị cao niên với quá khứ huy hoàng hoặc đã từng có nhiều học vị cao cở Master, Ph D. MD., có khi đã là giáo sư đại học lớn nào đó, đang làm việc, hay đã nghỉ hưu cũng thỉnh thoảng gặp vào ngồi chung lớp với một cô cậu 16 hay 17 tuổi, hay với vài ông bà trung niên nào đó chỉ cở tiểu học. Vì môn học đó, nghề đó, vị khoa bảng nọ cũng như đám sinh viên tạp nhạp kia đều chưa biết, và đều muốn học. Người Mỹ, chuyện gì, nghề gì chưa biết là học, họ không tự tôn, tự ty, mặc cảm gì cả. Điều gì chưa biết mà muốn học, thì cứ ghi tên vào học nếu thấy theo kịp, đều được. Nhà trường và các thầy cô giáo ở đây chẳng từ chối một ai. Càng đông sinh viên thì nhân viên nhà trường và các giáo sư càng thích vì việc làm của họ thêm vững vàng. Có người muốn học ở đây để chuyển lên đại học lớn, có người học để thỏa mản sự tò mò muốn biết thêm một ngành nghề nào đó thêm. Có người muốn vào học lấy cấp bằng chuyên môn AA (60 semester units, trung bình 2 năm) để tìm việc làm sinh sống. Có người lai rai học cả mấy trăm units để biết nhiều thứ, cốt mở mang kiến thức hoặc chuyên môn thiết thực để tự xài, mà không cần lấy cấp bằng nào cả. Cho nên ở Mỹ bạn có thể vào colleges quanh quẩn gần nhà, học mãi suốt đời cũng chẳng hết chuyện học. Việc ghi tên vào học thật quá dễ dàng. Lớp học được mở ra theo từng bán niên (semester), Xuân, Thu, là chính, và có thêm một khóa Hè ngắn hạn. Vài ba tháng trước ngày khai giảng khóa học, trường đã có gởi một cuốn học trình (schedules) đến mọi nhà trong county hoặc vùng lân cận, để sinh viên chọn lớp mà ghi tên. Có thể trực tiếp đến văn phòng hay gởi email, hoặc gởi thư để ghi tên học. Ai ghi trước được trước, khi đã hết chỗ rồi thì được vào danh sách chờ (waiting list) hay phải chờ lớp đó ở khóa sau. Có những người không kịp ghi tên, cũng có thể đến ngày khai giảng, muốn học lớp nào thì vào ngồi ở lớp đó, nếu còn chỗ hay giáo sư chấp nhận, thì cũng có thể được ghi tên chính thức vào lớp. Học vài ba tuần, nếu thấy không thích, không hợp năng khiếu, không hiểu kịp, hay nghĩ không passed được, thì ghi tên rút lui (drop), coi như không còn dính dự gì về lớp đó nữa. Thường những người ngoại quốc, nếu không có giấy tờ gì chứng minh trình độ, thường phải trải qua một buổi thi thử nghiệm (test) về trình độ Anh ngữ, thường là Anh Văn căn bản. Nếu không qua test nầy thì sinh viên phải học thêm vài ba lớp Anh Ngữ dành cho người ngoại quốc ESL (English as Second Language). Để thấy trường College thu nhận sinh viên vào học dễ dàng và hữu hiệu, tôi kể ra một vài trường hợp như ba anh em ruột nhà họ Dương quê ở làng Tư chánh, Quảng Ngãi, VN. Cha làm công chức và chẳng may mất sớm. Bà mẹ vất vả ngược xuôi nuôi đàn con 7 đứa trong cảnh loạn ly khốn đốn. Những đứa lớn phải gởi đến ở nhờ các cậu, các dì, việc học hành lắm khi bị trở ngại. Nhưng sau khi sang đây, nhờ trường college ở Mỹ mà cả ba đều bắt kịp việc học và tiến thân rất khả quan: Dương Anh Tuấn theo cậu vựợt biển, đến California năm 1982 lúc 24 tuổi, được nhận ngay vào học đại ở Pasadena City College. Cũng như những sinh viên Mỹ nghèo khác, Tuấn được đầy đủ trợ cấp (grants) chính phủ và vừa làm vừa học có lương thêm. Thích quá, nên nổ lực chăm chỉ và nhờ đà hâm nóng đó, Tuấn được chuyển qua Đại học USC tốt nghiệp BS. Qua UCSD tốt nghiêp MS, và qua UCI tốt nghiệp Ph. D. in Control System & Neural Networks (Hệ thống Điều khiển và Mạng Thần kinh) năm 1995 và được chọn làm khoa học gia cho Cơ Quan Nghiên Cứu Không Gian của Mỹ ở Pasadena thuộc cơ quan NASA, ( JPL- Jet Propulsion Laboratory ). Tuấn hiện còn là giáo sư bán thời gian cho đại học USC, Los Angeles. Trong phòng làm việc ở nhà Tuấn, tôi thấy nhiều bằng phát minh của Tuấn và những bằng cấp khen thưởng của NASA. Dương Anh Vũ, đến Mỹ theo diện PIP năm 1992 lúc 20 tuổi, cũng nhờ vào học ở Pasadena City College, xong chuyển sang đại học UC San Diego, rồi UC Irvine và tốt nghiệp Tiến Sĩ Điện Tử năm 2003 và hiện là chuyên viên nghiên cứu Hệ thống An toàn cho những phi hành gia không gian của Cơ Quan NASA. Dương Anh Hạo đến Mỹ theo diện PIP năm 1992 lúc 18 tuổi, cũng nhờ được nhận vào Pasadena City College để sau đó được chuyển lên UCLA, hiện sắp hoàn tất chương trình Ph.D. về điện toán tại đại học nầy và sẽ tốt nghiệp vào tháng 6/2005 sắp đến. Chính nhờ sự thu nhận và rộng mở của Community College, mà cả ba anh em nhà nghèo nầy, học hành lở dở bên Viêt nam trước đó, đều có thể bước vào đại học lớn lấy bằng PhD. và được Mỹ trọng dụng trong khoa học kỹ thuật cao cấp. Anh em Ngoc Ho và Nguyet Ho vượt biển, sang California năm 1977, lúc đó Ngọc 22 tuổi đã học năm thứ 2 ở VN, Nguyệt 16 tuổi, vừa mới tới lớp 9, đã bỏ học từ lúc CS chiếm Saigon. Cả hai không mang theo chứng chỉ hay học bạ gì cả. Mùa hè 1977, Ngọc vào test Anh Ngữ để học Pasdena City College, thấy bài không khó, về dẫn Nguyệt lúc đó đang lãnh đồ may ở nhà vào test thử. Cả hai cùng passed. Hai anh em được dễ dàng thu nhận vào trường nầy. Tuổi trẻ hăng hái, Nguyệt được honor rolls của Khoa trưởng mấy lần và được cấp cho mọi thứ học bỗng (scholarship) công và tư. Sau hai năm, Ngọc được chuyển sang Cal State University Long Beach, ra BS rồi làm kỷ sư cho TRW, rồi Boeing mãi đến giờ. Năm 1979, Nguyệt được chuyển qua UCLA. Năm 1981, Nguyệt xong BS, và học tiếp 4 năm ở Y khoa UCLA. Năm 1985, Nguyệt có lẽ là thuyền nhân Việt Nam trẻ nhất (24 tuổi) lấy cấp bằng MD ở Mỹ, được đi nội trú ở Bệnh Viện Galveston, UTM, Texas. Năm 1989, Nguyệt về lại California làm bác sĩ mổ cho Kaiser từ đó đến giờ. Cũng nhờ Đại Học Cộng Đồng mà sự học hành của Ngọc, Nguyệt và hằng vạn thanh niên Vietnam khác, bị gián đoạn đã được nối tiếp nhanh chóng trở lại mà không phí mất thì giờ và công của. Vài dẫn chứng về việc dạy nghề: Bà Nancy Lê ở Garden Grove, khi xưa ở Vietnam, làm thư ký đánh máy, không biết gì về nghề chụp hình. Nhờ học nhiều lớp Photography ở Orange Coast College, bà đã đũ trình độ chuyên môn và đã mở tiêm chụp hình rất sớm, làm ăn rất thành công ở Little Saigon qua nhiều năm, nuôi sống gia đình. Đến gần đây mới nghỉ hưu, sang tiệm, và nhận làm công tác xã hội thiện nguyện. Ông Nguyễn Đức Huy, Quảng Ngãi lúc sang đây đã khoảng 60 tuổi, được nhận vào học Y tá 2 năm ở Golden West College. Học xong ông ra làm y tá chăm sóc nhà Nursing mãi đến giờ, nay gần 80 vẫn còn năng động, chưa chịu nghỉ hưu. Ở Little Saigon, có nhiều chủ garage và thợ sửa xe, rất có khả năng và uy tín nhờ được học nghề nầy ở Golden West College mà nay trở thành giàu có. Nhiều người Vietnam học cosmetology, landscaping ở College mà làm ăn thành công, sắm nhiều nhà cho thuê. Ông Nguyễn Châu ở Van Nuy, cựu chiến binh VNCH, chỉ lấy một certificate về nghề thợ tiện ở college, ra làm nghề nầy cho hảng Mỹ. Để dành vốn, sắm máy móc làm riêng thêm ở nhà. Bây giờ làm ông chủ, lãnh tiện các cơ phận cho máy bay, có cơ sở vốn liếng lớn lao, nhiều triệu dollars. Có người lớn tuổi không có việc làm, lại muốn có thêm tiền lai rai, họ có thể vào college học và xin tiền grants (trợ cấp hay học bỗng) và xin công việc làm vặt có lương tại trường. Công việc nhẹ nhàng như thư ký thư viện, tutor … Tôi từng biết một vài cụ, trước kia thuộc hàng trí thức giàu có, quen tiêu xài, tiền già không đũ, nên ghi tên vào học Pháp Văn hay thể dục cho đũ units để lãnh tiền grants xài thêm, gởi VN giúp con cháu, mà khỏi bận rộn học hành, vì tiếng Pháp các cụ ấy còn giỏi hơn cả thầy. Các giáo sư college rất hoan nghênh sinh viên vào học, vì có đũ số sinh viên tối thiểu cho một lớp để được duy trì, và họ có việc. So với nước mình thuở trước vào cửa đại học không phải dễ. Cả nước mấy chục triệu dân, mới có một hai trường đại học hay cao đẳng kỷ thuật. Thời đầu thế kỷ 20, các cụ phải thi đậu sơ học, tiểu học, trung học, tú tài 1, tú tài 2, mỗi cấp là một cỗng chận. Có cụ thi năm bảy lần tiểu học hoặc trung học cũng không đậu làm sao đến cỗng tú tài. Phần sau thế kỷ 20, bằng tiểu và trung học không quan trọng mấy nhưng cổng tú tài 1 và tú tài 2 vẫn còn. Chương trình học và thi cũng quá nhiều môn, đậu kỳ thi viết còn vào vấn đáp nhiêu khê. Đã từng thấy có bạn thi năm bảy lần không đậu được tú tài 1, có bạn thi hỏng 8 lần tú tài 2, hay chẳng bao giờ đậu, tuy họ cũng thông minh trí tuệ không kém một ai, giấc mơ đại học không thành. Tôi đã biết có người rất giỏi toán, lý hóa mở lớp dạy luyện thi tú tài rất hay, học sinh thi đậu mà chính họ vẫn trượt, có lẽ kém những môn khác. Nên chẳng bao giờ vào đến cửa đại học. Chuyện thi cử mãi ám trong giấc chiêm bao. Xứ nầy giỏi một môn hay một nghề thôi cũng đã ngon lành rồi. Còn ở Mỹ đây, nhờ có ĐHCC, bất kể là ai, tuổi tác trình độ học hành cở nào, qua một đêm cũng có thể là sinh viên đại học cả. Tôi chưa thấy ai bị từ chối, không được nhận vào đại học cộng đồng. Tuy thế những người đã học đầy đũ ở đây ra, đều có khả năng và hiểu biết tốt về ngành học của mình. Nếu họ dỡ thì làm sao Mỹ vẫn dẫn đầu thế giới về mọi mặt. Có thể nói, ở Mỹ người ta có thể dạy thú vật còn làm ra trò ngoạn mục tài tình, huống chi là con người. Nghĩ lại sự học vấn của xứ mình lúc trước chỉ chuộng từ chương, lý thuyết, không thực tế mà có tính cách gò bó, ngăn cản nhân tài hằng bao nhiêu thế kỷ. Khiến cho đất nước thiếu chuyên viên trong mọi ngành nghề, chỉ dùng chữ nghĩa xa thực tế, bằng cấp để làm quan, hay dạy lại đám đàn em, rồi đàn em lại cũng giống như đàn anh, cứ thế mà nối tiếp. Lý thuyết xa rời thực tế, không tài nghề thiết thực cho sự phồn vinh của xã hội, thật quá phí phạm nhân lực và tài nguyên của đất nước. Còn nghề nghiệp thì chỉ học riêng lẫn nhau, mà thường thì hay dấu nghề, nên khoa học kỷ thuật không tiến bộ. Nhớ lại thời những thanh niên ở Vùng Cộng Sản cai trị tận thu, họ nghèo hết cở, học hành lại dang dở. Nhờ đình chiến 1954, họ qua vùng Quốc Gia thời Tổng Thống Diệm, muốn học trở lại để mong lên đại học. Nhưng trong cùng một nước, mà phải gặp nhiều trở ngại khó hội nhập vào việc học hành thi cử hơn là từ Vietnam sang tị nạn ở Mỹ, hai nước khác ngôn ngữ. Họ phải mất nhiều năm tháng và công sức mới vào được ngưởng cửa Đại Học và rất đông chẳng bao giờ vào được. Trở ngại nhất là phải đậu qua Tú tài 1 và 2. Ở vùng Viêt minh, 9 năm, hầu như chẳng học Anh, Pháp văn. Nhưng kỳ thi tú tài 1, lúc thi viết ban nào cũng phải làm bài luận văn chương tiếng Việt, tiếng Pháp và môt bài dịch Anh Viêt và Việt Anh cho ra hồn, phải mất không dưới vài ba năm, lại phải học thêm Toán và Lý hóa, văn chương Việt nam và nhiều môn khác. Nếu đậu được thi viết, còn phải vào vấn đáp đũ cả các môn. Có người đã thi nhiều năm không đậu tú tài 1 và bỏ cuộc. Có người đã đậu tú tài 1 mà thi mãi vẫn không đậu tú tài 2, có thể vì các bài luận lằng nhằng không hợp ý giám khảo. Hay họ không có năng khiếu về một hay hai môn nào đó, nên không làm bài tốt để được chấm đậu, hay bài vở nhiều họ không nhớ hết và trật tủ. Với thời gian học đi học lại nhiều năm như thế, ở Mỹ họ có thể đã qua bậc Cao học là cái chắc. Trong khi ở Mỹ hầu như tất cả những học sinh đi học đàng hoàng, dù dở hay gì cũng qua được trung học và đều được nhận vào trường đại học. Dựa vào kết quả kỳ thi SAT và thành tích ở Trung học, có đại học chỉ nhận hạng ưu, và cũng có những đại học nhận hạng bình, hoặc cả hạng thứ. Còn trường ĐHCĐ (colleges) thì nhận tất cả phần còn lại hoặc bất cứ ai muốn xin vào. Nơi đây sinh viên dù có dở mấy cũng có một ngành nghề vừa khả năng và sở thích để cho họ học và ra làm ăn, hoặc tiến xa hơn. Thầy dạy ở đây tận tình truyền hết hiểu biết và kinh nghiệm cho sinh viên chứ không cần dấu nghề như ở xứ mình. Trường dạy sáng, chiều, tối, có khi cả thứ bảy, cho nên sinh viên có thể phối hợp thì giờ theo một thời biểu thuận tiện vừa học và vừa làm kiếm sống. Nếu bữa thi test mà sinh viên bị bệnh hay bận sao đó không tham dự được, thì giáo sư có thể cho sinh viên đó test riêng sau, khỏi phải mất kết quả của một khóa học. Chỉ cần đọc bài vài lần, hiểu và suy luận là có thể làm tốt bài test theo lối a, b,c,d khoanh. Tương đối dễ hơn là nhớ hết và viết nguyên một bài giáo khoa dài trong sách như lối thi ở Việt nam lúc trước. Trúng bài mình thuộc là đậu, trúng bài mình quên là hỏng, hay đến ngày thi bị bệnh là mất đi một năm học. Tóm lại trường Đại Học Cộng Đồng trong những thành phố Mỹ mở ra để đón nhận tất cả những ai muốn học. Bất cứ trình độ văn hóa nào cũng có ngành, có lớp vừa khả năng và sở thích cho sinh viên. Nhờ thế mà nước Mỹ có nhiều chuyên viên giỏi trong mọi ngành nghề từ chân tay đến trí thức và kỷ thuật cao cấp. Đúng là Mỹ dụng nhân như dụng mộc, cở nào họ cũng có chỗ xài, họ lại chiêu hiền đãi sĩ, ai giỏi về ngành nào họ đều trọng dụng, không phân biệt giai cấp, giàu nghèo và nguồn gốc.. Rất tiếc, một số nhỏ thanh thiếu niên Vietnam không biết dùng đến ĐHCĐ để tạo dựng một tương lai tốt đẹp, mà lại lêu lỗng tham gia băng đảng tội lỗi. Mong sao nước Việt ta cũng sớm bắt chướt lập ra rất nhiều trường Đại Học Cộng Đồng như ở Mỹ cho bất cứ ai cũng có thể vào học, để tất cả phát triển năng khiếu, tài nghề, và kiến thức, làm đất nước hạnh phúc, tự do, dân chủ thật sự, dân nghèo khỏi phải lê lết, bán con, bán vợ, bán thân, bán sức làm tôi đòi tủi nhục tại các nước Đông Á và nhất là tránh nguy cơ “Ngàn Năm Bắc Thuộc” trở lại. Hồ Phi (vietbao) |
|
#47
|
|||
|
|||
|
Bác nào già, lười cần đọc
Chân dung một H.O. Huy Phương (nguoi-viet) Gia đình ông Lê Tấn Bửu đã mang chung nổi oan khiên của đất nước, năm 1979, khi ông đang ở trong trại tập trung Bắc Thái, ở nhà tất cả năm người con, hai trai, ba gái của ông đã mất tích trên đường vượt biền đi tìm tự do. Người Thượng Nghị Sĩ Việt Nam Cộng Hòa này đã trải qua mười hai năm trong trại tù cải tạo, bị bắt đưa đi cải tạo tại Long Xuyên vào tháng 6-1975, lao động tại cù lao Cáỉ Vung, Đại Ngãi-Sóc Trăng, Cuối năm 1976, cũng như các viên chức chế độ cũ khác được coi là nguy hiểm, ông bị đưa ra Bắc ở tại Lào Kay, Phú Sơn 4 - Bắc Thái, Nam Hà, Thanh Phong (Thanh Hóa), rồi Hà Tây, gần Hà Nội. Năm 1987, ông được tha về nhưng nhà cũ ở Long Xuyên đã bị Cộng Sản tịch thu, phải sống lây lất ở Saigon cho tới ngày được sang Mỹ theo danh sách H.O. 12 vào tháng 7/1992. Thoạt đầu ông định cư tại tỉểu bang Illinois, sau về nhà người con trai duy nhất còn lại của ông đi du học năm 1973, nhưng chỉ một năm sau ông bà Lê Tấn Bửu bắt đầu về sống trong chung cư dành cho người già từ đó đến nay đã qua 12 năm. Ông Lê Tấn Bửu sinh năm 1922 tại Cù Lao Cái Vừng, quận Tân Châu, Châu Đốc trong một gia đình điền chủ khá giả. Do đó, thay vì theo học ở trường làng, ông được gởi lên quận Tân Châu theo học bậc Tiểu Học, rồi Trung Học tại Cần Thơ và sau đó trường Petrus Ký ở Saigon. Năm mới hai mươi mốt tuổi, ông đã đi làm víệc tại tòa Hành Chánh Châu Đốc. Sau đó, ông nghĩ việc ba năm để về nhận nhiệm vụ Chỉ Huy trường Lực Lượng Quân sự Hòa Hảo gồm 10 Đại Đội ở Vĩnh Long. Năm 1949, Lê Tấn Bửu theo học trường Võ bị Huế, khóa 2 Quang Trung. Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy, ông được cử làm trưởng phòng I Đệ Nhất Quân Khu, dưới quyền lúc đó là Thiếu Tá Lê văn Tỵ. Năm 1952 được cử đi học khóa Công Binh chiến đấu ở Kiến An, Bắc Việt và năm sau lạí được cử theo học trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Công Binh ở Versailles, Pháp và tốt nghiêp Kỹ Sư. Trở về nước năm 1955, ông được thăng cấp Trung Tá giả định và giữ chức vụ Giám Đốc Công Binh Đệ IV Quân Khu đóng ở Banmethuot. Năm 1958 khi Xa Lộ Biên Hòa bắt đầu được xây dựng, ông là kỹ sư của Hãng Johnson Drake & Piper. Từ địa hạt quân sự, qua dân sự rồi vào sinh hoạt chính trị, ông đã lần lượt qua các chức vụ Trưởng Thanh Tra Tổng Nha Thông Tin (1960-1963), Phụ Tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia đặc trách nghành Cảnh Sát Đặc Biệt (1964-1965), Phụ Tá Tổng Cục Trưởng CTCT (1966-1967). Sau đó ông ra ứng cử và đắc cử Thượng Nghị Sĩ trong liên danh “Mặt Trời” do ông Huỳnh Văn Cao làm Thụ ủy. Tại Thượng Viện Việt Nam Cộng Hòa, ông Lê Tấn Bửu đã lần lượt giữ các chức vụ Tổng Thư ký Ủy Ban Quốc Phòng, Chủ Tịch Ủy Ban Công Chánh Giao Thông, Tổng Thư Ký Khối Đối Lập Thượng Viện. Từ năm 1973, ông lui về sinh sống ở Long Xuyên cho tới ngày Saigon thất thủ. Khi sang đến Hoa Kỳ, ông Lê Tấn Bửu đã bảy mươi tuổi, tuổi này đối với phần đông các vị cao niên là đã quá già để đi làm hay tham gia các hoạt động xã hội. Tuy vậy, sau khi ổn định chỗ ở nơi một chung cư người gíà tại Virginia, ông bắt đầu nghĩ tới việc đỉ học lạị. Với tuổi này, dù có bằng cấp cũng không thể tìm ra việc làm tại Mỹ, nhưng ông thấy nhu cầu trau dồi kiến thức vẫn là điều cần thiết. Người ta thấy ông già 72 tuổi bắt đầu chen chân vào lớp học tại NOVA (North Virginia) College. Hai năm sau ông lấy đủ ba chứng chỉ AA (1996 ). Trong hai năn kế tiếp (1998) ông vào Đại Học George Madison và đậu bằng Cử Nhân Xã Hội Học (Sociology). Năm 1999, ông đậu bằng Cao Học về Xã Hội (Master Degree). Cũng tại Đại Học George Madison, năm 2003, ông đậu bằng Tiến Sĩ (Ph.D.) sau khi đã trình một luận án: "Đổi Mới in Viet Nam: The Interplay of Culture, Economy, and Politics". Trong thời gian đến trường, ông Lê Tấn Bửu vừa học vừa làm “work study" như mọi sinh viên khác. Trong thời gian làm luận án, ông Lê Tấn Bửu đã được mời dạy Việt Ngữ tại trường Sinh Ngữ của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và sau khi tốt nghiệp, ông dành thì giờ giúp thiện nguyện cho Hội Cao Niên và Cộng Đồng Việt Nam tại vùng Hoa Thịnh Đốn. Ngay trong lúc còn làm việc tại Việt Nam, từ năm 1968, ông Lê Tấn Bửu đã trường trai và tu Thiền, nên khi sang đến Mỹ, có thời giờ và duyên lành, ông dốc lòng luận giải được 14 bộ Kinh Phật dưới pháp danh là Liên Hoa Tịnh Huệ, dịch được hai cuốn sách về Phật Pháp, một từ Pháp ngữ sang Việt và từ Việt sang Anh ngữ. Là một người đã từng phục vụ trong chính quyền miền Nam Việt Nam suốt quãng đời trung niên, bị tù tội trong một gian dài, gia đình lại chịu sự mất mát lớn lao, ông Lê Tấn Bửu là một người đầy ý chí, tinh thần hiếu học của ông đã thắng tuổi già của ông và là tấm gương sáng vô địch cho đám trẻ ngày nay không những chĩ ở hải ngoại và còn của tất cả những người Việt Nam ở trên khắp nơi trên thế giới. Trước đây trong mục này, chúng tôi đã giới thiệu đến qui vị giáo sư Nguyễn Ngọc Sẳng ở Tuscon, Arizona, trải qua thời gian tù tội vất vả, đã đậu Tiến Sĩ khi ở tuổi 62, nay thật ngạc nhiên không thể ngờ đến trong những người cựu tù nhân chính trị hải ngoại lại có một tấm gương híếu học đậu Tiến Sĩ khi đã 81 như ông Lê Tấn Bửu. Hiện nay mặc dù tuổi đã cao (88), ông vẫn mạnh khoẻ không bệnh tật gì và nhất là trí óc đang còn hết sức minh mẫn. Ông cho biết nhờ thiền và tập khí công hằng ngày ông mới có được một sức khoẻ như vậy. Trong cổ sử Trung Quốc, Khương Tử Nha lập thân khi đã xấp xỉ bát tuần thượng thọ, ông Lê Tấn Bửu của chúng ta đậu Tiến Sĩ khi ở tuổi 81, không phải để cầu danh vọng, mà để cho con cháu noi gương, tự thắng bản thân mình. Ông đáng lưu danh trong một cuốn sách danh nhân Việt Nam dành cho hậu thế. |
|
#48
|
||||
|
||||
|
Trích:
__________________
Khi nào thì người dân việt nam được quyền tự do ngôn luận? |
|
#49
|
|||
|
|||
|
Du Học Tuổi Năm Mươi Lăm
Phụng Linh (vietbao) Tôi chìa cái visa du lịch cho phép được ở lại nước Mỹ trong sáu tháng. Cô nhân viên văn phòng trường Saddleback College (thành phố Mission Viejo, Nam California) khẽ liếc nhìn rồi gật đầu “OK” cái đơn xin nhập học semester Spring 2005 của tôi. Chỉ phải đóng 26 đô la chi phí nhập học và hai tuần sau, tôi được một người bạn nhỏ đưa trở lại trường - ở cách nhà 25 phút lái xe, để test trình độ tiếng Anh. Kết quả tức thời cho thấy, dù “thất học” tiếng Anh mấy chục năm nay, vốn văn phạm của tôi vẫn còn kha khá. Tôi được phép học các lớp tiếng Anh hệ ESL (English as a Second Language) trình độ trung bình (intermediate) trở lên. Không mặc cảm khi đến trường cùng những đứa trẻ đáng tuổi con cháu, song tôi có phần ái ngại, liệu giữa chừng sẽ “gối mỏi chân run”, bởi ở quê nhà, tuổi 55 của tôi là tuổi về hưu, là tuổi “ngồi không”nhìn thế sự! Cuộc khởi đầu gian khổ Trước ngày nhập học một tuần, người bạn nhỏ viết cho tôi một bản hướng dẫn chi tiết lộ trình xe bus từ nhà đến trường, nhắc đi nhắc lại từng điểm lên, điểm xuống. Cô không quên ấn vào tay tôi cái cell phone để gọi vào sở làm khi cần thiết, giúp cô tiện việc “tìm trẻ lạc”… Còn hai ngày nữa, một buổi sáng trời nắng đẹp, tôi quyết định làm một cuộc “hành trình”, khởi đầu cuộc sống sinh viên trên đất Mỹ. Tôi biết rằng mọi thứ đều sẽ rất khó khăn dù chỉ là một sinh viên, vì tôi không biết đường đi; không thể lái xe; không người quen biết; hạn chế trong giao tiếp vì nói năng không lưu lốt như người ở đây lâu… Dù đã chuẩn bị tinh thần từ trước, song quả tình tôi không hình dung được sự thể, nếu tôi không bước vào cuộc sống thật của một sinh viên già nơi xứ lạ quê người. Mất 15 phút đi bộ từ nhà ở thành phố Lake Forest ra đến trạm, tôi bước lên chiếc xe bus, loay hoay một hồi mới đặt được cái thẻ “One day pass” đi qua một cái “hộp đen”. Yên vị rồi, tôi dán mắt vào các bản tên đường, rồi lại nhìn bản hướng dẫn. Chiếc xe bus 177 dừng lại ở tổng trạm Laguna Hills, tôi mau mau chạy đến chiếc xe bus số 91. Xe chạy, tôi lại dán mắt vào tên đường. Mất gần một tiếng rưỡi đồng hồ từ lúc rời nhà, sao vẫn thấy cảnh vật trước mặt “lạ hoắc lạ huơ”, tôi đâm lo: “Có thể mình đi lạc đường rồi chăng?”. Ồ không, cái bồn cỏ có hàng chữ Saddleback College nhấp nháy đèn hiện ra từ xa khiến tôi thở phào nhẹ nhõm. Tôi chồm dậy, chạy vội đến bên ông tài xế: “Tôi xuống ở đây được không?” Ông ta nhìn tôi, kinh ngạc đến mức ngớ ra, nhưng rồi ông bấm nút mở cửa để tôi xuống ở góc đường. Tôi ngẩn ngơ nhìn theo chiếc xe bus mất hút ở hướng mà mình định tới. Thì ra, trạm xe bus nằm ngay trước cổng trường…mình đã xuống xe hơi sớm. Tôi cười thầm, tự tha thứ cho cái ngố đầu tiên của mình. Leo lên mấy bậc tam cấp, cuối cùng tôi đã đứng ở nơi hôm trước mình đến. Vậy là thành công rồi. Tôi thầm reo lên. Tôi rảo một vòng nhỏ trong sân, không dám đi lung tung vì sợ…lạc, rồi trở ra trạm, đón xe bus quay về nhà. Quả thật, tôi không dám phiêu lưu. Ở Mỹ không có taxi, cũng không có xe Honda ôm có thể tức thời chở tôi trở về nhà lại. Tôi như một con kiến nhỏ, chỉ cần chạm đầu vào mục tiêu là bằng lòng quay trở lại chỗ cũ… Thật là tiện lợi, chỉ mất vài phút ngồi nhà là xong. Qua mạng, cô bạn nhỏ ghi danh cho tôi một lúc năm lớp học: bốn lớp Multiskills và một lớp Conversation, tất cả đều là “0 Unit”. Điều đó có nghĩa là tôi không phải đóng học phí, nhưng tôi chỉ được vào lớp khi có giấy báo đồng ý. Nhận được một tờ giấy báo duy nhất, tôi hớn hở đến trường từ lúc 4 giờ chiều. Không biết may hay rủi, giờ học đầu tiên của tôi trong ngày khai giảng là lớp Multiskills, từ 5 giờ đến 6 giờ rưỡi chiều và phòng học N3 lại nằm tít ở phía nam trong khi cổng trường nằm ở đàng bắc. Lớp học chỉ có chừng mười sinh viên. Có lẽ nhờ vậy mà tôi được nhà trường cho vào lớp này chăng? Đơn ghi danh vào bốn lớp còn lại vẫn “không thấy hồi âm”. Bạn tôi an ủi: “Chị đừng lo. Tới ngày giờ, vẫn cứ vào lớp, rồi xin thầy cho add tên của mình vô. Trước sau gì cũng được học thôi hà.” Tôi gật đầu. Cô bạn nhỏ trẻ hơn tôi 15 tuổi, nhưng đã có 25 năm sống trên xứ Mỹ. Tôi tin cô ấy đến sái cổ thôi. Bạn tôi hứa sẽ đến đón tôi lúc 7 giờ tối ở ngay trạm xe bus, sau buổi học đầu tiên. Những giọt mưa lất phất bỗng trở nên nặng hạt khi tôi vừa đến cổng. Gió mạnh làm chiếc dù lật ngược lên trời. Tôi cầm tờ in sơ đồ các lớp học nhoè nhoẹt vì nước mưa. Tháng 1, mới 5 giờ chiều mà trời đã tối sầm. Nhiều tân sinh viên lắc đầu không biết N3 nằm ở đâu. Tôi hỏi, rồi lại nhắm hướng mà đi… Vòng lên, vòng xuống nhiều lần, một hồi tôi lại trở về …chốn cũ. Trời ơi! Tôi kêu lên. Phải chi tôi có đôi cánh bay lên để tìm lớp học cho dễ, hay ít ra, có một chiếc xe gắn máy để phóng cho nhanh. Khuôn viên trường rộng lớn quá. Các dãy lớp học nằm rải rác khắp nơi, leo đồi, xuống dốc. Nước mưa cứ chảy cuồn cuộn dưới chân. Khi tìm được lớp học, tôi đã bị trễ đến nửa tiếng đồng hồ. Chiếc quần jean, giày, vớ len ướt sũng. Ngồi xuống ghế, tôi run lập cập, cố lắng tai nghe cô giáo dặn dò bằng những tràng tiếng Anh như không kịp thở… Cứ vài phút, tôi liếc nhìn đồng hồ, mong cho mau hết giờ. Không có chuông, cũng không có trống trường tan học. Cô giáo chỉ nói lời tạm biệt, cả bọn đứng lên ra về. Trời tối đen, mưa vẫn tầm tã. Chiếc dù nhỏ gần như vô dụng vì nó không che được những làn nước tứ phía ập vào người. Cũng như lúc đi, tôi lại quanh co khá lâu mà vẫn chưa đến được trạm xe bus. Ba mươi phút vòng vo một cách khốn khổ, tôi phải chạy bộ cho kịp giờ hẹn. Còn cách trạm xe bus chừng 10m, tôi mừng rỡ khi nhận ra chiếc xe của bạn tôi vừa trờ đến. Tôi chạy vội lại thì xe cũng vụt chạy đi. Đôi chân lạnh cứng lê từng bước, tôi quẹt nước mưa pha lẫn với giọt nước mắt nóng hổi ràn rụa trên mặt. Tôi thở hắt ra khi thấy chiếc xe quen thuộc vừa đánh một vòng, quày trở lại. Đậu xe ở ngay bùng binh, cô ngoắc liên hồi, tôi chạy ào ra, nhào vô xe. Đàng sau là nhiều tiếng còi vang lên inh ỏi. Chân tay lạnh cóng, châu thân rả rời, tôi yểu xìu, không nói được một lời nào. Cảm giác bâng khuâng của buổi tựu trường “hàng năm cứ vào cuối thu, gió ngoài đường lạnh nhiều, và trên không có những đám mây bàng bạc”… tan biến trong cơn mưa lạnh thâu đêm không dứt. Những kỷ niệm khó quên. Tỉnh dậy sau buổi học đầu tiên nặng nề với cảm giác ớn lạnh kéo dài, tôi thừ người suy nghĩ. Sáu tháng trên đất Mỹ này, nếu không đi học thì biết làm gì đây! Tôi thu hết can đảm tiếp tục đến lớp ngày hôm sau. Tôi chọn thái độ học tập thật tích cực và đầy thử thách: đến trường đủ năm ngày trong tuần. Khả năng nghe và nói tiếng Anh của tôi còn kém, lý do chính đáng khiến tôi không thể thối thác, từ nan. Huống hồ gì tôi đã đến tuổi năm mươi lăm, cái tuổi không còn trẻ, không dễ ai bắt nạt và cũng không còn “ham chơi đến đốt phí tuổi xuân”. Tôi lại tự an ủi: “Phải cố lên thôi!” Chiều đi học về, tôi có một niềm vui: chiếc máy tính truy cập internet 24/24 chỉ với 29 đô la mỗi tháng. Tôi tha hồ đọc báo, đủ loại báo, cho đỡ nhớ nhà. Tôi làm quen với không khí “chạy lớp”. Vào lớp này, cô giáo không đồng ý cho “add” vì đã quá đông sinh viên, tôi bỏ ra liền để kịp chạy vào một lớp khác cùng trình độ, cùng một thời điểm. Sau hai tuần lễ “chạy ra - chạy vô”, tôi đã tìm được một chỗ ngồi yên ổn, trong bốn lớp học đúng như dự định. Tên tôi cũng đã được xướng lên khi điểm danh và tôi đương nhiên trở thành một sinh viên thực thụ. Tôi làm thẻ sinh viên, lần mò vào thư viện đọc sách, làm quen với một số bạn bè cùng lớp để nói chuyện và chia sẻ từng miếng bánh trong giờ giải lao. Tôi biết cách mua sách cũ “tự động” trong thư viện: chỉ cần bỏ 25 xu vào một cái hộp sắt rồi cầm cuốn sách đi ra mà không bị ai kiểm tra, kiểm sốt; biết cách dùng mày đổi tiền giấy ra thành những đồng xu lẻ để dễ dàng đi xe bus… Trong bốn lớp theo học, tôi không tìm được một người bạn “cố hương” nào. Tất cả đều là người ngoại quốc đến đất Mỹ từ khắp mọi nẻo trên hành tinh: Đại Hàn, Trung Hoa, Nhật Bản, Indonesia, Trung Đông, Âu châu, Iran, Mexico v.v.. Trong một giờ giải lao, tôi quen một bà bạn người Nam Hàn, 58 tuổi. Nghe nói tôi học đến bốn lớp, bà kêu lên: “Trời ơi, tao không hiểu thời giờ đâu để mầy làm homework (bài làm ở nhà)?” Ai cũng ngạc nhiên khi biết tôi mới sang Mỹ có…một tháng. Hầu hết đều ở Mỹ từ một năm trở lên, nói tiếng Anh sỏi như người bản xứ. Có điều, tôi không sao hiểu được họ nói cái gì vì cách phát âm của mỗi người mỗi khác. Dần dà, tôi thật lòng không còn mấy hứng thú khi nói chuyện với các bạn “đồng môn”. Tôi phục các thầy cô giáo. Học trò nói cỡ nào họ cũng hiểu được và hiểu rất nhanh, không cần hỏi lại như tôi. Tôi lại tự nhủ lòng: “Thời gian sẽ giúp mình nghe được và nói được. Phải cố gắng thôi!” Khẩu hiệu quen thuộc nằm lòng mỗi khi tôi ngả lưng xuống giường ngủ… Không khí lớp học làm tôi thấy vui trở lại. Tiếng phấn viết lách tách, mùi bàn ghế gỗ… làm tôi nhớ những ngày thơ trẻ cắp sách đến trường. Chỉ khác là ở đây khô ráo, bãi cỏ xanh rì chung quanh thoang thoảng đưa lại hương gỗ thông. Thầy cô giáo thỉnh thoảng cho cả lớp coi phim, hoặc nghe một đoạn nhạc… Đôi khi, thầy cho… chơi trò chơi, tất nhiên cũng là một cách học tiếng Anh. Tôi làm quen với không khí “vô cùng tự nhiên” trong lớp học. Một anh chàng Trung Đông bỗng dưng chọn một cái ghế ở cuối lớp, dựa lưng vào tường… ngủ, mặc cô giáo đang giảng bài. Vài cô bé quay xuống nhìn đôi mắt nhắm nghiền, hai tay khoanh trước ngực của anh ta, kêu lên nho nhỏ: “Oh, my God”. Có lúc, cô giáo chuẩn bị cho làm bài kiểm tra, một nhóm đến bốn “chàng” nhi nhí đứng dậy, thản nhiên… ra về. Và rất thường, khi lớp học đã bắt đầu cả nửa tiếng đồng hồ, bỗng xuất hiện một anh chàng. Anh ta đẩy cửa bước vào “tỉnh bơ” như không, chẳng một lời xin lỗi cô giáo… Lạ lùng là thầy cô vẫn tỏ ra lịch sự, như không có gì xảy ra! Lớp thường được chia thành nhóm thảo luận. Đó là lúc chúng tôi ồn ào hỏi chuyện nhau: gia đình, chồng con, hoàn cảnh, nghề nghiệp, đời sống, sở thích v.v.. và v.v.. Lớp vỡ ra như cái chợ. Bỗng cô giáo bật công tắc: mười mấy ngọn đèn tắt ngấm. Lớp học tối thui. Cả lũ chúng tôi ngơ ngác, nhìn qua nhìn lại, chỉ thấy một… màn đêm. Trật tự trở lại… Từ đó về sau, mỗi khi cô giáo tắt đèn, chúng tôi hiểu là phải im lặng để nghe cô nói. Tôi còn chọn một giờ học với tutor (người phụ giảng) để tập nói tiếng Anh mà không phải trả tiền. Nhà trường trả thù lao cho ông ấy mỗi giờ 7 đô la. Giờ phụ giảng cũng khá đông, tôi có thêm bạn mới: bảy người. Chúng tôi nói đủ chuyện trên trời, dưới đất, chuyện ăn uống hàng ngày… Ở đây, nếu không dạn nói thì sẽ bị thiệt. Chúng tôi nói lung tung, nói không cần suy nghĩ. Thỉnh thoảng, thầy phụ giảng dựa theo đó mà giải thích thêm. Tôi đâm… ghiền, thèm nói tiếng Anh đến nổi cứ bạ ai cũng bắt chuyện. Gặp một cô bé người Mỹ gốc Đan Mạch trên cùng tuyến xe bus, tôi gạ chuyện. Cô cũng trả lời, song chỉ được chừng hai – ba buổi thì tôi không thấy cô bé đi cùng. Ở đây không ai để ý đến ai. Các cuộc giao tiếp giữa những người mới quen nhau rất họa hoằn. Bây giờ thì tôi hiểu được rằng vì sao có những người Việt Nam thế hệ thứ nhất ở Mỹ cả chục năm vẫn không nghe và nói được tiếng Mỹ. Thời khóa biểu xếp lớp dầy đặc đến nổi không có giờ nghỉ trưa. Tôi rời lớp này lúc 11g rưỡi trưa, lật đật phóng nhanh đến lớp khác bắt đầu lúc 12g, vừa chạy vừa gặm ổ bánh mì cho đỡ đói. Tôi bỏ hẳn giấc ngủ trưa như khi còn ở bên nhà. Có lúc ngồi trên xe bus, không kềm nổi cơn buồn ngủ, tôi thiếp đi một chút. Khi giật mình tỉnh giấc thì xe bus đã đi quá một block đường. Lội bộ một đoạn trở về nhà dài gần cả cây số, tôi chầm chậm bước trên lề đường vắng lặng, hít thở không khí trong lành. Chỉ có cây xanh, gió mát, và hương thông thoang thoảng. Một Đà Lạt nhỏ là đây. Thanh bình, quá đỗi thanh bình, và thanh thản - cực kỳ thanh thản, nếu tôi đừng nhớ gì đến…bên nhà! Có đến 90% hành khách đi xe bus là dân Mễ. Số ít còn lại là châu Á như tôi, hoặc người Trung Đông. Vừa lên xe, họ nói “hi” để chào bác tài. Có bác tài vừa lái xe, vừa hát rân trời. Một vài hành khách ý chừng đã quá quen, trò chuyện với bác tài suốt buổi. Lần đầu tiên nhìn một người khuyết tật đi xe bus, tôi trố mắt kinh ngạc. Bác tài xế mở cửa, cho xe nghiêng hẳn một bên, hú còi bí bo liên hồi và hạ một tấm sắt to bằng cái cửa, vững vàng như một chiếc cầu để người lái xe lăn chạy lên. Bác tài còn cẩn thận cột dây cho xe lăn an toàn rồi mới ngồi vào vô lăng. “Trông người mà tưởng đến ta”: ở bên nhà, hành khách chưa kịp xuống thì xe bus đã vọt chạy, hất họ té nhào xuống đường… Ở đây, xe bus chạy rất đúng giờ. Cứ y như là giờ đó, ngang đó, chiếc xe bus dừng lại để đón khách. Mỗi lần đợi xe – trung bình khoảng nửa tiếng đồng hồ, đủ để tôi đọc được mấy mươi trang sách, khi tiếng Việt, lúc tiếng Anh. Hình như thói quen chờ xe bus giúp tôi có điều kiện để “mở mang kiến thức”. Tôi thích nhất là những nụ cười hóm hỉnh luôn nở trên môi của thầy cô giáo. Họ pha trò cho chúng tôi cười. Không khí học tập không bao giờ ngưng đọng. Nội qui cấm sử dụng điện thoại di động (cell phone) trong giờ học. Nhưng khi cell gọi, thầy cô giáo múa theo tiếng nhạc làm ai nấy phì cười. Giữa chúng tôi hầu như không có khoảng cách, trái lại, gần gũi như người thân trong nhà. Tôi đã từng thấy sau những buổi tan học, thầy cô vẫn nán lại hàng mươi phút để giảng bài cho những người chậm hiểu. Tôi biết đó là cơ hội tốt cho những người chậm hiểu như tôi, song tôi còn nhát gan, chưa muốn nắm lấy. Những lần thầy cô giáo không đến lớp, chúng tôi reo mừng như trẻ con. Tôi nhớ lại thời trung học. Thời nào cũng vậy, kể cả lúc tuổi đã năm mươi lăm, có cháu nội, cháu ngoại, tôi vẫn còn được những “niềm vui bất tận” mỗi khi thầy giáo nghỉ dạy bất ngờ! Thường thì chúng tôi được thông báo bằng một tấm giấy dán trước cửa lớp. Đôi khi, chờ 15 phút sau giờ học không thấy thầy cô đến thì cứ… về. Và thế là tôi có dịp đi…shopping. Hai tháng học tập trôi qua, một hôm khi đi chuyển lớp một khoảng 2 cây số, từ N3 đến thư viện, tôi nghe tiếng còi xe vang lên ở sau lưng. Suziana – cô bạn học chung, người Indonesia gốc Tàu, đã ở Mỹ đến 11 năm, dừng xe lại ra dấu cho tôi lên xe. Từ đó, Suzi - tên gọi tắt của Suziana, “tình nguyện” đưa đón tôi mỗi tuần ba ngày học chung để có bạn chuyện trò trên đường đi học. Tôi “được” nhiều hơn vì ngoài niềm vui có bạn, còn tiết kiệm được thời gian lẫn tiền bạc. Gần cuối khóa, các lớp học trở nên vắng vẻ. Lớp nào cũng chỉ còn một nửa số sinh viên. Đám châu Á chúng tôi kiên nhẫn theo học đến giờ phút cuối, ăn liên hoan chia tay rồi mới nghỉ. Một người bạn mới quen, Suzi năn nỉ thầy Hunt nhận cô vào học tiếp khóa sau, cũng 0 Unit – không phải đóng học phí. Suzi “please” luôn miệng khiến thầy Hunt phì cười. Bạn tôi nói vui khi tôi vác balô mở cửa vào nhà: “Tôi sẽ cấp cho chị bằng… đi xe bus đến trường”. Sáu tháng ở vùng Orange County, năm tháng đi học trường Saddleback College, tôi rành các chuyến xe bus, đi từ nhà đến trường, từ nhà đến thư viện, đi shopping, đi chợ VN… Tôi có thể tự tin khi trò chuyện tiếng Anh và nghe tivi khá hơn trước rất nhiều. Vừa được du lịch nhiều thành phố lớn ở Mỹ trong dịp nghỉ đổi mùa (Spring break), vừa được học một khóa tiếng Anh dài 5 tháng, tôi đã được quá nhiều trong sáu tháng ở đây. Một khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng đầy ắp những kỷ niệm khó quên đầy thú vị của tuổi sinh viên “under 60”. |
|
#50
|
|||
|
|||
|
Trích:
|
| Có 1 thành viên cảm ơn phonphot vì bài viết có giá trị: | ||
|
#51
|
|||
|
|||
|
Ờ nước ngoài, sau y, có lẽ dược là ngành được nhiều sinh viên VN chọn
Dược khoa …. nghề đang thịnh hành của người Việt? Hữu Tình Có một người preceptor hỏi bạn tôi rằng "tại sao có nhiều người Việt Nam nói riêng và Á đông nói chung học dược vậy?” Trong lúc bối rối bạn tôi chỉ trả lời "I don’t know." * Nếu có ngườí hỏi tôi câu đó thì tôi cũng không thể đưa ra câu trả lời đầy đủ chi tiết trong vài phút được. Tôi thật là hiếu kỳ về câu hỏi này. Tôi muốn biết những sinh viên cùng ngành có suy nghĩ gì? Hôm nay, tôi muốn đào sâu vào vấn đề này và tìm hiểu giữa dược khoa và văn hóa, cách suy nghĩ của người Việt Nam có liên hệ như thế nào? Nói tới văn hóa và truyền thống, Tết là truyền thống mỗi người Vỉệt Nam đều thuộc lòng. Tết đến, theo tục lệ ở quê nhà người ta hay "chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu” như trong thơ của Tú Xương, chúc mạnh khỏe, bình an, và an khang thịnh vượng. Ở Mỹ, ngoài những lời chúc truyền thống ra, chúng ta còn sáng tạo ra những từ ngữ mới như là "Chúc bạn năm mới có job thơm." Nói đến "job thơm" thì làm dược sĩ trong lúc hiện tại và tương lai cũng tương đối gọi là "thơm". Cái thơm thứ nhất là vấn đề tài chánh. Ngành dược được dễ kiếm việc, nhẹ nhàng, và mang lại được nguồn tàỉ chánh tương đối sung túc. Quan trọng hơn nữa là gia đình Việt Nam thích nghe tiếng thơm và coi trọng về vấn đề mặt mũi. Cha mẹ muốn con cái mình là thành phần trí thức được "nở mặt nở mày" với bà con cô bác ở Mỹ cũng như ở Việt Nam. Hơn nữa họ cũng được vui khi nhìn thấy con mình có một tương lai vững chắc. Đặc biệt nhất là sự học hành đã được coi trọng hàng đầu trong văn hóa Việt Nam chúng ta từ thời xa xưa. Lúc xưa, ba năm có một kỳ thi ở kinh thành. Khi thi đậu về làng, lúc "vinh quy bái tổ" là một sự vinh hạnh lớn cho gia đình và dòng họ. Từ đó sự coi trọng về vấn đề học vấn hằng ăn sâu vào lối sống và cách suy nghĩ của người Việt Nam cho đến nay. Nói tới chuyện học dược, một phần các sinh viên Việt Nam với tính chất siêng năng, chịu khó, và hiếu kỳ về khoa học. Hơn nữa dược khoa cũng không đòi hỏi nhiều kiến thức chính trị hoặc viết luận văn bằng tiếng Anh mà nhiều sinh viên Việt Nam không thích lắm. Để thật sự hiểu những lý do cá nhân làm các sinh viên Việt Nam chọn ngành dược, tôi có phỏng vấn vài người sinh viên cùng ngành trong và ngoài tiểu bang. Với tính cách là một người bạn, nếu tôi hỏi lý do nào khiến bạn chọn ngành dược thì bạn trả lời sao? Sinh viên 1: Ngành dược là sự chọn lựa thứ nhì của tôi. Tôi thích ngành y nhưng học không được vì tôi sợ máu. Bởi vậy tôi đành chọn ngành mà liên quan tới sự ước mơ của tôi. Lý do thứ nhì là vì mẹ tôi muốn tôi học dược mặc dù tôi không thích lắm. Lý do thứ ba là tôi dễ tìm việc trong ngành dược hơn các ngành khác như hóa học, kỹ sư, thương mại, hoặc kế toán. Sinh viên 2: Bởi vì ngành kỹ sư hóa chất bấp bênh quá, lại không có việc làm. Sinh viên 3: Tôi học dược bởi vì hầu hết các bạn tôi đều học dược. Tôi là một người bạn trung thành. Bạn bè đi đâu tôi đi đó, miễn sao có tiền được rồi. Sinh viên 4: Làm tiền dể lại không đồ mồ hôi nhiều. Thị trường đang thiếu dược sĩ. Sinh viên 5: Tôi thích làm với nhiều người và nói chuyện với bệnh nhân nhưng tôi không thích máu và đụng đến họ. Sinh viên 6: Tôi thích thuốc men vì sự kỳ diệu của nó có thể chữa lành bệnh. Nghề dược cũng là một nghề vững chắc, vừa với khả năng học của tôi, lại có địa vị xã hội cao. Sinh viên 7: Ba tôi bị bệnh thường xuyên nên tôi muốn hiểu thêm về thuốc. Nghề này cũng vững chắc. Sinh viên 8: Kiếm tiền nhanh hơn y khoa để giúp đở gia đình nghèo. Sinh viên 9: Tôi không có thẻ xanh bởi vậy không học y được. Vả lại sự thi đua vào các trường y nặng quá mà khả năng Anh ngữ của tôi yếu hơn tụi Mỹ và những đứa qua đây hồi nhỏ. Nếu nói về thời gian và tiền bạc thì ngành dược thực tế hơn. Sinh viên 10: Ba mẹ tôi nói "con phải học bác sĩ”. Con học bác sĩ không nổi nên con học dược. Sinh viên 11 : Tôi bị các trường y từ chối. Sinh viên 12: Lương cao. Tôi có con rồi nên cần tiền để lo cho nó và gia đình. Sinh viên 13: Tôi không có chuyện gì kbác để làm. Sinh viên 14: Tiền. Sinh viên 15: Tôi không được nhận vào trường phim ảnh và ngành dược cũng tương đối dễ. Sinh viên 16: ở nhà tôi nói ngành dược nhàn lắm so với y hoặc nha. Sinh viên 17: Ba tôi bảo khả năng của tôi thích hợp với ngành dược. Sinh viên 18: Dược sĩ được quần chúng tin cậy và tín nhiệm rất nhiều, có thể nói là tuyệt đối. Theo bản thống kê thăm dò ý kiến quần chúng về các ngành nghề ở Hoa kỳ, trong mấy năm liền, Dược sĩ đã được xếp đứng hạng đầu trên danh sách 10 chuyên gia được quần chúng tin cậy bậc nhất, trên cả các nhà lãnh đạo Tôn giáo và Bác sĩ. Lý do mà tôi chọn ngành dược thật cũng giống với lý do của các bạn tôi phỏng vấn. Tôi có tính hiếu kỳ về khoa học và sự vững chắc của nghề nghiệp dễ cho tôi cơ hội để giúp đỡ gia đình. Lúc nhỏ tôi cũng thường hay mơ mộng là mình sẽ tìm tòi, nghiên cứu, và sáng tạo. Nhưng bây giờ hình như tôỉ đang đi với châm ngôn "không thực làm sao vực được đạo". Bởi vậy nói tới vấn đề học vấn và tương lai tôi cảm thấy mình tầm thường quá. Nhưng chuyện làm tôi vui vui là khi nhìn thấy người trong cộng đồng đón tiếp sự giúp đỡ của tôi một cách nồng nhiệt. Có lần tôi tiếp xúc với một bà cụ trong dịp Health Fair do VPSA tổ chức vào tháng sáu năm ngoái. Trong lúc tôi loay hoay đo máu và giải thích kết quả áp xuất máu cho bà cụ, bà tỏ vẻ cám ơn và rất vui vẻ. Bà nói “Các cô cậu tuổi trẻ tài cao, còn trẻ mà rất hiểu biết làm tôi rất cảm mến." Cũng như mọi người khác khi được lời khen tôi dĩ nhiên là thấy vui vui trong lòng. Nhưng đồng thời tôi càng cảm thấy mình thật nhỏ bé và trong thâm tâm hình như tôi không được xứng đáng với lời khen “tuổi trẻ tài cao" đó. Vả lại tôi cảm thấy mình quá là tầm thường vì dược khoa đối với tôi là kết quả của sự chăm chỉ, siêng năng và thời gian chứ không phải là sự thông minh hay tài ba tuyệt đỉnh gì hết. Những gì tôi hiểu biết được tuy là có hơn một số người nhưng đó chỉ là vài giọt nước trong đại dương. Tôi thường hỏi mình khi trở thành dược sĩ rồi sau năm năm, mười năm, hay hai mươi năm, tôi sẽ tiếp tục làm gì? Thật sự tôi không biết. Liệu tôi sẽ tiếp tục đứng sau nửa vách tường để “đếm thuốc" hay tôi có thể tự mở cửa cho mình để nghiên cứu hay sáng tạo cái gì mới mẻ, đặc biệt cho ngành dược? Nhưng khả năng vốn ít ỏi bằng vài giọt nước trong đại dương mà nói tới sáng tạo và nghiên cứu thì hơi có vẻ không thực tế. Nói chung sự hiểu biết trong nghành chăm sóc sức khoẻ tuy rất là quan trọng nhưng nó là quan trọng thứ nhì. Việc quan trọng thứ nhất là sự chăm lo, nhiệt tình, niềm nở, và lương tâm của người dược sĩ. Vì thiếu những tính chất đó, chúng ta sẽ thiếu nụ cười và lòng cảm ơn từ bệnh nhân, lúc đó công việc của chúng ta nhàm chán lắm. Trong ca dao Việt Nam có câu "một miếng khi đói bằng một gói khi no." Bởi vậy tuy chúng ta cảm thấy sự hiểu biết về dược tuy còn ít ỏi đó thật là quí báu cho những người trong cộng đồng kém hiểu biết hơn. Điều quan trọng ở đây là chúng ta có tận lực tận tâm giúp đỡ những người cần đến chúng ta, đặc biệt là những người còn lại ở Việt Nam. Nếu đặt vào vị trí đó mình mới "bước thêm môt bước" để làm việc vì việc mình làm là cần thiết cho sức khỏe của bệnh nhân chứ không phải vì công việc làm của mình trói buộc mình làm như vậy. Tuy đường về quê hương để giúp đỡ những người Việt Nam còn rất dài, rất dài nhưng chuyện đại sự nào cũng phải bắt đầu từ dòng suy nghĩ rồi mới đi tới hành động. Nếu chúng ta muốn một cây cổ thụ chúng ta phải bắt đầu từ một hạt giống, rồi tới mầm non, rồi tới cây con. Ngay bây giờ, tôi không có cây con, cũng chẳng có mầm non. Nhưng tôi có một hạt giống nhỏ. Ước mong sao mưa thuận gió hòa làm hạt giống của tôi và các sinh viên khác nảy mầm để trở thành cây cổ thụ. Dầu sao thì chuyện đó còn hơi xa trong tương lai. Chuyện trước tiên là tôi sẽ dành một chút thời gian để giúp VPSA làm hội chợ sức khỏe trong hội chợ Tết năm nay. Các bạn ơi, hãy tạo điều kiện cho hạt giống của chúng ta nảy mầm! * Tôi không biết |
|
#52
|
|||
|
|||
|
Người tù kiệt xuất
Phan Lạc Phúc Tôi vừa nhận được bưu kiện từ một người bạn tù ở Mỹ gởi sang. Người bạn ấy, tôi đã xin phép bạn đọc một đôi lần nói đến: Nguyễn Hữu Luyện (NHL), người tù kiệt xuất. Anh là người chỉ huy Biệt Kích nhảy dù ra Bắc trong cuộc “chiến tranh tối mật” hồi đầu thập niên 60. Sau một thời gian hoạt động, anh và đồng đội bị bắt và tù Biệt Kích trở thành một loại tù không số quân, không nơi nào nhận, không tuổi, không tên, những người tù bị bỏ quên trên hành tinh trái đất. Đó là số phận thê thảm dành riêng cho những người tham dự “secret war”. Tưởng rằng những người tù Biệt Kích không tuổi không tên sẽ chết dần theo tháng năm ở một xó rừng nào đó, nhưng đầu thập niên 80, nhờ sự quan tâm đặc biệt của tổng thống Reagan, hồ sơ mật này mới mở ra và tình trạng những người tù bị bỏ quên lần lần được đưa ra cứu xét. Các Biệt Kích Dù từng lớp được tha về sau trên 20 năm bị “cất dấu” trong những trại tù khủng khiếp vùng rừng thiêng, nước độc. Tôi gặp NHL năm 1982 ở trại Thanh Phong, ở rừng sâu Thanh Hóa, giáp giới Hạ Lào. Sau đó trại Thanh Phong giải thể, chúng tôi được chuyển sang trại Tân Kỳ - Nghệ Tĩnh. Tôi được chuyển về Nam và được tha vào năm 1985. Nghe nói cuối thập niên 80, NHL mới được “ra trại”. Như vậy anh Luyện và đồng đội Biệt Kích của anh đã ở tù một hơi trên 20 năm. Theo lời anh em kể lại và theo những gì tôi được mục kích khi ở cùng trại, NHL là một người tù đặc biệt. Duy nhất có một mình anh là không đi lao động, mà cũng không làm một việc gì trong trại. . Đó là một biệt lệ. Trước cán bộ Cộng Sản, NHL luôn luôn giữ vững lập trường: “Tôi NHL, đại úy QLVNCH, tôi mới thua các anh một trận mà chưa thua trong cuộc chiến này. Tôi có danh dự của một sĩ quan. Theo đúng quy định Genève, sĩ quan không làm những công việc mất phẩm cách”. Sau đó, đủ trò thuyết giảng, kiểm điểm, cách ly, kiên giam cùm chân, bỏ đói trong hầm tối… cán bộ trại đã thi hành đủ mọi biện pháp trừng phạt từ mềm đến rắn, mà NHL vẫn trước sau như một. Ít có người nào giữ vững lòng son dạ sắt suốt trên 20 năm trời như thế. Anh son sắt đến nỗi các trại tù Cộng Sản trước sau đều phải chấp nhận một biệt lệ nơi anh. Anh là một mẫu người bất khuất còn sót lại, những người dám sống dám chết cho lý tưởng của mình. Khi tôi gặp anh 1982 ở Thanh Phong, miền Nam đã mất được 7 năm rồi. Tôi có ý muốn nhắc anh về sự chấm dứt của nền Đệ Nhị Cộng Hoà và sự bị bức tử của Miền Nam thì anh nói: “Cuộc chiến của chúng ta chưa chấm dứt đâu anh. Tôi từ chối lao động ở trong trại, không phải là tôi sợ khó, sợ khổ mà tôi muốn giữ phẩm giá cho sĩ quan hay rộng hơn cho phẩm giá con người.” Tôi tạm biệt anh ở trại Tân Kỳ năm 1983, từ đó chưa gặp lại anh nhưng tôi vẫn theo dõ bước chân của một người bạn tù tôi hết lòng kính phục. Tôi được tin anh về cuối thập niên 80 – và theo chương trình HO năm 1993 anh tới Mỹ. Năm 1994, anh đi học lại tại đại học Boston University miền Đông Hoa Kỳ. Ở NHL, có một khát khao kỳ lạ về học hỏi và tri thức. Ngày ở trại Tân Kỳ, thấy anh cả ngày không đi làm… cứ quay mặt vào tường đọc một cuốn sách dày (anh người Ki-Tô hữu) nên tôi tưởng anh đọc Thánh Kinh. Nhưng một bữa anh mang cuốn sách đó lên hỏi một ông bạn tù nguyên là giáo sư Anh Văn nằm bên cạnh, tối mới hay đó là một cuồn tự điển tiếng Anh. Mới ngày nào học tiếng Anh từng chữ như vậy, mà năm 1998 vừa qua anh đã tốt nghiệp BA ưu hạng về xã hội học tại Boston University. Anh gửi thư cho tôi nói rằng: “Bây giờ cổng nghĩa trang đang đợi mình rồi, nhưng ngày xưa chưa được học thì bây giờ phải học”. Năm nay (2000), tháng 6 vừa qua anh vừa tốt nghiệp Cao Học MA cũng tại Boston Uni. Anh cũng cho hay là sắp sửa 70 rồi, nhưng nếu trời cho còn khoẻ mạnh sẽ học tiếp tục lên Ph.d. Sang Mỹ, NHL đã già, trên 60 tuổi lại định cư ở miền Đông giá lạnh, rất ít người Việt nhưng anh đi học lại được nhờ chị NHL, không nề hà công việc chân tay, đi làm để anh NHL có thể đến trường. Năm 1998 vừa qua, nhân ngày tốt nghiệp BA tại Boston Uni., anh gửi bức hình cho tôi và trân trọng ghi ở đằng sau: “Xin phép được báo tin tới anh, người bạn tù đã khuyến khích tôi học Anh Văn trong trại cải tạo. Cái vinh dự nhỏ này xin được tặng cho nhà tôi… người đã chờ đợi tôi trên 20 năm tại quê nhà… thay tôi chăm sóc nuôi nấng các con, và bây giờ lại đi làm ngày đêm vất vả cho tôi được đi học lại” … Trong thư hồi âm sau đó, không những tôi chúc mừng anh mà chúc mừng luôn cả chị, một đôi vợ chồng rất xứng đáng với nhau. Tôi cũng hỏi anh là đi học như vậy có dự định gì không? Có chương trình gì không? – thì anh trả lời: “Ngày trước chưa được học thì bây giờ phải học. Mình già rồi, có bằng cấp thế nào chăng nữa cũng không có ai thuê mướn. Mình chỉ là anh tù già lưu vong chả có mộng làm vương làm tướng gì. Nếu có thể gọi là mục đích thi người già đi học để cho trí óc nó đỡ rỉ sét – mà mình cũng tự trang bị cho mình thêm một ít nhận thức. Hay gần hơn một chút, mình đi học để cho lũ trẻ nó sẽ theo mình đi học… và thời buổi này, phải đi học suốt đời, không học là ngừng lại… không ai đợi mình đâu”. Ngày ở trong trại cải tạo trên 20 năm anh chiến đấu không ngừng cho phẩm giá sĩ quan, phẩm giá người tù – thì bây giờ ở xứ sở Tự Do, anh lại tiếp tục chiến đấu cho tri thức, cho văn hóa. Anh là người đã bước vào thế kỷ 21, vào thiên niên kỷ thứ 3 nhưng ở Nguyễn Hữu Luyện vẫn thấy anh thực hiện đúng lời nhắn nhủ của cổ nhân: “Kẻ sĩ uy vũ bất năng khuất… ba ngày không đọc sách, soi gương thấy mặt mũi khó coi…”. ![]() Đại úy biệt kích Nguyễn Hữu Luyện trong cuộc phỏng vấn của đài Little Saigon Radio |
|
#53
|
|||
|
|||
|
Các trường đại học dược khoa
Hoàng Châu (viendongdaily) Ngành Dược hiện đang thu hút các sinh viên trong cộng đồng Việt Nam theo học vì dễ xin việc sau khi ra trường, lương bổng cao và điều kiện làm việc tương đối ít căng thẳng hơn những ngành khác. Hiện nay tại California và hầu hết trên toàn nước Mỹ, hành nghề Dược sĩ đòi hỏi văn bằng Tiến sĩ Dược khoa (Doctor of Pharmacy hay gọi tắt là PharmD). Ngoài ra ngành Dược cũng là một trong những ngành được sự tín nhiệm về sự thành thực và đạo đức nghề nghiệp cao nhất (Honesty and Ethics in Professions) – cao hơn cả quan toà, bác sĩ và nhà giáo (Gallup Poll 2004). Sau thời gian học dự bị Dược hay sau khi có bằng Cử nhân, các ứng viên được tuyển chọn vào đại học Dược khoa sẽ theo học chương trình Tiến sĩ Dược 4 năm – nhưng cũng có trường rút ngắn lại 3 năm như các trường đại học Dược khoa sau: - Massachusetts College of Pharmacy – Worcester, Midwestern University – Glendale, Midwestern University – Chicago, Duquesne University, University of Appalachia, University of Southern Nevada, Albany College of Pharmacy … I. Những yếu tố ảnh hưởng khi nộp đơn vào Đại học Dược khoa Ban tuyển sinh các trường đại học Dược khoa xem xét hồ sơ trên mọi lãnh vực, đặc biệt những việc như tình nguyện trong bệnh viện, nghiên cứu trong phòng lab… là những điểm mạnh của một ứng viên. Trường đại học ứng viên theo học bậc Cử nhân (trước khi vào trường Dược) cũng rất quan trọng. Nếu ứng viên xuất thân từ một trường đại học tên tuổi thì đó là một ưu điểm. Một số trường Dược đòi hỏi phải có văn bằng Cử nhân Khoa học trước khi nhập học nhưng cũng có một số trường chỉ đòi hỏi học xong một số lớp yêu cầu ở cao đẳng cộng đồng. Sau đây là những yếu tố ảnh hưởng tới quyết định tuyển sinh của các đại học Dược khoa: 1. GPA - Thông thường, các trường đại học Dược khoa tìm kiếm những ứng viên có thể đáp ứng được chương trình thách đố của trường Dược mà không bỏ ngang làm mất nguồn lợi thu nhập cũng như danh tiếng trường. Muốn vậy họ nhìn vào GPA tổng quát (thường là trên 3.2) cũng như những môn khoa học dự bị Dược (Pre-Pharm). Một số trường Dược lớn đòi hỏi kinh nghiệm trong các phòng thí nghiệm. Các ứng viên vào được trường Dược có GPA từ 3.0 – 4.0. Trung bình là từ 3.2 – 3.5. Để gia tăng tính cạnh tranh, ứng viên nên giữ GPA từ 3.3 trở lên. Tuy nhiên, cho dù GPA có thấp vẫn nên mạnh dạn nộp đơn vì các trường đại học không chỉ nhìn vào GPA mà thôi. Ngoài ra khuynh hướng đi lên của điểm (năm sau tốt hơn năm trước) cũng được xem xét. 2. Điểm thi PCAT - PCAT (Pharmacy College Admission Test) là kỳ thi dành cho những ứng viên muốn vào trường Dược. Kỳ thi này đo lường khả năng thành công của ứng viên khi theo học tại các trường đại học Dược khoa. PCAT khảo sát :
3. Luận văn - Bài luận văn thường là dịp để các ứng viên mô tả những kinh nghiệm khiến cho họ muốn trở thành Dược sĩ. Lý tưởng nhất là mô tả được làm việc hay tình nguyện trong một nhà thuốc, bệnh viện và những suy nghĩ, quyết tâm chọn lựa ngành Dược làm nghề nghiệp. Kinh nghiệm về làm việc hay tình nguyện trong lãnh vực Dược là điều không thể thiếu trong đơn xin nhập học. Các ứng viên nên quan tâm đến điều này.Ngoài ra, tất cả các trường Dược đều tìm kiếm ứng viên có tình nguyện phục vụ cộng đồng trong việc thiện nguyện giúp đỡ mọi người. Ứng viên nên tìm hiểu những trường nộp đơn để biết được yêu cầu của mỗi trường. Ban tuyển sinh tin tưởng rằng: qua phục vụ cộng đồng, ứng viên biết làm việc với người khác, phát triển kỹ năng giao tiếp và lãnh đạo chỉ huy. 4. Thư giới thiệu - Ứng viên hãy tình nguyện làm việc thiện nguyện trong một nhà thuốc và xin thư giới thiệu (recommendation) từ Dược sĩ coi sóc nhà thuốc này. 5. Thoả mãn một số môn học đòi hỏi II. Những phương cách các trường đại học Dược khoa nhận sinh viên 1. Chương trình liên kết - Được dành cho những học sinh trung học xuất sắc. Những học sinh này sau hai năm học dự bị Dược được chuyển thẳng vào đại học Dược khoa mà không phải qua quá trình tuyển chọn nên tiết kiệm được thời gian và tiền bạc. Một số trường tiêu biểu như: Albany College of Pharmacy, Florida A & M University, Massachusetts – Boston, Northeastern University, Ohio Northern University, Philadelphia College of Pharmacy, Rutgers University, St. John's University, St. Louis College of Pharmacy, University of Texas Austin, Pacific California… 2. Từ trường cao đẳng cộng đồng - Sau khi hoàn thành dự bị Dược, sinh viên nộp đơn vào một số trường không đòi hỏi văn bằng Cử nhân. Không phải tất cả các trường Dược đều có chương trình này. 3. Tốt nghiệp Cử nhân - Dĩ nhiên các trường Dược muốn nhận những người có văn bằng cao hơn và do vậy các ứng viên có văn bằng Cử nhân thường được ưu tiên hơn. III. PharmCAS (Pharmacy College Application Service) Vì vào các trường đại học Dược khoa rất cạnh tranh nên các ứng viên thường phải nộp đơn nhiều trường. PharmCAS là một hệ thống nhận đơn của các ứng viên rồi sau đó chuyển xuống các trường đại học Dược khoa. Họ làm dịch vụ của một người trung gian giúp cho sinh viên cũng như các trường đại học Dược khoa trên khắp lãnh thổ Hoa kỳ. PharmCAS giúp các trường đại học Dược khoa gom góp hồ sơ và phân tích mức độ hợp lệ của các ứng viên. Với các ứng viên, PharmCAS cung cấp thông tin của các trường, nhận hồ sơ và giúp các ứng viên điều chỉnh những sai sót nếu có. Muốn vào được các trường đại học Dược khoa, ngoài việc học hành chăm chỉ, các ứng viên phải có thời gian làm việc hay công tác thiện nguyện trong ngành Dược hoặc làm nghiên cứu (research) trong các phòng thí nghiệm của các trường đại học khi theo học bậc Cử nhân để có một hồ sơ tương đối hấp dẫn các trường đại học Dược khoa. |
|
#54
|
|||
|
|||
|
ở Mỹ người học nhận kiến thức bằng tiền của mình nên càng học lâu càng tốn kém, bác nào muốn kinh tế hơn thì có thể nghĩ đến các nước như Pháp, Đức, những nơi mà nền giáo dục được nhà nước tài trợ toàn bộ. Học sinh, sinh viên các nước này khỏi "đau đầu" vì học phí và còn được hỗ trợ tiền thuê nhà, chi phí đi lại bằng phương tiện công cộng, y tế, giải trí ...
__________________
Thượng đế ban Thiên Đàng cho những người nghèo, còn những người giàu thì hạ giới chính là thiên đường |
|
#55
|
|||
|
|||
|
Trích:
__________________
HVB chuyên nghiệp : nói không cần nghĩ đang tập làm HVB, mong nhân dân X-Cà ủng hộ! sau 1 thời gian thử thách, em đã bị đẩy về hàng ngũ Rân Chủ chính sách của Đảng: sáng đúng, chiều sai, sáng mai... lại đúng |
|
#56
|
|||
|
|||
|
không có đâu,đứa cháu tôi du học ở Pháp vẫn được hưởng đầy đủ quyền lợi của 1 sinh viên bình thường :
cả năm học chỉ đóng 300-400 euros, bao gồm cả bảo hiểm y tế. được hỗ trợ gần phân nửa tiền thuê nhà từ tổ chức CAF. làm thẻ đi metro, bus, với giá gần phân nửa giá vé bình thường.(không có chuyện kỳ thị thẻ tháng ở đó đi tham quan, xem phim, giải trí đều có giá ưu đãi cho sinh viên Nói chung là đáng để cân nhắc cho các bác có con em muốn du học mà kinh tế không dồi dào |
|
#57
|
|||
|
|||
|
Có giống quít trồng ở đất Giang Bắc thì chua, Giang Nam thì ngọt, như vậy tại cây hay tại đất?
Anh Không Bao Giờ Già Để Học Nguyễn Văn Khôi (vietbao) Sau 30-4-1975 tôi đã bị bỏ phí 18 năm, thời điểm tràn đầy nhựa sống của đời người, để bị giam vào tù “Cải Tạo” 7 năm, tiếp là quản chế 11 năm. Khi được đặt chân đến Hoa Kỳ thì tuổi đã gần 62. Tôi đi theo diện HO9, vì phải bổ túc hồ sơ cho 4 đứa con có gia đình, để được cùng đi một lúc với tôi do cặp vợ chồng đứa con thứ 2 của tôi đang sống ở Mỹ bảo lãnh nên gia đình tôi đến Mỹ trễ hơn các gia đình cùng HO9 hơn 1 năm. Gia đình tôi đến Mỹ ngày 17-09-1993, gồm hai vợ chồng, 9 đứa con (8 trai, 1 gái) 4 con dâu và 4 đứa cháu nội, tổng cộng là 19 người. Sau 1 tháng, để hoàn tất các thủ tục cần thiết của người mới định cư, các con tôi bắt đầu đi kiếm việc làm để tự nuôi sống, khỏi làm gánh nặng cho xã hội Mỹ. Thật may mắn 8 đứa con trai và 1 đứa cháu lớn xin được việc làm cùng một hãng, cách nhà khoảng 20 phút lái xe, chủ hãng là người Việt Nam, cũng là di dân, đến Mỹ năm 1975, ông cũng thông cảm, tình đồng hương nên nhận hết. Còn 4 đứa con dâu và 1 đứa con gái , tìm đến các tiệm nails Việt Nam xin học nghề. Mấy ông bà chủ tiệm Nail cũng thông cảm hoàn cảnh, nên đã gồng mình để mỗi tiệm nhận vài đứa để học nghề. Có chuẩn bị trước khi còn ở Việt Nam, những đứa con dâu và gái cũng biết mài, dũa, sơn móng nên khi sang đây không bị bỡ ngỡ với cái nghề Nail, sau một năm chúng thi đậu lấy được bằng Nail. Các lao động chính đã tạm thời ổn định, ngày thì đi làm, tối đến trường học ESL. Còn 3 đứa nhỏ bắt đầu đi học, đứa lớp 1, đứa lớp 2, đứa lớp 3. Sau cùng, tôi đi xin việc. City này rất ít người Việt kinh doanh, ngoài tiệm Nail, nên những nơi tôi đến xin việc đều là chủ Mỹ. Đến đâu xin việc họ cũng đưa cho mẫu đơn để điền vào, khi điền đơn xong họ cũng vui vẻ nhận đơn, và nói về chờ điện thoại, nhưng không bao giờ nhận được điện thoại đi làm. Không được đi làm, ở nhà coi Tivi, Video cũng mệt. Bản thân khi còn ở Việt Nam ngày làm đơn xin đi Mỹ, đã có quyết tâm đến Mỹ phải đi làm hoặc đi học, cố gắng làm lại cuộc đời ở đất Tự Do. Kể từ ngày đó đến nay tôi quyết bỏ rượu, không hút thuốc. Nay không đi làm thì đi học, không để phí thời gian mặc dù đã 62 tuổi. Đi học với tuổi già không còn là mục đích để lấy bằng đầu tư xây dựng tương lai, mà bây giờ mình học là một cách giải trí thanh tao, học những cái kỹ thuật mới, và nếu được tốt nghiệp cũng là cái vinh dự cho bản thân và nhất là làm cái gương cho con, cháu. Cho nên tôi đến trường Victor Valley College gần nhà, trước tiên học ESL (English as a Second Language), trau dồi thêm Anh Ngữ cho vững. Muốn học lên College phải học 12 lớp ESL từ thấp đến cao như các lớp Speaking, Listening, Reading, Writting, Vocabulary và Grammar. Sau một năm rưỡi học xong ESL, xin học lên College, trước tiên cũng phải test Anh văn và Toán để trắc nghiệm trình độ, vì học College là phải tốt nghiệp High School, còn lớn tuổi học ngang phải Test. College ở Mỹ là Đại Học Cộng Đồng học 2 năm, còn University là Đại Học 4 năm. Sau khi Test được đủ điểm, tôi phải đến văn phòng EOPS (Extende Opportunity Program and Service ) gặp Counselor nhờ giúp để lấy những tín chỉ (unit) cho đúng với môn học. Gặp Counselor, ông tên là Smith Carl, khoảng 30 tuổi, rất vui vẻ, trình độ rất cao, có văn bằng B.A và M.A của trường California State University San Bernadino. Ông tiếp tôi rất vui vẻ, nhả nhặn hỏi tôi cần gì ông giúp, câu hỏi đầu tiên tôi hỏi ông là: “Nhà trường có nhận học sinh già như tôi nay đã 63 tuổi không?” Ông cười và chỉ cho tôi khẩu hiệu treo trên tường bên phải ông có hàng chữ:”YOU’RE NEVER TOO OLD TO LEARN” nghĩa là “ANH KHÔNG BAO GIỜ GIÀ ĐỂ HỌC” và ông nói với tôi: ”Ông đọc sẽ hiểu về tuổi tác giáo dục của Hoa Kỳ là học không kể tuổi”. Ông cũng hiểu tâm sự của tôi mục đích đến xin học, và ông Smith có nói thêm: “Đối với những người trẻ tuổi thì học với mục đích theo châm ngôn này”, ông lại chỉ cho tôi một câu khẩu hiệu treo bên trái ông có hàng chữ là: “THE FUTURE BELONGS TO THOSE WHO PREPARES FOR IT”. Tôi nói nhờ ông chọn cho một phân khoa, mà các tiết học, học để xử dụng những chức năng của Computer. Ông Smith nói: ”Computer ở Hoa Kỳ rất thông dụng, mọi nhà đều có để Học Sinh, Sinh Viên tìm tài liệu trên khắp Thế Giới mà tham khảo để làm bài, thay vì trước đây phải đến Thư Viện, các hãng xưởng, các công ty ghi các dữ kiện về nghành nghề của họ, các nơi kinh doanh buôn bán ghi hàng hóa xuất nhập, các Văn Phòng giao dịch ghi tài liệu lưu trữ” Sau đó, ông xếp cho một học trình đúng yêu cầu là Phân Khoa Business Education Technologies (BET), học đủ 60 uinits sẽ tốt nghiệp với cấp bằng AS (Associate of Science). Trong 60 unit sẽ phân chia như sau: A)- Major 18 units, gồm các tiết học chính của phân khoa B)- General Education 18 units, gồm các tiết học tổng quát là: Natural Science 3 units, Social Science 3 units, English Language 6 units, Humanities 3 units, Mathematics 3 units. C)- Requirements 24 units, gồm các tiết học theo yêu cầu của phân khoa. Như vậy Requirements và Major gồm 42 units học để xử dụng các chức năng của Computer gồm các tiết học về: Word Processing Typing, Machine Transcription, Career Application, Excel, Business English, Access, Microcomputer, proofreading, Accounting, Records Menagement, Machine Calculation, Speedwriting, Electronic Office Procedures, Business Communication, tổng cộng 14 tiết học, mỗi tiết 3 units. Sau khi học xong các tiết học này tôi được Trường cấp thêm cho 4 chứng chỉ là: - Computer Systems I - Data typist - Computer system II - Office Services. Ông Smith phác thảo học trình xong, ông copy cho tôi một bản, kèm thêm cuốn ”Schedule of Class fall 1995” Ông nói: ”Theo cuốn sách này ông sẽ lấy lớp theo thì giờ Ông rảnh trong ngày” và ông còn góp ý là: ”Nếu có đủ thì giờ, nên học Full time vào các Semester Spring hoặc Fall, lấy 12 units mỗi semester, như vậy khoảng 5 Semester sẽ học xong và được tốt nghiệp.” Ông cho biết thêm niên học của Victor Valley College chia làm 3 Semester, bắt đầu là Fall Semester học 4 tháng, từ giữa August đến giữa December, tiếp là Spring Semester học 4 tháng, bắt đầu giữa January đến giữa May, cuối là Summer Session học 6 hay 8 tuần từ giữa June đến cuối July. Thấy sự góp ý rất hợp với sở thích, nên tôi OK và cám ơn ông. Tiếp theo, ông Smith còn gợi ý cho tôi, nếu tôi thu nhập thấp, ông chỉ cách cho tôi điền đơn xin Financial Aid. Tôi thành thực cho Ông biết tôi mới sang Mỹ được hơn một năm chưa có việc làm. Ông liền dẫn đến phòng financial Aid chỉ dẫn cho tôi điền đơn xin tiền, điền xong Ông bảo tôi mang về dán tem và gởi, và chờ khi nào Tiểu Bang chấp thuận gởi trả lại, rồi đem nộp cho văn phòng Financial Aid của Trường. Khoảng 3 tuần sau, tôi nhận được đơn với sự chấp thuận của Tiểu Bang, tôi nộp cho Financial Aid của Trường, sau 2 tuần tôi nhận được giấy phân phối tiền cho tôi là $1,300 cho mỗi Semester trong niên học 95-96, và báo cho biết Fall 95 check sẽ gởi cho tôi cuối August là 60% số tiền, và đầu December là 40% số tiền. Spring 96 check gởi đầu January 60% và cuối April 40%. Tiền phân phối của Financial Aid tùy ngân khoản của trường. Những năm kế tiếp tôi được tới $1,700 một Semester, check gởi làm 4 lần cho 4 tháng học. Điểm trung bình của Semester để tiếp tục được hưởng là phải 2.00 hoặc điểm C trở lên, nếu dưới điểm thì Semester kế tiếp nhà trường sẽ ngưng. Đầu tháng Ferbuary hằng năm phải làm thủ tục điền đơn xin Financial Aid. Hưởng Financial Aid tối đa là 100 units, khoảng 8 Semester. Tiếp theo, ông còn hướng dẫn tôi điền thêm một form nữa để xin miễn tiền học phí (tiền học phí là $13 một unit, mỗi Semester 12 units, vậy cũng đỡ tốn $156), form này nộp ngay tại Văn Phòng Financial Aid, nhân viên văn phòng nhận và ghi vào máy Computer ngay. Hoàn tất việc xin tiền và miễn đóng học phí, Ông bảo tôi theo ông về Văn Phòng, tại bàn giấy Ông làm việc với cái máy Computer, chừng 10 phút, xong Ông cho tôi biết niên học này Văn Phòng EOPS cấp cho tôi $100 tiền sách học cho mỗi Semester, khi nào tôi mua sách ở Bookstore của nhà trường, tự động ở đó họ trừ cho tôi $100, tôi chỉ phải trả số tiền còn lại. Ông còn cho biết thêm ở Hoa Kỳ học Đại Học phải mua sách học, trung bình cứ 3 units học một cuốn sách dầy chừng 2 inhces, học hết chương trình để tốt nghiệp phải mua khoảng 20 cuốn, (Semester đầu tôi phải mua 4 cuốn sách cho 4 môn học, số tiền là $134.49 tôi chỉ còn trả là $34.49). Sau khi xong tất cả mọi việc Ông Smith nói ”Mọi công việc tôi có thể giúp được Ông đã hoàn tất, chỉ còn việc ông đến Phòng ghi danh để lấy tiết học, ông nên về nghiên cứu lấy tiết học nào trước, tiết học nào sau, mỗi Semester chỉ nên lấy 12 units thôi và chọn giờ cho thích hợp” Ông nói tiếp “Theo qui định, mỗi Semester phải đến gặp Ông 2 lần, để theo dõi việc học cần gì Ông sẽ giúp đỡ.” Tôi cám ơn Ông và ra về với tinh thần hân hoan, không thể ngờ rằng tại Hoa Kỳ, một nước đúng nghĩa với hai chữ Tự Do cho cả việc giáo dục ở bậc Đại Học, bất cứ ai muốn học cũng được, không phân biệt tuổi tác, lý lịch, hoặc thành phần trong xã hội. Nếu nghèo như tôi, còn được trợ cấp tiền, tiền sách và miễn đóng học phí. Chẳng bù với những nước hiện nay còn lạc hậu, bậc Đại Học chỉ dành cho những thành phần con Ông cháu Cha, và những gia đình có tiền và phải có lý lịch tốt. Về nhà, tôi bắt đầu nghiên cứu để lấy các tiết học cho Semester đầu tiên. Tuy vậy, tôi không hoàn toàn rảnh rỗi, còn phải đưa các cháu đi học vào lúc 8:00 sáng, đón chúng về vào lúc 3:00 chiều. Đưa các con dâu và con gái đến các tiệm Nail vào lúc 9:00 sáng. Tôi chỉ có thể lấy lớp từ 10:00, tôi lấy 3 tiết học liên hệ với Computer mỗi tiết 3 units và một tiết học History 3 units của môn General Education. Các tiết học với Computer thì dễ dàng về giờ tại lớp, cứ lúc nào rảnh thì đến, khi có việc thì về, tại lớp mỗi học sinh một máy. Building học với Computer gọi là BET LAP mỏ cửa từ 9:00 am đến 9:00 pm, có trên 200 máy Computer loại mới nhất, khi đến lớp thấy máy nào trống là ngồi, đọc theo sách mà thực hành với máy. Nếu chỗ nào không hiểu, hoặc máy trục trặc gì cứ việc giơ tay lên có Giáo Sư đến chỉ dẫn. Còn các tiết học General Education thì ấn định giờ học, lớp 3 tin chỉ, ngồi tại lớp nghe thầy giảng 1 giờ 15 phút, mỗi tuần 2 buổi vào lớp, bài tập về nhà làm. Kể từ August 15,1995 tôi bắt đầu là một sinh viên với tuổi 63, cùng sánh vai tiến bước vào trường Đại Học Hoa Kỳ với khoảng gần 10,000 sinh viên nam nữ, phần đông là Hoa Kỳ, cũng có số ít là người Á Châu rất trẻ khoảng 18-20 tuổi, mới tốt nghiệp High School. Thỉnh thoảng cũng thấy có ít người cừng 30-50. Họ thấy tôi cũng vui cười chào hỏi, bắt tay tự nhiên như những các bạn đồng tuổi của họ. Riêng tôi thì dầu sao cũng cảm tưởng tự ti mặc cảm về tuổi tác, cũng như về ngôn ngữ, giọng nói tiếng Mỹ chưa thạo, nhiều từ phát âm chưa đúng, nghe chưa hiểu hết cho nên tôi luôn tự nhủ: ”Mình là người Việt, sống ở Mỹ chưa được 2 năm, xử dụng ngôn ngữ chưa giỏi, phải cố gắng học để đạt mục đích và quyết tâm là phải tốt nghiệp lấy được bằng Đại Học.” Tại các lớp, đầu giờ buổi học đầu tiên, Bà giáo hoặc Ông giáo tự giới thiệu, sau là các sinh viên cũng tự giới thiệu về mình. Đến lượt tôi nói: “Tên tôi là KHÔI NGUYỄN, tôi là người Việt Nam, một đất nước trước năm 1975 có hàng triệu chiến binh Hoa Kỳ sang chiến đấu rất anh dũng để bảo vệ Tự Do. Trước ngày 30-4-1975 tôi là sĩ quan Quân Đội VNCH, đã cùng đứng chung một chiến tuyến với các chiến binh Hoa Kỳ chiến đấu chống Cộng Sản. Sau ngày 30-4-1975 đất nước tôi bị Cộng Sản chiếm, chúng đã nhốt tôi trong trại tù 7 năm, sau nhờ chính phủ Hoa Kỳ can thiệp, tôi được sang định cư tị nạn tại Hoa Kỳ vào ngày Sept 17,1993 tính đến nay mới sống ở Hoa Kỳ gần 2 năm. Tôi nói tiếng Mỹ chưa giỏi, phát âm chưa đúng, xin các bạn thông cảm, tôi mong giáo sư và các bạn học giúp đỡ cho để theo kịp các bạn. Cám ơn.” Tôi giới thiệu như vậy là để nói lên cho Giáo Sư và các sinh viên Hoa Kỳ biết là Nước Việt Nam và Người Việt Nam trước năm 1975 đã có gắn bó mật thiết với người Mỹ và đất nước Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh chống Cộng Sản bảo vệ Thế Giới Tự Do. Cũng như để người Mỹ hiểu rằng hiện nay có hàng triệu người Việt đang sống trên đất nước Hoa kỳ là Tị Nạn Cộng Sản. Tôi cảm thấy Giáo Sư và Sinh viên cùng lớp đã hiểu và thông cảm tôi, họ vỗ tay. Sau này mỗi khi có khó khăn gì về bài học, họ rất vui vẻ tận tình giảng giải, và giúp sửa bài nháp cho đúng từ ngữ, đúng văn phạm. Tôi đã áp dụng ngay cả châm ngôn của Việt Nam vào lớp học Mỹ là: ”Học thầy không tầy học bạn”. Cho nên tất cả các bài Homework, Quiz, Exam, Midterm Exam, và Final Exam đều được điểm cao A hoặc B. Bước đầu luôn có những khó khăn, đối với tôi thật là nhiều khó khăn, cứ nhìn 4 cuốn sách học, mỗi cuốn dầy 2 inhches, toàn chữ Anh, nhiều chữ chưa đọc được và nghĩa cũng chưa hiểu mà phát ngán. Trong lớp Giáo sư giảng bài chưa nắm bắt và hiểu hết, bài làm dùng chữ chưa đúng, văn phạm còn sai, nói còn chậm, phát âm chưa chuẩn. Với ý chí quyết tâm, phải cố gắng học, tôi không nản lòng. Rồi mọi sự cũng vượt qua tốt đẹp, kết quả điểm trung bình Semester Fall 95 của tôi là 3.46 được ghi vào Honor Roll và được nhận bằng khen. Sau mỗi Semester nhà trường có tổ chức phát bằng khen cho những sinh viên có điểm cao trên 3.00. Được xếp hạng là: President’s List= 4.00 Dean’s List= 3.50-3.99 Honor Roll= 3.00-3.49. Số sinh viên được bằng khen các loại khoảng 5% tổng số sinh viên của trường. Tôi có ước nguyện là phải cố gắng hơn nữa để có tên KHÔI NGUYỄN, một tên của người Việt Nam được ghi vào Dean’s List hoặc President’s list của trường Đại Học Hoa Kỳ. Với sự quyết tâm và cố gắng không ngừng, ước nguyện của tôi đã biến thành sự thật. Tên tôi được xếp vào Dean’s List Fall 98=3.58 và Fall 99=3.67, được xếp vào President’s List Spring 2000 =4.00. Thời gian cứ trôi, các Semester cũng nối tiếp qua đi, nhưng càng học lên bài càng nhiều, càng khó, nhiều lúc cũng bù đầu. Với sự cố gắng không ngừng của tôi, mọi khó khăn trong việc học cũng tự tìm cách giải quyết. Nếu bài khó thì hỏi Thầy, hỏi Bạn, nếu cần đến Learning Center của trường, tại đây có rất nhiều Tutor kèm cho đủ các môn học, họ sẽ sẵn sàng giảng giải và giúp đỡ tận tình để làm bài. Đầu Semester Spring 98, tôi thường lệ đến gặp ông Smith, Ông tổng kết, tôi đã học đủ 60 units đúng chương trình, ông chỉ dẫn tôi điền form xin tốt nghiệp vào cuối niên học 98, nộp tại Văn phòng Admission and Record. Đầu tháng April 98 tôi nhận được giấy báo, tôi được tốt nghiệp với Văn Bằng Associate in Science with a Major emphasis in Business Education Technologies. Lễ Tốt nghiệp sẽ được tổ chức tại Hội Trường ngày May 14,1998. Văn Phòng EOPS cũng gởi thư chúc mừng và cấp cho tôi mũ và áo tốt nghiệp cùng giấy mời để tôi mời thân thuộc và bạn bè. Ngày May 14,1998 là ngày vui nhất của tôi, và gia đình tôi từ ngày đến Hoa Kỳ. Mọi người đều chuẩn bị để dự lễ. Tôi quyết định tất cả phụ nữ trong gia đình đều mặc áo dài Việt Nam, đó là biểu tượng để tất cả dân tộc khác biết buổi lễ này cũng có Người Việt Tốt Nghiệp. Buổi lễ rất trang trọng, tất cả các sinh viên Tốt Nghiệp mặc áo thung đỏ, mũ vuông đỏ. Phía nhà trường thì từ Viện Trưởng đến các Giáo sư đều mặc áo thung và mũ vuông đen. Trên khán đài hàng ngàn thân nhân tham dự, phần nhiều là người Mỹ, rất ít người Á Châu, đặc biệt có lẽ chỉ có gia đình tôi là người Việt Nam gồm 25 người, ngồi vào một khu, phụ nữ đều mặc áo dài Việt Nam, làm người Hoa Kỳ trên khán đài ngạc nhiên. Số sinh viên lên nhận bằng chỉ có tôi là nhiều tuổi nhất, là 66 tuổi. Tuy đã có bằng, nhưng với tuổi 66 là hết tuổi lao động, nên tôi có ý định học nữa, mà chuyển lên University thì trường quá xa, cách nhà tôi 100 miles. Tôi quyết định học tiếp tại trường Victor Valley College với phân khoa khác. Lại đến gặp Ông Smith để nhờ giúp ý kiến việc tôi xin học tiếp. Ông cho biết: ”Học tiếp để lấy thêm bằng, chỉ cần học thêm 18 units Major khác là đủ tốt nghiệp.” Tôi nói với Ông, kỳ này tôi muốn theo phân khoa Liberal (Nhân văn học mở rộng). Ông Smith cho biết Phân Khoa này nếu thích về Văn Chương và Ngôn Ngữ thi học Anh Văn, Pháp Văn, Tây Ban Nha rất tiếc trường này chưa dạy Việt Ngữ. Thấy vậy, tôi liền chọn Pháp Văn. Kỳ này học tương đối dễ hơn, vì Pháp Văn là sinh ngữ chính mà tôi đã học Trung Học tại Việt Nam trước 1954. Các units được hoàn tất theo học trình. Lại đến nhờ ông Smith tổng kết các units và lại làm đơn xin tốt nghiệp. Tôi nhận được giấy báo được tốt nghiệp, với Văn Bằng Associate in Arts with a Major emphasis in Leberal Art. Lễ tốt nghiệp tổ chức ngày May 20,1999 tại Hội Trường. Văn Phòng EOPS lại báo cấp cho Áo, Mũ Tốt Nghiệp và các giấy mời. các thủ tục và nghi lễ cũng được tổ chức như năm 1998. Gia đình tôi cũng tham dự, phụ nữ cũng bận áo dài truyền thống Việt Nam. Tôi cảm thấy càng hãnh diện hơn, vì lần thứ 2 Tốt nghiệp Đại Học Hoa Kỳ vào tuổi 67. Mặc dầu đã tốt nghiệp 2 năm liền, nhưng tôi vẫn muốn học tiếp, đó là thích thú tìm hiểu những gì tôi chưa biết. Tại lớp học là nơi tôi có thể tiếp xúc với Thầy với Bạn để tìm hiểu những điều tôi còn xa lạ tại đất nước tôi mới định cư. Cũng nhờ học trong tiết học về Allied Heath của General Education dạy về các bệnh tật liên hệ đến sức khoẻ con người. Do đó được hiểu thêm là ở Mỹ mà ăn không ngồi rồi, làm cho cơ thể sinh nhiều bệnh như: tim mạch, cao mỡ trong máu, áp huyết cao, bệnh tiểu đường, các bệnh ung thư bởi rượu và thuốc lá và nhiều bệnh khác nữa. Vì vậy tại nhà tôi có thể làm tiêu đi thì giờ nhàn rỗi bằng cách làm các bài tập. Nên tôi quyết định học thêm để lấy văn bằng thứ 3. Lại đến gặp ông Counselor giúp lấy những tiết học với Phân Khoa Electronics and Computer Technology, Major này khó hơn nhiều so với 2 Major trước. Học kỹ thuật Điện Tử liên quan tới Technical Mathematics Calculus thật khó, nhưng vẫn thích thú học hỏi để trao dồi kiến thức. Ngày tháng qua đi, học hết bài này qua bài khác, luôn cố gắng hết mình. Đến ngày gặp Ông Smith duyệt lại units đã học. Lại làm đơn xin tốt nghiệp, lại nhận được giấy báo Tốt Nghiệp với Văn Bằng Associate in Science with a Major emphasis in Electronics and Computer Technology. Lễ tốt nghiệp tổ chức ngày May 18,2000 tại Hội Trường. Thật vui mừng tột độ, vào tuổi 68 tôi lại tốt nghiệp lần thứ 3, Văn Phòng EOPS lại cấp Áo, Mũ tốt nghiệp và giấy mời. Các thủ tục và nghi lễ cũng như 2 lần trước. Gia đình tôi lại hãnh diện tham dự, phụ nữ với chiếc áo dài truyền thống Việt Nam. Đặc biệt đối với tôi, năm nay Ông Viện Trưởng trường Victor Valley College có mời tôi đến gặp Ông tại Văn Phòng. Ông rất vui mừng chúc mừng tôi, ông nói: ”Trường Victor Valley College có từ năm 1961, đến nay Ông là người Việt Nam đầu tiên nhiều tuổi nhất Tốt Nghiệp 3 lần trong 3 năm liền 1998, 1999 và 2000, Ông là người rất thông minh và học giỏi, đã có điểm số trung bình cao, 1 lần trong President’s List, 2 lần trong dean’s List, 7 lần trong Honor Roll, thành thật chúc mừng Ông”. Tôi cảm nghĩ thật Tự Hào và Hãnh Hiện là người Việt Nam, nên tôi đáp lời ông Viện Trưởng: “Tôi thành thật cám ơn Ông, cám ơn trường Victor Valley College, cám ơn nước Hoa Kỳ, đã có những điều kiện, để tôi thực hiện ước nguyện của tôi khi đến định cư Tị Nạn tại đất nước Tự Do này” Thật tôi cũng không ngờ, tại một đất nước rất xa lạ đối với tôi, tiếng nói, chữ, còn rất bỡ ngỡ và khó khăn khi mới đặt chân đến, mà tuổi đã cao, chỉ nhờ có ý chí và quyết tâm mà đã đạt được kết qua. Mặc dầu học vị chỉ trong phạm vi của trường College. Cuối cùng tôi cũng không quên cám ơn một vị tác giả nào đó, đã nghĩ ra câu châm Ngôn bất hủ: ”YOU’RE NEVER TOO OLD TO LEARN”, làm kim chỉ nam dẫn tôi học đến thành công ở Hoa Kỳ. |
|
#58
|
||||
|
||||
|
Trích:
![]() ![]()
|
|
#59
|
|||
|
|||
|
Con Xin Cám Ơn Cha Mẹ
Phụng Văn (vietbao) Tay trắng khi rời Việt Nam, cha mẹ tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được để tạo cho tôi một chỗ đứng trong xã hội Hoa Kỳ với văn bằng Bác Sĩ Y Khoa tốt nghiệp vào năm 24 tuổi. Tôi viết bài này để kính gởi lời cám ơn của tôi tới cha mẹ. Về những ngày đầu tiên rời bỏ quê hương Rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhất vào ngày 29-4-75 bằng trực thăng di tản Hoa Kỳ, cha mẹ tôi, chị tôi và tôi đã đáp xuống Hàng Không Mẫu Hạm Midway lúc 4 giờ chiều cùng ngày. Lúc đó, bầu trời u ám, thoáng chút gió nhẹ trên boong tầu, mọi người cảm thấy bớt mệt nhọc sau một ngày dài chờ đợi trực thăng. Đang thoải mái nghỉ ngơi trên chiếc Mẫu Hạm Khổng lồ này, vào khoảng độ 6 giờ chiều, một Sĩ Quan Mỹ đến hướng dẫn chúng tôi vào phòng ăn, ăn bữa cơm Mỹ đầu tiên của cuộc đời di tản, rồi tất cả mọi người được di chuyển sang thương thuyền Green Forest có nhiệm vụ hải hành tới hải cảng Phi Luật Tân Subic Bay. Từ Subic Bay, chúng tôi được không vận tới Đảo Guam và sau cùng vào Camp Pendleton, California trong những ngày đầu của tháng Năm 1975. Bắt đầu tái tạo cuộc đời Sau gần 2 tháng tạm trú tại Camp Pendleton, chúng tôi rời vùng nắng ấm California để đi định cư tại St. Louis, thành phố của gió lạnh và tuyết băng dưới sự bảo trợ của 1 giáo xứ Tinh Lành thuộc tiểu bang Missouri. Được sự bảo trợ tận tình của giáo dân giáo sứ này, chúng tôi đã hội nhập nhanh chóng vào đời sống tại Hoa Kỳ. Cha mẹ tôi bắt đầu đi làm, chúng tôi đi học, và chỉ sau một thời gian, cha mẹ tôi đã mua được 1 căn nhà rất gần trường để thuận tiện cho chúng tôi đi học. Khi cuộc sống đã ổn định, câu hỏi mà cha mẹ tôi thường băn khoăn cố gắng tìm đáp số, đó là làm sao cho chúng tôi thành công trong xã hội Hoa Kỳ, một xã hội mà những thế hệ như chúng tôi cần được hấp thụ một nền giáo dục đầy đủ, một ý chí cương quyết hoàn thành con đường tương lai đã được lựa chọn, một khả năng nói Anh ngữ thật lưu loát, không một chút Accent. Do đó, mỗi khi tôi đi học về (trong những ngày còn ở Trung Học) cha mẹ tôi thường hỏi : "Sau này, khi lớn lên, con sẽ làm gì?" Vì đã được cha mẹ hướng dẫn kỹ lưởng về việc chọn nghề trong tương lai, nên câu trả lời của tôi luôn luôn là: "Con muốn trở thành Bác Sĩ Y Khoa". Mỗi ngày đều trả lời một lần "Con muốn trở thành Bác Sĩ", nên giấc mơ trở thành Bác Sĩ đã đi sâu vào tiềm thức tôi, do đó tất cả các môn học liên quan đến Y Khoa như Vạn Vật, Lý Hóa, Toán v.v... đều được tôi cố gắng học tập chuyên cần với quyết tâm sao cho đạt được số điểm A cho tất cả các bộ môn trên trong suốt 4 năm Trung Học, và điều này đã thực hiện được, không phải chỉ cho các môn học nêu trên, mà còn cho tất cả các môn học còn lại của chương trình Trung Học. Cha mẹ tôi đã đóp góp không nhỏ cho sự thành công "Straigh A" này, tối nào cũng vậy, dù bận rộn mấy, cha mẹ tôi cũng thường xuyên chỉ dẫn thêm cho tôi tất cả những gì tôi cần tìm hiểu thêm về chương trình Trung Học, hoặc mướn một vài sinh viên giỏi ở Đại Học tới nhà hướng dẫn thêm vào những ngày cuối tuần. Ngoài việc học chữ ra, cha mẹ tôi còn gởi tôi theo học âm nhạc và võ thuật liên tiếp 3 năm cho tới khi tôi chơi thành thạo kèn Saxophone và đạt được đai đen đệ nhất đẳng Karate. Trình bày phần này ra đây, tôi chỉ muốn nói lên tấm lòng kính trọng đối với cha mẹ, những bậc phụ huynh tiền phong tới Hoa Kỳ với 2 bàn tay trắng. Tôi còn nhớ cha mẹ tôi kể lại là lúc vào phi trường Tân Sơn Nhất đợi trực thăng di tản, tất cả tài sản gia đình chỉ còn một chiếc cặp xách tay trong đựng ít tiền bạc và đồ trang sức của mẹ tôi. Thấy tôi khát nước vì chờ đợi quá lâu, cha tôi, một tay cầm chiếc cặp, một tay dẫn tôi ra chỗ máy nước lấy nước cho tôi uống. Đúng lúc đó, đến lượt chúng tôi lên trực thăng nên bỏ quên chiếc cặp xách tay. Thế là hoàn toàn trắng tay, nhưng cha mẹ tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được để tạo cho tôi có một chỗ đứng trong xã hội Hoa Kỳ với văn bằng Bác Sĩ Y Khoa tốt nghiệp vào năm 24 tuổi. Trở lại chuyện lúc còn học Trung Học, thường thường vào buổi tối, cả nhà quây quần bên lò sưởi của phòng khách (vì gia đình tôi định cư tại một tiểu bang giá lạnh băng tuyết của miền Trung Tây Hoa Kỳ, cha mẹ tôi thường khuyến khích hãy cố gắng sao cho đạt được ngôi vị thứ nhất (Valedictiorian) khi mãn khóa Trung Học. Và đúng như dự trù, tôi đã được xếp hạng số 1 trên 500 học sinh Trung Học, và được vinh dự đọc diễn văn mãn khóa. Chủ đề của bài diễn văn này là: "Phải có một hướng đi rõ rệt cho cuộc đời." Lý do tôi chọn chủ đề này vì tôi muốn nhắn gởi tới một số học sinh Trung Học, khi mãn khóa, thường không biết sẽ làm gì trong tương lai, đã để lãng phí một vài năm đầu tiên Đại Học, không tiến bước ngay vào con đường sự nghiệp mà mình nên lựa chọn ngay sau khi tốt nghiệp Trung Học. Xây dựng tương lai Trong những ngày tháng cuối cùng của lớp 12 Trung Học, và biết đã được lựa chọn vào chương trình danh dự 7 năm của Đại Học Y Khoa (học thẳng từ dự bị Y Khoa tới Đại Học Y Khoa) tôi vô cùng hân hoan vì biết rằng con đường tương lai bắt đầu mở rộng vào đúng hướng đi mà tôi thường mong ước từ lâu. Gia đình tôi cũng hết sức vui mừng trước tin tốt đẹp này. Riêng cha mẹ tôi, trong 7 năm dài tôi học ở Đại Học, đã làm việc cực kỳ vất vả để có thể giúp đỡ tôi. Cha tôi thông thường ngày nào cũng đi làm 2 jobs, (7 ngày 1 tuần), không bao giờ nghỉ vacation, với mong mỏi dành dụm thêm được chút ít tiền bạc để giúp đở con cái đạt được ý nguyện. Thế rồi những năm dài với bao kỷ niệm vui buồn của đời sống sinh viên y khoa cũng qua đi mau chóng, và tôi đã trở thành Bác sĩ Y Khoa vào đúng năm 24 tuổi. Thực tập nội khoa Sau một tháng nghỉ ngơi, tôi bắt đầu đi thực tập về nội khoa tại một bệnh viện tiểu bang ở phía cực nam của Hoa Kỳ. Lại thêm một lần di chuyển, sắp sửa mọi chuyện và nhất là sửa soạn cho việc học tập về nội khoa được kết quả. Tại tiểu bang nắng ấm này, tôi đã trải qua rất nhiều thời giờ tận tụy, bên cạnh những bệnh nhân cần săn sóc với mong ước sao cho bệnh nhân thuyên giảm phần nào sự đau đớn thể xác mà họ đang gánh chịu. Tôi vẫn nhớ lời cha tôi dặn trước ngày lên đường đi thực tập về nội khoa "con đừng bao giờ quên câu cứu nhân độ thếÁ mà tiền nhân đã để lại cho hậu thế. Đời sống của một bác sĩ Y Khoa luôn luôn gắn liền với câu cứu nhân độ thếÁ hãy làm tất cả những gì có thể làm được để giảm thiểu tử vong cho bệnh nhân." Ba năm thực tập về nội khoa rồi cũng qua mau, và tôi đã hoàn tất phần huấn luyện nội khoa để bước sang một lãnh vực khác, lãnh vực chuyên khoa về tim. Đây chính là một khích lệ mới, nhưng cũng là một thử thách mới cho tôi, vì chuyên khoa này đòi hỏi tôi phải cố gắng thật nhiều hơn nữa để hoàn thành chương trình học tập. Thêm những cảm nghĩ về cha mẹ Bây giờ, cha mẹ tôi đã đi vào lứa tuổi trên 60, các cọng tóc trên đầu đã thay đổi nhiều từ đen sang xám hoặc trắng, nhưng cha mẹ tôi vẫn còn khỏe mạnh và đặc điểm là vẫn lo lắng từng chút cho con cái, mặc dầu chúng tôi đã trưởng thành, và cũng đạt được một chỗ đứng trong xã hội tiến bộ tại Hoa Kỳ. Trong suốt những năm dài sống chung với cha mẹ, tôi thấy cha mẹ tôi đã thật đúng khi luôn luôn dạy chúng tôi là phải có một hướng đi rõ rệt sau khi tốt nghiệp Trung Học, tuyệt đối đừng bao giờ nói rằng không biết sẽ làm nghề gì , cứ để thử một vài năm học ở Đại Học, rồi sau đó sẽ tính. Chính cha tôi đã cho tôi biết là khi còn ở Việt Nam, sau khi đậu xong văn bằng Tú Tài Phần Hai, cha tôi đã sai lầm không đi vào Đại Học ngay như một số bạn bè đã làm, (đa số bạn bè của cha tôi đều chọn ngành Y Khoa) mà lại đi làm một số nghề không thích hợp với khả năng. Sau khi đi làm bị thất bại nhiều lần, cha tôi tỉnh ngộ, bèn quyết tâm trở lại đại học, nhưng lúc đó đã quá muộn, bạn bè đã xong 2, 3 năm đầu Đại Học, và chính lúc đó, việc xin vào các Đại Học cũng trở nên khó khăn hơn. Rủi ro hơn nữa, vào thời điểm này, cha tôi lại nhận được lệnh nhập ngũ trường Võ Khoa Thủ Đức, nên giấc mộng Đại Học của cha tôi đã tan vỡ vô phương cứu chữa. Ngoài ra, khi chọn nghề, phải có một cái nhìn thực tế, không chọn những nghề mà mình biết rất khó thành công. Cha mẹ tôi không bao giờ khuyến khích tôi trở thành cầu thủ bóng rổ hoặc cầu thủ football, vì với kích thước và tầm vóc của người Việt Nam, rất khó để cạnh tranh với cầu thủ Mỹ cao 7 feet, năng 250 pounds trên thao trường. Cũng đã có những trường hợp V.N thành công trong lãnh vực thể thao, nhưng đây chỉ là một con số rất nhỏ, quá nhỏ. Do đó, đối với gia đình tôi, cha mẹ tôi và chúng tôi đã quyết định chọn một nghề dựa trên 8 năm Đại Học và nhờ được sửa soạn ngay từ lúc còn ở Trung Học, cộng thêm quyết tâm của chúng tôi, với sự giúp đỡ tận tình của cha mẹ, cả 2 chị em chúng tôi đã vượt qua được chặng đường 8 năm Đại Học đã tốt nghiệp mỹ mãn đúng nghề mà 2 chị em tôi mong muốn. Nhân đây, cũng xin đề cập đến một số vấn đề là nhiều người qua đây thường phàn nàn con cái bên này thay đổi quá nhiều, không còn kính trọng cha mẹ như khi còn ở Việt Nam. Câu trả lời là: Nếu cha mẹ lo cho con cái chu toàn đứng cương vị của cha mẹ, thì chắc chắn 99% con cái vẫn luôn luôn kính trọng cha mẹ, nhiều khi còn kính trọng hơn bổn phận làm con phải kính trọng cha mẹ. Làm sao không kính trọng cha mẹ được khi cha mẹ đã làm việc cực khổ đêm ngày, để tạo dựng tương lai tươi sáng cho con cái. Làm sao không kính trọng cha mẹ được khi cha mẹ chỉ là thế hệ đầu tiên tới Hoa Kỳ với 2 bàn tay trắng (tôi xin nhấn mạnh với hai bàn tay trắng) vì toàn bộ gia sản đã bỏ lại trên mảnh đất Việt Nam cách xa ngàn dậm, thế mà cha mẹ tôi, làm việc trong các hãng xưởng với đồng lương khiêm nhượng, đã làm cho giấc mơ của hai chị em tôi trở thành sự thật. Tôi còn nhớ cha tôi kể lại rằng, khi được biết cha mẹ tôi quyết định sửa soạn cho tôi theo học ngành Y Khoa, chính chủ nhân của hãng cha tôi làm việc, đã nói với cha tôi về những khó khăn trong việc theo học ngành này, nhất là những khó khăn về phương diện tài chánh. Ông ta còn nói thêm rằng, chính ông ta, với gia sản đồ sộ của cha mẹ, mà cũng chỉ đạt được một văn bằng đại học về quản trị, hành chánh và tài chánh. Câu trả lời của cha tôi là: "Thưa ông, đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông?" (Danh ngôn Việt Nam). Thưa cha mẹ: Để kết luận bài viết này, con chỉ xin nói rằng: "Con xin cảm ơn cha mẹ, những bậc phụ huỵnh tuyệt hảo của con." |
|
#60
|
|||
|
|||
|
Sacramento State University
Nguyễn Hà Sơn (nguoi-viet) ![]()
Trong năm 2007 tuần báo US News and World Report xếp hạng Sacramento State đứng thứ 57 trong số những trường đại học có trình độ cao học trong vùng miền Tây Hoa Kỳ. Lịch sử Trong thập niên 1920 một số người đã đưa ra những ý kiến và đề nghị thành lập một trường đại học có những chương trình bậc cử nhân 4 năm ở Sacramento, tuy nhiên những thế lực chính trị trong vùng Bay Area (San Francisco) đã gây trì hoãn cho tới năm 1947. Mầu sắc xanh lục và hoàng kim của trường đại học này tượng trưng cho mầu xanh lá cây của những chân đồi và cây cối trong vùng Sacramento, mầu hoàng kim tượng trưng cho những mỏ vàng mới khám phá ở miền Bắc California. Trường này được thành lập trong năm 1947, với tên nguyên thủy là Sacramento State College, trong khi đang có nhiều nhu cầu giáo dục bậc cao đẳng ở miền Tây Hoa Kỳ sau Ðệ Nhị Thế Chiến. Ngay sau khi thành lập, Sacramento State College chia sẻ khuôn viên với trường Sacramento Junior College (một trường đại học cộng đồng có những chương trình học 2 năm ở Sacramento). Trong năm 1953, Sacramento State College di chuyển tới khuôn viên hiện thời trên bờ sông American River. Sacramento State College được sáp nhập vào hệ thống California State University trong năm 1960, và tới năm 1972 Sacramento State College chính thức đổi tên thành California State University, Sacramento. Thời Hoàng Kim Trong thời kỳ từ năm 1984 tới năm 2003, Sacramento State đã trải qua những phát triển chưa từng thấy, với một ngân sách dồi dào. Trong thời gian đó khuôn viên của trường đã bành trường gần gấp đôi, phần lớn là những công tác xây cất thêm hơn mười tòa nhà dùng làm giảng đường và cơ sở dịch vụ. Trong số đó đáng kể nhất là những cấu trúc sau đây:
Trong năm 2004 các giới chức của trường đã quyết định đổi danh xưng thành Sacramento State (có khi viết tắt là Sac State) - cái tên này đã được giới sinh viên dùng trong nhiều năm trước đó. Tuy nhiên, tên chính thức của nó vẫn là California State University, Sacramento. Khuôn viên Sacramento State có khuôn viên lớn hạng thứ 6 trong số 23 trường thuộc hệ thống California State University. Trong khuôn viên có khoảng 3,000 cây, với những vườn hoa, nhiều dặm đường mòn trải dài dọc theo bờ sông, các cư xá sinh viên với những khu giải trí, như Hồ Natoma và khu thành phố cổ xưa của Sacramento. Thời gian tốt nhất để du khách đến viếng khuôn viên là trong Mùa Thu và đầu Mùa Xuân, khi phong cảnh ở đây có những mầu sắc rực rỡ của hàng ngàn cây cối. Gần khuôn viên có cầu Guy West Bridge dành riêng cho người đi bộ, bắc ngang qua sông American River, được xây theo kiểu mẫu thu nhỏ của cầu Golden Gate Bridge. Trong khuôn viên có hơn 30 trung tâm nghiên cứu và trụ sở dịch vụ cộng đồng, như Center for California Studies (Trung Tâm Nghiên Cứu California), Institute for Social Research (Viện Nghiên Cứu Xã Hội), Center for Collaborative Policy (Trung Tâm Chính Sách Cộng Tác), Center for Small Business (Trung Tâm Tiểu Thương), và Office of Water Programs (Phòng Chương Trình Nước). Các phân khoa của Sacramento State
Ða số những sinh viên thuyên chuyển từ các trường khác đến đây phát xuất từ những trường đại học hai năm, và hiện thời có khoảng 750 sinh viên quốc tế đến đây du học từ 80 quốc gia trên thế giới. Ðài phát thanh và báo chí sinh viên Sacramento State sở hữu và điều hành một số đài phát thanh công cộng trong khắp tiểu bang California, với sự cộng tác của hệ thống Capital Public Radio. Phần lớn các chương trình của đài KXPR, do Sacramento State điều hành, chơi nhạc cổ điển. Ðài KXJZ chú trọng vào những chương trình tin tức, hội thoại, cùng với nhạc jazz và nhạc blues. Cả hai đài này đều phát thanh một số chương trình của đài National Public Radio. Tờ báo State Hornet, do sinh viên của Sacramento State điều hành, xuất bản 14 hoặc 15 số mỗi học kỳ, đồng thời cung cấp bài vở và thông tin hàng ngày cho trang mạng www.statehornet.com của tờ báo. Ban biên tập trong niên khóa 1999-2000 của tờ báo này đã được tặng giải thưởng National Newspaper Pacemaker Award, được coi là giải thưởng cao quí nhất trên toàn quốc dành cho báo chí sinh viên và thường được người ta gọi là “Pulitzer Prizes of Student Journalism” (Giải Pulitzer của báo chí sinh viên). Tờ báo này do Ban Nghiên Cứu Truyền Thông (Department of Communication Studies), thuộc phân khoa Nghệ Thuật & Văn Chương, quản lý. Dự án Destination 2010 Bắt đầu từ năm 2004, Sacramento State đã phát động chiến dịch gây quĩ cho dự án “Destination 2010,” thuộc vào một kế hoạch lớn lao để bành trướng khuôn viên thêm nữa, nhằm đáp ứng với dân số trong vùng Sacramento ngày càng gia tăng mau chóng. Một trong những cơ sở sẽ xây dựng thêm là Recreation and Wellness Center (Trung Tâm Giải Trí và Lành Mạnh) do tổng hội sinh viên điều hành. Trung tâm này sẽ bao gồm những sân chơi thể thao, những phòng tập thể dục, tường leo trèo, sân thể thao điền kinh, và một trung tâm y tế mới dành cho sinh viên. Trong trung tâm này sinh viên sẽ tập thể dục, tham gia những sinh hoạt giải trí tập thể từng nhóm, tiếp cận những dịch vụ săn sóc y tế, khảo cứu và giao du với các sinh viên khác. Tọa lạc bên cạnh sân vận động Hornet Stadium và gần những địa điểm chủ yếu của khuôn viên, như thư viện và khu đậu xe Parking Structure III, trung tâm này chắc chắn sẽ hấp dẫn nhiều người, gồm cả ban giảng huấn, ban nhân viên và cựu sinh viên. Với diện tích rộng 150,000 feet vuông (14,000 mét vuông), trung tâm sẽ cung ứng những phương tiện thể dục, thể thao, giải trí, và những dịp thi tranh tài thể thao. Các giới chức của trường nói rằng Destination 2010 là một dự án có mục đích biến Sacramento State thành một trường đại học thu hút nhiều sinh viên tới thụ huấn và nhiều người tài giỏi tới làm việc trong ban giảng huấn. Sacramento State có cao vọng trở thành một trường đại học ưu tú trong vùng thành thị. Sáu thập niên sau khi thành lập, Sacramento State đã phát triển nhanh chóng để trở thành một cơ sở giáo dục cao đẳng có tiếng tăm trong vùng Bắc California, với hơn 28,000 sinh viên đang theo học. Trường này chú trọng vào việc đào tạo những người tốt nghiệp có tài lãnh đạo trong các địa hạt chuyên môn và trong các cộng đồng. Theo thống kê, một trong 26 cư dân của sáu quận hạt trong vùng Sacramento là người đã tốt nghiệp từ trường Sacramento State. Cơ sở giáo dục này đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp hơn 900 triệu đô-la mỗi năm vào nền kinh tế trong vùng Sacramento. Những hội đoàn và tổ chức sinh viên Sacramento State có nhiều hội đoàn và tổ chức giao tế xã hội và học thuật. Mỗi đoàn thể này chú trọng vào việc tạo cơ hội cho những sinh viên có cùng sở thích và thị hiếu gặp gỡ nhau thường xuyên. Có những tổ chức thuộc các tầm cỡ khác nhau, từ địa phương cho tới quốc gia và quốc tế. Một số hội đoàn chú trọng vào sự quảng bá những nền văn hóa đặc thù, hoặc cổ xúy những chủ trương đa văn hóa. Giao thông Sacramento State cung cấp những xe buýt riêng của trường gồm những xe con thoi (shuttles) chuyên chở hành khách, thuộc hệ thống Hornet Express, đồng thời hợp tác song song với hệ thống chuyên chở công cộng Sacramento Regional Transit District để cung cấp những chuyến xe đường xa nối tiếp với khuôn viên của trường. Các sinh viên của Sacramento State có thể sử dụng những phương tiện chuyên chở này miễn phí khi trưng ra thẻ sinh viên của họ. Sacramento State đang có kế hoạch thiết lập một hệ thống xe buýt chạy nhanh (bus-rapid transit system), giống như của của trường đại học University of Oregon, chạy qua khuôn viên và đi tới những trạm xe điện của thành phố Sacramento và những khu gia cư trong các vùng lân cận. |
![]() |
| Đang xem chủ đề này: 1 (0 thành viên và 1 khách) | |
| Công cụ | |
|
|