<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>

<rss version="2.0" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/">
	<channel>
		<title><![CDATA[Diễn Đàn X-Cafe - Triết học & Tư tưởng]]></title>
		<link>http://www.x-cafevn.org/forum/</link>
		<description />
		<language>vi</language>
		<lastBuildDate>Wed, 08 Sep 2010 19:32:09 GMT</lastBuildDate>
		<generator>vBulletin</generator>
		<ttl>60</ttl>
		<image>
			<url>http://www.x-cafevn.org/forum/styles/nexus/misc/rss.png</url>
			<title><![CDATA[Diễn Đàn X-Cafe - Triết học & Tư tưởng]]></title>
			<link>http://www.x-cafevn.org/forum/</link>
		</image>
		<item>
			<title>Chủ nghĩa Marx</title>
			<link>http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=4922&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Tue, 07 Sep 2010 03:05:18 GMT</pubDate>
			<description>Tớ là một sinh viên, một công dân VN chính hiệu con nai vàng. 
Ở trường tớ được học chủ nghĩa Mac-Lenin. 
Mọi người vào đây bàn tán xem, chủ nghĩa...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>Tớ là một sinh viên, một công dân VN chính hiệu con nai vàng.<br />
Ở trường tớ được học chủ nghĩa Mac-Lenin.<br />
Mọi người vào đây bàn tán xem, chủ nghĩa Marx có hay và thực tế không?<br />
Tớ cho rằng vật chất là thứ tồn tại trước, có tiến hóa hóa-sinh rùi tới con người, từ đó với trí tưởng tượng của mình, con người mới tạo ra các thực tế khác để dựa vào đó giải thích cho các hiện tượng mà chưa thể lý giải. Đó gọi là ý thức.<br />
Có ai phản biện ko?</div>

 ]]></content:encoded>
			<category domain="http://www.x-cafevn.org/forum/forumdisplay.php?f=12"><![CDATA[Triết học & Tư tưởng]]></category>
			<dc:creator>Sun</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=4922</guid>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Chuyên luận "Tự do cho chúng ta Làm Người"]]></title>
			<link>http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=4759&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Fri, 03 Sep 2010 13:23:51 GMT</pubDate>
			<description>Nguyễn Hoàng Đức 
Chungta.com 
 
 
 
*Chương I. Tự do là căn cước làm người. Tự do là nền móng của nền móng* 
 
 
Hiển nhiên, không có tự do con...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>Nguyễn Hoàng Đức<br />
Chungta.com<br />
<br />
<br />
<br />
<b>Chương I. Tự do là căn cước làm người. Tự do là nền móng của nền móng</b><br />
<br />
<br />
<i>Hiển nhiên, không có tự do con người sẽ không được xem như là con người. Điều hiển nhiên này nhân loại biết được cách rất muộn mằn. Ở châu Âu, cho dù từ “Tự do” được đề cập đến như là quyền sở trường, dân chủ, cộng hoà từ thời cổ đại với các triết gia Socrate, Platon, và Aristote, mặc dù vậy trải đằng đẵng qua hơn hai nghìn năm, băng qua thời nô lệ dã man, thời phong kiến áp chế mông muội, cho đến tận cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 nhân loại lần đầu tiên mới được thấy ánh sáng lý thuyết manh nha thời cổ đại phát thành ánh sáng hiện thực, rọi soi giữa lòng xã hội. Tự do là một trình độ nhận thức đã phát triển ở giai đoạn rất cao, đó cũng là trình độ làm người ở nấc thang chót vót, nó nhấc con người lột xác khỏi tầm bản năng động vật để trở thành tên gọi “Con người”- có bóng dáng cao thượng của thần thánh. </i><br />
<br />
<br />
Tự do, ở trình độ chín muồi muộn mằn đến mức, Trung Quốc là một nước có lịch sử văn hoá lâu đời đến vậy, lại là nơi đầu tiên phát minh ra thuốc súng, tên lửa và giấy... vậy mà lãnh tụ Tôn Trung Sơn trong cuốn “Chủ nghĩa Tam dân” cũng đã thừa nhận: <i>“Sở dĩ người Trung Quốc hoàn toàn không tâm đắc với từ Tự do vì từ này truyền đến Trung Quốc chưa lâu. Hiện nay những người hiểu Tự do, thường là những thanh niên mới, và lưu học sinh, hoặc là những người quan tâm đến thời cuộc chính trị Âu- Mỹ, họ luôn luôn nghe thấy hoặc nhìn thấy từ ngữ ngày trên sách báo, nhưng Tự do là gì thì nói chung họ vẫn lạ lẫm. Do đó, người nước ngoài phê bình người Trung Quốc là trình độ văn minh của người Trung Quốc thấp, tư duy rất ấu trĩ, ngay đến từ Tự do, tri thức về Tự do cũng không có” </i>(1). <br />
<br />
Tại sao một quốc gia lớn, lâu đời như Trung Quốc có những công trình vĩ đại như Vạn Lý Trường Thành, cung điện Thiên An Môn, và nhiều phát minh đi tiên phong nhân loại lại bị coi là tư duy ấu trĩ? Như chính lãnh tụ Tôn Trung Sơn đã đề cập, bởi vì dân tộc đó thiếu: tư duy về tự do. Tư duy về tự do là tư duy Nhân văn- tư duy làm Người- đúng hơn là tư duy về cái hạt nhân làm người. Để lý giải về tình trạng của Trung Quốc, triết gia hàng đầu nước Anh về lĩnh vực chính trị John Stuart Mill trong cuốn luận văn <a href="http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Sach-Hay/Ban_ve_Tu_do/" target="_blank">On Liberty</a> nổi tiếng khắp thế giới đã viết: <i>&quot;Trung Quốc dù đã phát triển sớm nhưng tư sản tự tiêu nền văn minh đứng lại vì không phát huy vai trò của các cá nhân</i> (diễn ý trang 7, 8 cuốn OnLiberty) (2).<br />
<br />
Không chỉ với Trung Quốc, Mill còn đưa ra một cái nhìn <i>bao trùm đánh giá sự phát triển ở phương Đông là rất trì trệ và lạc hậu. Ông viết: “Phần lớn thế giới, nói cách thích đáng, không có lịch sử, bởi chỉ có sự độc tài của phong tục lên ngôi hoàn toàn. Đó là trường hợp của phương Đông, phong tục ở đây trong mọi vấn đề, cứu cánh, công lý, và quyền chỉ có nghĩa thích hợp với phong tục, không ai tranh luận về phong tục cả” </i>(The greater part of the world has, properly speaking, no history, because the depotism of custom is complete. This is the case over the hole East. Custom is there, in all things, the final apeal, justice and right mean comformity to custom, the argument of custom no one...(3).<br />
<br />
Theo Mill, khi con người tuân thủ phong tục cách tuyệt đối thì cũng là cách trở thành nô lệ cho phong tục, khi đó làm gì có tư duy sáng tạo nảy sinh để tạo ra bước đi cho lịch sử, bởi lẽ khi đó con người sống theo thói quen, sống theo thân phận bản năng mà tạo hoá đã áp đặt cho mình, xã hội lúc đó khác gì bầy đàn của động vật. <br />
<br />
Trung Quốc đã vậy! Việt Nam ta ra sao? Dù rằng ngay thế kỷ XI, danh tướng Lý Thường Kiệt khi chống nhau với quân nhà Tống đã xác định khát vọng độc lập đường biên lãnh thổ của dân tộc:<br />
<br />
<i>Nam quốc sơn hà Nam đế cư<br />
Tiệt nhiên định phận lại thiên thư<br />
Như nhà nghịch lỗ lai xâm phạm <br />
Nhũ đẳng hành kham thủ bại hư</i><br />
<br />
Dịch nghĩa:<br />
<br />
<i>Núi sông nước Nam thì vua Nam ở<br />
Rõ ràng phận đã định ở trong cuốn sổ của trời<br />
Làm sao bọn giặc lại lấn cướp đất của ta?<br />
Chúng mày rồi xem sẽ bị thua bại hết</i> (4)<br />
<br />
Và có cả dũng tướng Trần Bình Trọng đã khẳng khái thét vào mặt kẻ thù phương Bắc: <i>“Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”</i>, thì mới chỉ xác định tính cát cứ- độc lập lãnh thổ của dân tộc, mà chưa thể vươn đến tầm khát vọng của tinh thần muốn có tự do. Theo cách định nghĩa của các triết gia nói chung, thì trình độ tự do của mọi xã hội đều có hai nấc:<br />
<br />
- Với quốc gia - là <b>Độc lập</b><br />
- Với cá nhân - là <b>Tự do</b>.<br />
<br />
Sách “Những vấn đề lớn của triết học” viết: <i>“Người tự do theo người Hy Lạp là công dân của một thành bang độc lập”</i> (L’homme libre pour un Grec est le citoyen d’une cité indépendante) (5). Theo sự phân cấp đó, thì hầu hết các cuộc đấu tranh ở phương Đông là thứ tranh giành đất đai, lãnh thổ, hay đòi độc lập cho một sắc tộc nào đó, và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Chính thế, mà lãnh tụ Tôn Trung Sơn đã bàn về các cuộc đấu tranh ở Trung Quốc mới ở mức quốc tộc mà chưa đến mức Tự do.<br />
<br />
<b>Tự do thiết yếu với con người đến thế nào?</b> Chúng ta đã biết, một dân tộc không có độc lập là một dân tộc không có đất sống- điều đó đồng nghĩa với cái gọi “sống như là chết,” hoặc phải làm nô lệ ngay trên mảnh đất của mình. Cao hơn thế, một cá nhân không có tự do sẽ ra sao? Anh ta sẽ là gì nhiều hơn một tên gọi “kẻ nô lệ!” Hoặc là <b>kẻ sống trong các thói quen áp đặt của bản năng như một muông thú đi hai chân</b>- không hề biết đến bất cứ một lựa chọn nào của một con người! Tự do thiết yếu như vậy nên đã từ hàng thế kỷ nay, đâu đâu chúng ta cũng nghe thấy con người ở khắp thế giới, từ thành thị đến chốn sơn cùng thủy tận nhất kêu lên:<br />
<br />
<br />
<br />
<b><div align="center">SỐNG TỰ DO HAY LÀ CHẾT</div></b><br />
<br />
<i>“Vivre libre ou mourir”</i> (6).<br />
<br />
Tự do hay là chết! Không phải là một lối nói khẳng khái cho oai, mà đó chính là tiếng nói của thực tại lịch sử, của các bộ não phân tích vĩ đại nhất của loài người, và của khát vọng làm người được thể nghiệm trong mỗi song sắt và mỗi tế bào da thịt. Triết gia Fichte nói: <i>“Lịch sử chỉ là lịch sử của tự do, của cuộc đấu tranh của con người vì sự giải phóng, lịch sử của những cuộc thăng trầm của tự do”</i> (L’histoire n’est que l’histoire de la liberté, de la lutte de l’homme pour la libération, l’histoire des vicissitude de la liberté ) (7).<br />
<br />
<br />
<b>Tại sao lịch sử của con người chỉ là lịch sử của tự do?</b> Vì không có tự do con người chỉ là nô lệ sống như cầm thú, sách “Những vấn đề lớn của triết học” viết: <i>“Lịch sử nhân loại biết đến một cuộc cách mạng của nô lệ” </i>(l’histoire humaine connait une révolution des esclaves) (8). Điểm qua về lịch sử chúng ta thấy, trước cuộc giải phóng nô lệ, người nô lệ bị đem ra chợ bán như súc vật, bị các ông chủ cầm ba tong vạch răng vạch lợi để xem chất lượng sức khoẻ, rồi đến cuộc giải phóng phụ nữ, so với đàn ông, phụ nữ là phái yếu, nhưng dẫu vậy chị em cũng không cam chịu làm công dân hạng hai, chưa nói đến quyền bầu cử, mà đến cái quyền ra sân vận động tranh tài- tranh sức cũng không được phép, và phải nhìn vào các cánh cửa công sở cũng như là các cánh cửa hy vọng chỉ giành cho giới mày râu, và đầu thế kỷ XX chị em đã đứng lên, cột mình vào hàng rào Nghị viện Anh quốc để đấu tranh. Nô lệ là tủi nhục không chỉ giành cho người da đen hay phụ nữ chân yếu tay mềm, ngay nước Anh hùng cường kia, khi bị người Norman chinh phạt cũng chỉ là thứ thấp kém đáng miệt thị cùng người Do Thái “con chó Do Thái, con lợn Xắc- xông,” mặc cảm bị khinh bỉ này đã được văn hào Walter Scoot lột tả rất kỹ trong cuốn tiểu thuyết “I vanhoe” (1819), rồi đến lượt chính dân Mỹ trở thành nạn nhân bị miệt thị rẻ rúm- đè nén của người Anh, khi bị xem như thứ công dân bán khai “châu lục quê mùa,” không chịu nổi sự o ép của “Mẫu quốc,” nước Mỹ kháng chiến để giành độc lập vào năm 1776, còn Trung Quốc ngay đầu thế kỷ XX khi Liên quân tám nước kéo vào, tại vườn hoa Bắc Kinh còn có các biển ghi “cấm chó và người Trung Quốc,” thật đau đớn khi phải làm nô lệ thì thân phận con người dù ở quốc gia văn hiến lâu đời cũng chỉ được xếp ngang hàng trâu - chó! Ở Việt Nam khi rơi xuống gót giầy xâm lăng của Phát xít Nhật vào năm 1945, bắt nhổ lúa để trồng đay, đã rơi vào nạn đói cùng cực khiến hai triệu người chết đói, thật là bi thảm! Còn ở Cam-pu-chia vào những năm bảy mươi của thế kỷ XX, khi dân tộc bị rơi vào tay các “đồng chí” khát máu của mình Pôn-pốt Iêng- xa- ri, thì gần một nửa dân số 3 triệu/ 7 triệu người phải chết dưới cuốc, xẻng, vồ của Khơ- me đỏ... Không thể nào nói khác đi, nếu lật cuốn sách lịch sử của nhân loại, không có trang nào, thậm chí dòng nào, không có máu của <b>các cuộc đấu tranh đòi tự do-cũng là đòi sống ở mức độ con người</b>.<br />
<br />
Sự nô lệ khổ ải không chỉ giành cho phụ nữ, người da màu, hay dân thuộc địa, mà ngay tại trung tâm của bất cứ xã hội nào, khi con người bị mất bình quyền, xuất hiện tầng lớp ăn trên ngồi chốc đè nén những kẻ thấp cổ bé họng bò dưới đất, thì đều đẩy dân tộc vào nạn tranh chiến can qua, cướp bóc, giết chóc, cầm tù, trả thù lẫn nhau. Chúng ta đang bước đến ngưỡng cửa Tự do rất quan trọng của nhân loại, đó là cuộc cách mạng Pháp năm 1789. Cuộc cách mạng nổ ra khi nông dân, thợ thuyền vùng lên chống lại ách áp bức của đám vua chúa và quý tộc, những kẻ ngồi mát ăn bát vàng, vơ vét công lao, vật phẩm của những người phải nai lưng làm việc trên các cánh đồng và công xưởng. Những người bị bần cùng hoá đến độ như văn hào Victor Hugo diễn tả trong tác phẩm “Những người khốn khổ”, cậu bé Ga-vơ-rốt kia không chỗ nương thân phải chui vào bụng một bức tượng voi ngủ chung cùng lũ chuột cống to hơn cả mèo, và cậu đã hân hoan lao vào giữa các làn đạn, nhặt đạn chưa bắn trong túi của các binh sĩ tử trận, với hy vọng sẽ đổi đời cùng cách mạng. Cao điểm của cuộc cách mạng Pháp đó là ngày 14 tháng 7 năm 1789, quần chúng lao vào phá ngục Bastille, nơi giam giữ biết bao người cùng khổ. Trước sự hiện long trời lở đất đó, vua Louis XVI đã kêu lên: &quot;Tại sao, ngườ ta phản loạn!&quot; (Why, this is a revolt!) thì đã được nghe quần chúng trả lời đanh thép &quot;Thưa ngài không! Đó là một cuộc cách mạng!&quot; (&quot;No, sir&quot; was the reply, &quot;it is a revolutio&quot;) (9). Đó là cuộc cách mạng chứ không phải phản loạn,vì đó không phải việc của thế lực này đánh trả thế lực kia, mà là toàn bộ nguyên lý khao khát tự do của con người lên tiếng. Cách mạng Pháp thật là cuộc hạ sinh vĩ đại, hạ sinh khát vọng tự do, với khẩu hiệu sẽ trở thành hạt giống cho cánh đồng tự do của cá nhân loại sau này. Đó là:<br />
<br />
<br />
<br />
<b><div align="center">TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI</div></b><br />
<br />
<i>Libertes, égalité, fraternité<br />
Liberty, équality, fraternity</i> (10)<br />
<br />
<br />
<b>Tại sao xã hội phải bình đẳng?</b> Bởi hiển nhiên xã hội không thể là chốn sơn lâm nơi các con thú lớn mặc sức săn lùng các con bé làm thức ăn cho mình, xã hội cũng không thể là chốn ao hồ ở đó cá lớn nuốt cá bé, xã hội cũng càng không thể là sự tập hợp của đám lục lâm thảo khấu kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu. &quot;Bình đẳng” chính là một phương ngôn được Cách mạng Pháp làm sống lại nguyên lý từ thời Socrate. Trong cuốn sách “Cộng hoà” (Répuplique) do triết gia Platon chép lại, triết gia Socrate bàn rằng, trong xã hội nếu không theo đuổi mục đích Cộng hoà, tức là cùng lãnh đạo và chung sống, ở đó hiệp hội bán muốn bán đắt, hiệp hội mua muốn mua rẻ, hiệp hội ông chủ muốn trả tiền công thấp, hiệp hội lao công muốn đòi trả công cao... tất dẫn đến xung đột về quyền lợi, khi đó nếu giới chủ cậy quyền, cậy tiền áp chế kẻ yếu, kẻ yếu sẽ ngầm chống đối lại cho đến khi nào có thể ngang nhiên lật đổ vị thế của kẻ mạnh để chiếm lấy ưu thế cho mình, bởi vậy, ở đâu có bất bình đẳng ở đó nuôi dưỡng các mầm chống đối, phản kháng không bao giờ dứt, xã hội sẽ rơi vào cạnh tranh đánh đấm liên miên, mất bình an và càng không thể nào thịnh vượng. ở đó sự bất công về mồ hôi luôn có nguy cơ phải trả giá bằng máu. Một chiếc thuyền không cân bằng sẽ lật, một phi cơ lệch cánh sẽ không thể bay lên, một xã hội mất bình quyền sẽ bất ổn và hỗn loạn. Thêm một lần trọng đại, cách mạng Pháp đã tái hiện sự bất bình đẳng kết cục sẽ bắt con thuyền xã hội mất cân bằng phải tiến hành cách mạng: <i>“Sự bất bình đẳng có mặt ở khắp nơi đã ngăn cản mọi nguồn tiến bộ”</i> (Inequalities were met everywhere and stopped all progress) (11). <br />
<br />
<br />
<br />
Không thể hình thành một vườn hoa, chỉ có vài bông ông chủ, còn lại các loài hoa khác phải chết để làm phân bón cho mình. Một quốc gia cũng vậy nó không thể hùng cường khi diện mạo của nó chỉ trông cậy vào mấy sự giầu sang ngang tàng của vài ông lớn, còn lại đa số người khác chỉ là rơm rác. Chính vậy mà trong Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đọc ngày 4, tháng 7, năm 1776, có viết: <i>“Chúng ta công bố sự thật hiển nhiên rằng, tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, điều đó được Đấng tạo hoá phú cho tất cả mọi người với những Quyền bất khả nhượng, trong đó có những quyền Sống, Tự do và theo đuổi Hạnh phúc.”</i> (“We hold theses truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty, and the pursuit of Hapiness” (12) <br />
<br />
<b>Tự do thiết yếu với con người cách chí tử, vì có tự do con người làm ông chủ, không tự do con người bị rơi xuống hàng nô lệ.</b> Là nô lệ, thì mọi thứ từ ăn uống, đến nghỉ ngơi, tiêu xài đến vui chơi, hoặc thực thi bất kỳ một nghĩa cử nào đều không phải của mình. Người lái xe dù đi xe đắt tiền cùng ông chủ nhưng không thể được tính là người được sử dụng xe, vì anh ta không được sử dụng xe theo ý thích của mình, chị đầy tớ ở trong một lâu đài không thể được tính là người có lâu đài vì chị ta là kẻ sống thụ động không thể ngồi đâu, đứng đâu theo ý mình, và một người ở làm theo lệnh của ông chủ bưng cơm mời ai đang lỡ độ đường, hành vi thiện hảo đó được tính cho chủ anh ta- người có ý định tốt cũng như tài sản, chứ không phải cho anh ta- kẻ thừa hành, thậm chí những việc ác người ở buộc phải làm theo ý chủ, thì tội ác đó cũng không hoàn toàn là của người ở, mà ông chủ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn, với tội danh kẻ chủ mưu, cho dù tay không trực tiếp nhúng chàm. Sách “Những vấn đề lớn của triết học viết: <i>“Ông chủ là tự do”</i> (le maitre est libre) (13). Tự do không chỉ thiết yếu tấn phong con người lên hàng ông chủ, mà không có tự do con người không thể hợp thành xã hội loài người, bởi lẽ không có tự do con người không thể trở thành “động vật có đạo đức.” Xã hội loài người khác biệt loài vật ở chỗ con người có đạo đức. Bởi lẽ, loài vật sống theo lối kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu, cá lớn nuốt cá bé, trong khi đó con người là loài người ở chỗ kẻ trên biết nhường kẻ dưới, người mạnh biết giúp người yếu, và nếu có kẻ định dùng thế mạnh của mình để ức hiếp, tấn công người khác sẽ bị pháp luật can thiệp. Xã hội loài người hình thành bởi con người hợp quần lại sống theo những gì <i>“hợp hiến”</i>, và sự hợp hiến đó mở màn, đặc biệt với người Hy Lạp, là mọi người phải sống theo công lý, ai có công thì đều được thưởng, ai có tội thì đều phải phạt, thậm chí lề luật nguyên sơ đầu tiên của loài người là <i>“mắt đền mắt”, “răng đền răng”</i>, nếu anh khoét mắt tôi toà án của cộng đồng sẽ phạt khoét mắt anh, nếu anh đánh gãy răng tôi sẽ bị đền bằng cách bẻ răng, nếu anh làm gãy tay tôi anh sẽ bị bẻ tay, nếu anh chặt chân tôi anh cũng không thoát khỏi bị chặt chân, và nếu anh gây tội ác giết người thì anh sẽ bị khép tội tử hình- lấy cái chết của mình đền cho cái chết của người khác. Không có đạo đức không thành xã hội loài người. <b>Và không có tự do, như trên chúng ta đã bàn con người không phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, như vậy không thể có đạo đức</b>. Bởi vậy triết gia Kant bàn: <i>“Chủ thể đạo đức theo Kant là tự do chỉ vì anh ta tuân theo luật đạo đức”</i> (Le sujet moral selon Kant est libre dès qu’il obéit à la loi morale) (14). Tự do như vậy là chìa khoá để mở vào địa vị ông chủ của con người, cũng như vào đạo đức của con người. <b>Chỉ có con người mới có tự do, vì con người dùng tự do để lựa chọn đời sống đạo đức giữa cộng đồng của mình</b>, trái lại động vật không có tự do vì chúng sống theo tất cả những quy luật tất định của thiên nhiên an bài cho chúng. Ngay từ thời cổ đại, trước công nguyên hơn 300 năm hai triết gia Platon và Aristote đã lý giải về cách tự do của con người thoát xác khỏi động vật: <i>&quot;Tự do thực sự của nhân loại là trí năng và suy tưởng về điều thiện, là tư duy của tư duy, là một hữu thể giải thoát thật sự khỏi bản tính động vật” </i>(la véritable liberté humaine et pour eux la vue de l’intelligible uo la contemplation du Bien, la pensée de la pensée en ou être libéré définitivement de sa nature animable) (15). Triết gia Platon và triết gia Aristote còn lý giải: <i>“Con người tự do rút cục là con người nâng cao tư duy của mình lên cực điểm để dẫn dắt chính mình, tìm kiếm trong lý trí mình, trong khoa học mình, lề luật của lòng thành và cái thiện thích đáng”</i> (L’homme libre est finalement dans ses pensées les plus elevées celui qui doit se maitriser lui- même, trouver en sa raison dans sa science, la loi du comportement honête et bon) (16). Sau hơn hai mươi thế kỷ triết gia Emmanuel Kant trước khi xác định chỉ có con người đạt đến tự do khi chỉ có con người mới có lý trí và biết sống theo lề luật của lý trí. Ông xác định: <i>“Trí năng là khả năng của những định luật</i>&quot; (l’entendement est le pouvoir des règles), <i>“Lý trí là khẳ năng của những nguyên tắc”</i> (pouvoir des principes) (17). Sau khi đã xác định trí năng cũng như những nguyên tắc của nó, Kant bàn đến tự do của con người- một động vật duy nhất có trí năng: <i>“Tất cả các sự vật trong thiên nhiên đều hành động theo những định luật. Chỉ mình hữu thể có lý trí là có khả năng hành động theo những biểu tượng nó có về những định luật, nghĩa là hành động theo những nguyên tắc, cho nên chỉ mình hữu thể này có tự do&quot;</i> (fondements, tr 40) (18). Nếu không có tự do để xác lập lề luật sống của riêng mình, mà chỉ biết sống theo những gì của tạo hoá sắp đặt, con người khác gì động vật ở giữa muôn loài động vật. Sách <i>“Những vấn đề lớn của triết học”</i> viết: <i>&quot;Con người là tự do vì nó là người. Không có tự do của ý thức đối nghịch với đồ vật, nhân loại chỉ là động vật, là đồ vật giữa muôn đồ vật, chẳng có gì đáng nói cả.”</i> L’homme est libre parce qu’il est homme. Sans la liberté de la conscience, qui est le contraire de la chose, l’humanité ne serait qu’une espèse animable, chose parmi les choses et nous ne serions pas là pour en parler) (19). <br />
<br />
Vì tự do vừa là nền móng khởi đầu đưa con người thoát khỏi kiếp động vật vừa là cứu cánh tối thượng con người muốn đạt tới nên Kant cho rằng: <i>“tự do là chìa khoá mở cửa. Tự do là nhắm tới mục đích tuyệt đối”</i> (la liberté est la “clef de vouter”, la liberté- comme orienté vers la fin absolue) (20). Hình ảnh tự do là chìa khoá, thật là đích đáng, bởi vì không có tự do con người khác chi con chim bị nhốt trong lồng, con thú bị nhốt trong chuồng, và tự do bắt đầu là chìa khoá mở cưả cho người ta bước khỏi nơi giam cầm đó, nó giống như chìa khoá của viên cai ngục tra vào ổ khoá của nhà tù, được trả tự do. Khi con chim bị giam trong lồng, cổ họng nó nghẹt thở trong sự sợ hãi thì làm sao có thể cất tiếng hót! Khi con thú bị giam cầm trong chuồng làm sao có thể được tung tăng chạy trên đồng cỏ ăn thứ thức ăn dễ dàng nhất trên mặt đất này! Và khi con người bị giam cầm trong song sắt, bị trói tay trói chân, đeo gông nơi cổ, thì anh ta có thể làm được gì? Trước kia dưới những hầm tàu, người nô lệ bị xích vào những mái chèo để khỏi chạy trốn hay nôỉ loạn, thì cơ thể họ vẫn làm được việc chèo thuyền, nhưng mắt họ như bị bịt kín lại, ngoài việc chèo theo nhịp trống đều đều như những cỗ máy, họ hoàn toàn mắc chứng đui mù, không biết con tàu đi về hướng nào. Không có tự do con người chẳng thể làm được gì, nếu có thể làm là làm như những kẻ nô lệ đui mù cách phi tự nhiên ở dưới hầm tàu, vì thế mà triết gia Heidegger nói: <i>“Tự do là nền móng của nền móng”</i> (la liberté est le fondement du fondement) (l’essence du fondement). Triết gia John Stuart Mill, cách tương tự cho rằng, <i>“Tự do là đế trụ”</i> (liberty is a stoke) (21). <br />
<br />
<br />
Ông ví tự do cá nhân đơn giản như việc nếu một cá nhân không được tôn trọng tối thiếu nơi những số đo của mình thì người thợ may không thể may cho cá nhân đó một chiếc áo vừa người, anh thợ giày không thể đóng cho cá nhân đó một đôi giày vừa chân, mở rộng ra thì thấy, một người phải ăn cái mình không thích, phải uống cái mình không thể, phải làm cái việc vô nghĩa theo ý chủ, thậm chí phải lao vào tội ác như một con thiêu thân, thử hỏi cuộc đời còn có ý nghĩa gì? Mill nói: <i>“áo khoác và đôi giày không thể vừa người nếu không được làm theo số đo của người đó”</i> (coat or a pair of boots to fit him unless they are either made to his measure) (22). <br />
<br />
<b>Tự do không chỉ là vật liệu thiết yếu mở màn xây lên mọi giá trị của con người, mà tự do còn là một báu vật đạt tới mọi tầm cao của giá trị nhân loại.</b> Một kẻ buộc phải làm chứng dối chẳng hạn, như vậy hắn làm sai lệch sự thật ở toà án, người nào đó sẽ bị xử cách bất công, còn kẻ phạm tội thì vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Như vậy, không có tự do, con người sẽ không bao giờ đạt tới sự thật, càng chẳng bao giờ đi tới chân lý, mà lúc đó con người chỉ là những kẻ nô lệ dối trá trong sợ hãi, hay dối trá để vụ lợi cho mình, khi đó người ta sống cuộc đời ngu xuẩn nhất, như đức phật dạy ở điều thứ hai trong mười điều: <i>“Sự ngu xuẩn nhất là dối trá.”</i> Tại sao vậy? Hãy xem như triết gia Hegel diễn tả: một ngôi nhà nếu không dựng trên những cây cột đứng ngay ngắn thì sẽ đổ. Vậy những kẻ sống dối trá, tức không dám sống sự thật về mình, hắn dựng các loại cột kèo vừa giả vừa nghiêng ngả, <i>“ăn không nói có”</i>, chỗ cần che gió không che, chỗ không cần thì lại bưng bít lại, thử hỏi hắn có chuốc lấy sự sụp đổ cho mình? Hoặc giả, kẻ không có đồ ăn thật để ăn, cứ suýt xoa về những đồ ăn giả toàn phẩm mầu và nước suýt rởm, liệu có tránh khỏi bị vong thân? Vì thế mà Đức Phật mới chắc chắn rằng: <i>“Sự ngu xuẩn nhất là dối trá.”</i> Sách Các vấn đề lớn của triết học viết: <i>“Chỉ được tự do mới có thể nói ra sự thật để nhắm về chân lý”</i> (Seul un être librr peut se proposer de dire vrai et viser la liberté) Hay <i>“chỉ bằng cách nhắm đến tự do mới có thể nhìn về chân lý”</i> ( mais il n’y a des faits que pour la liberté en vue de la vérité) (21). Sách đó ví, tự do với con người như ánh sáng. Vậy, ánh sáng đó không màu, không sắc, nhưng nó giúp ta nhận ra màu sắc của vạn vật. Tự do cũng vậy, nó là “điều kiện ánh sáng đầu tiên”, có thể chưa màu - sắc nào, nhưng là môi trường tiên quyết giúp con người nhận biết mọi giá trị ở đời. Sách viết: <i>“Không có ánh sáng người ta không nhìn thấy gì cả tuy ánh sáng vô vị- vô sắc nhưng trong ánh sáng người ta phân biệt tất cả. Không có tự do người ta không thể nhận ra một con người tư duy giữa muôn vật của tự nhiên”</i> S’il n’y avait pas de lumière nous ne verrions rien... Sans liberté rien ne saurait differencier l’homme qui pense d’une chose dans la nature ) (24). Tự do khiến con người được quyết định theo ý thức của mình, đó cũng là điều chứng tỏ con người là hữu thể có lý trí khác hẳn vạn vật. Chính thế mà triết gia Kant đã coi tự do là sức mạnh để tấn phong con người lên ngôi vị chúa tể: <i>“Trong thế giới những phần tử tự nhiên, con người chỉ là một hiện tượng trong muôn vàn hiện tượng. Nhưng trong thế giới của những yếu tố tinh thần, cái mà Kant gọi là “vương quốc của những cứu cánh” nó là một hữu thể tự do , tự do được tấn phong lên ngôi vị độc tôn”</i> (En tant qu’elément du monde de la nature, l’homme est seulement un phénomène parmi tant d’autres. Mais en tant qu’elément du monde de l’ esprit, on de ce que Kant appelle “le royaume des fin”, il est être libre, doué de libre arbitre) (25).<br />
<br />
<div align="center">*<br />
* *</div><br />
<b>Chúng ta khao khát tự do để làm người. Nhưng tự do là gì mới được chứ?</b> Vì dù ở đâu, bất cứ chỗ nào người ta muốn chứng tỏ mình đã đạt đến trình độ con người đều trương lên tấm biển tự do, cho dù là trùm phát xít độc tài Mussolini (1883-1945), hay đầu sỏ khét tiếng Hitler (1889-1945), hoặc chế độ phân biệt chủng tộc Nam Phi, hay “cộng sản đỏ” kiểu Pôn-pốt Iêng- Xa-ri ở Cam-pu-chia... đều giương lá bài tự do, thay vào đó lại là súng máy, xe tăng, máy bay, tầu chiến, tên lửa, cả cuốc, cả vồ vừa bắn nát vừa đập chết tự do. Nhưng tất cả vài mình hoạ nhỏ đó chỉ là lớp váng mỏng trên đại dương giông tố đầy ắp sóng trào quằn quại rên xiết của tự do. Lịch sử loài người theo triết gia Fichte, là lịch sử của tự do. Nếu có thể nói không có trang sử nào không có máu của tự do, thì cũng có thể nói không một mảnh đất nào trên hành tinh lúc này hay lúc khác tự do lại không bị rên xiết dưới đế giày bạo lực. Nhà tư tưởng Rousseau nói: <i>“Con người sinh ra tự do và hầu hết sống trong xiềng xích” </i>(L’homme est né libre et partout il est dans les fers) (Contrat social, Livre I, chap I (26).<br />
<br />
<b>Vậy tự do là gì?</b> Tự do không phải lớp sơn vẽ bên ngoài, như tấm áo sặc sỡ của ông chủ thí cho kẻ nô lệ nhân ngày tết, mà tự do phải là điều kiện bên trong của tinh thần, khiến lý trí có thể đưa ra quyết định. Một cô gái không thể có tự do lựa chọn tình yêu khi cô ta bị tước mất quyền mở cửa với chàng này, đóng cửa với chàng kia, và cả cái quyền hứa hôn cuối cùng cũng bị cha mẹ tước mất. Mà cô gái chỉ thực sự tự do trước tình yêu khi hoàn toàn dùng quyền đó chấp nhận người này, từ chối người kia. Đó là cách hiểu căn bản đầu tiên về tự do, quyền lựa chọn: Có hay không. Triết gia Descartes bàn: <i>“Tự do bao gồm rằng chúng ta có thể làm một việc hoặc không làm nó, nghĩa là chấp thuận hay từ chối</i> (Cette liberté consiste en ce sans que nous pouvons faire une chose ou ne pas la faire) (c’est à dire affirmer ou nier) (27) Descartes còn diễn giải: <i>Tự do là trạng thái lãnh cảm lập lờ trước khi quyết định</i> (28). Như vậy tự do là một trạng thái chưa có gì , không vướng bận gì để đưa ra quyết định, theo triết học có thể nói đó là một trạng thái hư vô để chuẩn bị hạ sinh hữu thể là quyết định. Tuy nhiên trong vài chữ đó, Descartes đã chỉ ra cách rõ ràng: tự do chỉ là trạng thái lãnh cảm lập lờ trước khi quyết định, còn sau khi đã quyết định, con người không thể được quyền lãnh cảm nữa, mà phải gắn hết chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Một cô gái trước khi quyết định yêu ai, có thể có trạng thái dửng dưng, lập lờ, chưa thế này cũng chẳng thế kia, nhưng khi cô đã đính ước với một chàng trai cụ thể, thì lời đính ước đó không thể là lãnh cảm nữa, mà là một dấn thân làm cho kỳ được, chứ không thể “lời nói gió bay”. Một chàng trai giơ tay thể nguyền cũng vậy, đó là một quyết định anh ta đã lựa chọn và tham dự vào, là người tự trọng anh ta sẽ xả thân đến cùng để bảo toàn lời thề đó, bởi lẽ, ánh ta không th ể coi nhẹ danh dự của mình, một khi đã xác định “nhất ngôn cửu đỉnh”- một lời nói nặng tựa chín đỉnh, và “nhất ngôn ký xuất tứ mã nam trung”- một lời nói ra bốn ngựa khó đuổi. <br />
<br />
Tiếp theo đó, triết gia Kant gọi <b>tự do là nguyên nhân tuyệt đối đầu tiên, từ nguyên nhân đó mới có thể mọc lên gốc lựa chọn và quyết định</b>. Ông nói: <i>“Tự do là nguyên nhân không có nguyên nhân, là một nguyên nhân tuyệt đối đầu tiên”</i> (la liberté puisque’il s’agirait d’une cause sans cause, d’une cause absolument première) (29). Tự do là điều kiện khởi đầu cho mọi hoạt động ý thức của con người, vậy nó xứng đáng là nguyên nhân tuyệt đối đầu tiên. Theo Kant, cách hiển nhiên hơn, tự do là giá trị đầu tiên để xác định: Con người là một vật tự thân. Theo thần học cũng như một bộ phận lớn của triết học thì, chỉ có Thượng Đế là Đấng tự thân như lời Kinh nguyện: <i>“Ngài sinh ra mà không phải tạo thành.”</i> Còn lại tất cả vạn vật và con người chỉ là thứ Thụ sinh- Thụ tạo. Con người, có ai lại không sinh ra từ cha mẹ mình, cha mẹ cũng không tự sinh ra mà sinh từ ông bà ta, ông bà lại sinh từ cụ kỵ... như vậy mỗi người không thể tự mình hạ sinh mình hay làm ra mình, mà đều phải thụ sinh từ người khác. Tất cả các loài vật cho đến mọi đồ vật cũng vậy, chúng không thể tự mình sinh ra mình mà được thụ sinh và thụ tạo. Vậy thì con người thụ sinh giống động vật thì cũng là một động vật ư? Không chính nhờ có tự do mà con người tự biến cuộc thụ sinh của mình thành một <i>“Tự thân”</i>; trái lại loài vật vừa thụ sinh lại và tuân thủ răm rắp các lề luật sẵn có của tự nhiên, nên chúng chỉ là <i>“Thụ thân”</i> (chứ không thể là <i>“Tự thân”</i>). Từ Tự thân, con người mới có thể Tự trị, và cách nào đó đã Sáng tạo để Tái tạo lại mình như một khát vọng Tự tạo. Triết gia Kant nói: <i>“Tự trị nguyên lý của phẩm giá con người cũng như những bản thể có lý trí”</i>. (Fondements, tr.78) (30). <br />
<br />
<br />
Triết học của Kant có thể được coi như triết học của ý chí vì ông coi cái thiện chí của con người là cái đầu tiên quy định con người là thiện, như vậy cách tương tự ông cũng cho rằng ý chí tự trị của con người là cái đầu tiên nhất quy định con người muốn tự do. Ông nói: <i>“Sự tự trị của ý chí là nguyên tắc cao cả nhất của tính chất đạo đức. Tự trị là nguyên lý của phẩm giá con người cũng như tất cả bản thể có lý trí”</i>. J.Donald Butler trong cuốn sách <i>“Four philosophies”</i> (Bốn nền triết học) cũng đã viết: <i>“Mỗi cá nhân có đủ tự do nền tảng của mình, đó là quyền tự quyết” </i>(The individual self has all the freedom essential to self determination (31). <br />
<br />
Con người là vật tự thân tức con người phải sáng tạo ra mình trong ý chí muốn tự trị lấy mình, chứ không phải để thiên nhiên cai trị mình. Tự trị tức tự cai quản mình, tự cai trị mình, tự xem xét và phán xử mình, tự chọn cho mình một lối đi, và tự mình theo đuổi con đường mình đã chọn. Triết gia Kierkegaard nói: <i>“Chúng ta được ban cho chúng ta, chúng ta không tự tạo bởi hư vô. Chúng ta thành người tự do” </i>(32). <br />
<br />
Theo triết gia Jean Paul Sartre, thì con người tuy không tự sáng tạo ra mình, nhưng bằng tự do con người đã tự chọn lấy mình là ai, là trọng danh dự hay ô danh, là can đảm hay hèn nhát, là đạo đức hay phi luân. Sartre nói: <i>“Tôi tìm thấy mình trong một thế giới và chọn tôi là ai trong thế giới đó”</i> (Je me trouve dans un monde et je me choisis ce que <i>“je suis”</i> (33). Sartre cho rằng con người không tạo được vóc dáng xác thịt của mình, nhưng mà tạo ra cái mình sẽ là: <i>“Con người tự làm nên cái anh ta sẽ là”</i> (He mades him self what he is) (34).<br />
<br />
Cái anh ta sẽ là! Cũng như cái mọi người sẽ là ! Là cái gì? Đó chính là quan niệm của Sartre về cái <i>“Con người là Dự phóng”</i>. Theo Sartre thì chỉ có con người sẽ chọn con người ở thì tương lai, ông gọi đó là Hữu vị thân ( le pour- soi), nghĩa là con người không chỉ ở Tự thân mình (En- soi) mà con người có vô vàn dự án để đạt tới mình - cái tôi mới ở thì tương lai, chẳng hạn tôi muốn học cao để sang năm thành tiến sĩ, một sinh viên đang lo thi cử để ngày mai thành bác sĩ, một ông cục trưởng đang phấn đấu để làm bộ trưởng, hay một cô gái đang viết một lá thư tình mong ngày mai nó trở thành một tấm thiếp đính hôn cùng chàng- mà hình ảnh đang được ghì xiết- dày vò- ám ảnh giữa trái tim...Tất cả đó là các dự án để đạt tới con người của ngày mai. Hẳn nhiên, con người sống được chăng hay chớ hôm nay mà không nhắm tới ngày mai- thì không được gọi là người. Và con người muốn có ngày mai phải là con người đang dùng tự do để quyết định ngay từ hôm nay, như lời một bài ca: “ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay”. Sartre nói: <i>“Vị thân là một hữu thể tự xác định mình bằng hành động, và điều kiện tiên quyết của hành động đó là tự do”</i> (Le Pour- soi est l’être qui se définit par l’action, et la condition première de l’action, c’est la liber té) (35).<br />
<br />
<b>Tại sao con người lại phải xác định mình bằng hành động?</b> Vì lẽ hiển nhiên con người không thể muốn chôn vùi mình trong giấc ngủ đông như loài gấu mong làm nên diện mạo của mình, vì thế con người là hành động. Hành động của con người không phải sự hoạt động của bầy thú, chúng gặm cỏ, chơi đùa, ra suối uống nước, rình mồi, hay tranh giành bạn tình... đó chỉ là những hoạt động mang tính sinh hoạt mà thiên nhiên đã quy định cho chúng. Nhưng con người khác hẳn, con người hành động để tạo nên con người, cũng như gia đình mình, cộng đồng mình, và thế giới của mình. Hành động đó luôn phải bắt đầu từ ý thức, và cuốn theo dự phóng do ý thức vạch ra, và hoàn thành công việc theo tiêu chuẩn mà ý thức đã vạch ra trong ý định. Mà, trước khi hành động, con người phải có ý thức về hành động đó, và điều kiện đầu tiên của ý thức đó là tự do. Tự do đó nói chính xác hơn – dễ hiểu hơn là gì? Sartre lý giải: <i>“Ý thức của cá nhân tự do là quyền phủ định”</i> (La conscience individuelle est libre, c’est -à- dire négation) (36).<br />
<br />
<b>Tại sao tự do là quyền phủ định?</b> Chúng ta thử hình dung một kẻ hành hương đang đi trên đường nhắm đền thánh. Đến một ngã ba, theo hành trình của mình, anh ta buộc phải từ chối rẽ trái để rẽ về bên phải, nhưng anh ta lại bị một kẻ ngang tàng bắt phải rẽ về bên trái, nơi không có đền thánh, thì liệu anh ta có thể đến được đích của mình? Và trên con đường đó trước khi đến đích có rất nhiều ngã ba như vậy, mà chỉ rẽ sai ở một ngã ba thôi, kẻ hành hương sẽ không thể nào đến đích! Không, anh ta chỉ đến đích theo như lộ trình đã ghi trên bản đồ đem theo, nơi cần rẽ thì anh được rẽ, chỗ nào không phải rẽ thì anh ta được quyền không rẽ, nghĩa là anh ta có quyền tự do thường trực- quyền đó không bị mất đi ở bất cứ ngã ba nào, quyền chấp nhận rẽ bên này- và- quyền phủ quyết rẽ bên kia. Kẻ hành hương vạch ra mục đích của mình là đền thánh, và anh ta chỉ đến đó được khi được tự do quyết định đi theo lộ trình mình đã nhắm, ngược lại, anh ta không thể nào đến đích khi bị ai đó bắt buộc phải rẽ theo hướng khác. Triết gia Spinoza nói về tự do như sau: <i>“Tôi coi là tự do, một vật hành động chỉ vì sự tất yếu của bản tính nó, và là không tự do một vật bị quyết định bởi vật khác trong sự hiện hữu và hành động của nó.”</i><br />
<br />
Không có tự do con người không thể theo đuổi mục đích của mình, mục đích đó dù chỉ là nơi mình muốn đến- như con tàu kia đang lao về đích bị bẻ ghi chạy sang đường ray khác làm sao về đích, hay dù chỉ là một cử chỉ tốt đẹp ta muốn làm cho người khác nhưng bị ông chủ cấm làm thì cử chỉ đó làm sao hoàn thành, hoặc dễ dàng như ta muốn nói lên ý tưởng của mình nhưng bị kẻ mạnh hơn khống chế không cho nói ra hoặc bắt phải nói theo cách nguỵ tín nào đó, thì ngay lời nói đã sắp đặt ở cửa miệng ta cũng không thể được hoàn thành. Có một câu chuyện về nhà vua và các quan đại thần của Trung Quốc là: Một ngày, ông vua muốn thử lòng sợ hãi của các quan đại thần, ông đem con lừa vào giữa cung điện và nói “đó là con ngựa,” sau một thoáng ngập ngừng, đại thần đều nói theo vua “đó là con ngựa.” Đấy, không có tự do, thì một việc nhỏ sờ sờ trước mắt, trẻ con cũng hiểu được, lại được những vương tôn, công tử, đại thần làm bằng cách cố tình không hiểu. Khi đó nỗi sợ hãi thay thế sự chân thành, mà không có lòng chân thành con người làm sao có thể đến được chân lý. Triết gia White Head cho rằng: <i>“Yếu tính của tự do là khả năng thực hiện được mục tiêu.”</i> (37)<br />
<br />
Tự do là điều kiện cho mỗi người ý thức và hành động, đó là quyền theo Mill là không thể nhượng lại cho ai, giống như trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ gọi là <i>“Bất khả nhượng”</i>, Mill nói: <i>“Nguyên lý của tự do không thể đòi hỏi tự do hay là không. Không thể là tự do nếu buộc phải nhượng quyền tự do của mình” </i>(The principle of freedom can not require that he should be free not to be free. It is not freedom to be allowed to alienate his freedom.) (38)<br />
<br />
<br />
Đến đây chúng ta hãy đề cập đến quyền tự do bất khả nhượng được ghi trong: <b>“Hiến chương quốc tề về quyền con người,”</b> đã được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chấp thuận và công bố theo quyết định số 217 A (III) ngày 10/12/1948<br />
<br />
<br />
<b>Lời nói đầu</b><br />
<br />
<i>Nhận thức rằng</i>, việc thừa nhận phẩm giá vốn có của tất cả các thành viên gia đình nhân loại và những quyền bình đẳng không thể tước bỏ của họ, đã tạo dựng nên nền tảng của tự do, công lý và hoà bình trên thế giới.<br />
<br />
<i>Nhận thức rằng</i>, việc chối từ và miệt thị những quyền con người đã dẫn đến những hành động man rợ, nó thách thức lương tâm nhân loại và sự đăng quang một thế giới, ở đấy, những thành viên nhân loại sẽ được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, thoát khỏi sự khủng bố và khốn cùng, đã được tôn xưng như nguyện vọng cao cả nhất của con người.<br />
<br />
<i>Nhận thức rằng</i>, thật cần thiết những quyền con người phải được bảo vệ bởi một thể chế luật pháp, sao cho họ không phải bị ép buộc cầu viện đến cái tột cùng là sự nổi dậy chống lại chuyên chế và áp bức.<br />
<br />
<i>Nhận thức rằng</i>, thật cần thiết để cổ vũ cho sự phát triển quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc.<br />
<br />
<i>Nhận thức rằng</i>, trong Hiến chương các dân tộc Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố lại một lần nữa đặt niềm tin vào những quyền cơ bản của con người, vào phẩm hạnh và giá trị từng cá nhân nhân loại, vào quyền bình đẳng của nam giới và nữ giới, và đã tuyên bố quả quyết hỗ trợ cho sự tiến bộ xã hội cùng thiết lập những điều kiện tốt đẹp nhất cho đời sống trong sự tự do mở rộng nhất.<br />
<br />
<i>Nhận thức rằng</i>, những nước thành viên đã cam kết chắc chắn, bằng sự hợp tác với Tổ chức Liên Hiệp Quốc, tôn tọng đầy đủ và thực hiện những quyền con người và những quyền tự do cơ bản.<br />
<br />
<i>Nhận thức rằng</i>, một sự thừa nhận chung về các quyền con người và quyền tự do là điều quan trọng cao nhất để thực hiện đầy đủ bản cam kết này.<br />
<br />
<b>Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tuyên bố:</b><br />
<br />
Sự hiện diện bản Tuyên ngôn phổ cập về nhân quyền coi như lý tưởng chung đã đạt tới, bởi tất cả các dân tộc và tất cả các quốc gia, cần làm cho tất cả các cá nhân, các tổ chức xã hội, thường xuyên được biết đến bản Tuyên ngôn ngày, cùng nhau gắng sức, trong công việc giáo dục và đào tạo, cần truyền bá sự tôn trọng những quyền và tự do ấy, và cùng ra sức bảo đảm nó, trong những biện pháp tiến bộ cỡ quốc gia hay quốc tế, việc thừa nhận và giải thích rộng rãi và có hiệu quả những quyền ấy, không chỉ ở nhân dân những nước thành viên mà còn ở cả nhân dân những vùng đất dưới quyền xét xử của họ.<br />
<br />
<b>Điều 1</b><br />
Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền lợi. Họ đều được trời phú cho lẽ phải và lương tâm, và phải cư xử với nhau trong tinh thần bác ái.<br />
<br />
<b>Điều 2</b><br />
Mọi người đều có thể dựa vào những quyền và những tự do đã được công bố trong bản tuyên ngôn này, không một phân biệt nào, nhất là về nòi giống, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay những quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi, hoặc mọi tình cảm nào khác.<br />
<br />
Hơn nữa, cũng sẽ không có sự phân biệt nào về quy chế chính trị, về pháp lý, hay quốc tế xứ sở hoặc lãnh thổ mà cá nhân là người có quốc tịch khác, rằng xứ sở hoặc lãnh thể ấy độc lập hay chủ quyền bị đặt dưới một giới hạn nào đó.<br />
<br />
<b>Điều 3</b><br />
Mỗi người đều có quyền sống, quyền tự do và quyền an toàn cá nhân.<br />
<br />
<b>Điều 4</b><br />
Không ai bị bắt làm nô lệ hay tôi đòi, chế độ nô lệ và việc buôn bán nô lệ bị cấm dưới mọi hình thức.<br />
<br />
<b>Điều 5</b><br />
Không ai phải chịu tra tấn, bị hành hạ hay đối xử độc ác, vô nhân đạo, làm cho hèn hạ.<br />
<br />
<b>Điều 6</b><br />
Mỗi người đều có quyền hiểu biết về tất cả mọi điều thuộc tư cách pháp lý của mình.<br />
<br />
<b>Điều 7</b><br />
Tất cả đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ bình đẳng không phân biệt. Mọi người có quyền được bảo vệ bình đẳng chống lại mọi phân biệt vi phạm bản Tuyên ngôn và chống lại moị sự khiêu khích phân biệt như vậy.<br />
<br />
<b>Điều 8</b><br />
Mọi người có quyền nhờ cậy thực sự với toà án các nước có thẩm quyền chống lại những hành động xâm phạm những quyền cơ bản đã được thừa nhận trong hiến pháp hoặc luật pháp nước đó.<br />
<br />
<b>Điều 9</b><br />
Không ai có thể bị bắt, bị cầm tù, bị lưu đầy một cách trái phép.<br />
<br />
<b>Điều 10</b><br />
Mọi người có quyền, hoàn toàn bình dẳng, về việc buộc tội phải được xét xử công bằng và công khai trước một phiên toà độc lập và vô tư, phiên toà sẽ phán quyết về quyền lợi và nghĩa vụ, về tính chất đúng luật có căn cứ của những lời buộc tội nhằm trừng phạt kết án họ.<br />
<br />
(Trích trong bản <i>“Tuyên bố phổ cập về quyền con người”,</i> gồm 30 điều. Theo bản dịch viết tay của nhà văn Hoàng Tiến ngày 25/4/1997) (37).<br />
<br />
<br />
-----------------------------------------------------<br />
<br />
1. Tôn Trung Sơn, “Chủ nghĩa Tam Dân” (CNTD), Nguyễn Như Điệm, Nguyễn Tú Trí dịch, Viện Thông tin Khoa học Xã hội 1995, tr.190<br />
2. John Stuart Mill, “On Liberty” (O.L), A Forum Book, New York, U.S.A, 1966, tr. 97 - 98.<br />
3. nt, tr.97<br />
4. Dương Quảng Hàm, “Việt Nam văn học sử yếu”, NXB Đồng Tháp 1993, tr.253<br />
5. Jean Pierre ZARADER, directeur de collection, “Les Grandes Notions de la Philosophie” (GNP), Ellipses édition Marketing S.A., 2001, tr.641.<br />
6. nt, tr.643<br />
7. F. Tomlin, “Les Grandes Philosophies de l’Occident” (GPO), Payot Paris 1951, tr.210<br />
8. Sđd (GNP), tr.264<br />
9. Compton’s Encyclopedia (Compton’s), U.S.A, 1069, cuốn 9, tr.442<br />
10. nt, tr.441<br />
11. nt<br />
12. nt, cuốn 5, tr.353b, cuốn 8, . 94<br />
13. Sđd (GNP), tr.642<br />
14. nt, tr.683<br />
15. nt, tr.642<br />
16. nt, tr.644<br />
17. Trần Thái Đỉnh, “Triết học Kant” (T. H. Kant), Văn Mới 1974, tr.109<br />
18. nt, tr.186<br />
19. Sđd (GNP), tr.680<br />
20. nt, tr. 654<br />
21. Sđd (O.L), tr.16<br />
22. nt, tr.94<br />
23. Sđd (GNP), tr. 662<br />
24. nt<br />
25. Sđd (GPO), tr.205<br />
26. Sđd (GNP), tr.680<br />
27. nt, tr.645<br />
28. nt, tr. 664<br />
29. nt, tr.650<br />
30. Sđd (T.H.Kant), tr. 243<br />
31. J.Donald Butler, “Four Philosophies” (FP), New York 1968, tr.162<br />
32. Lê Thành Trị, “Hiện tượng luận về hiện sinh” (HTLHS), Sài Gòn 1969, tr.51<br />
33. Sđd (GNP), tr.660<br />
34. Encyclopedia New Catholic (ENC), The Catholic University of America 1967, Cuốn A, tr.208<br />
35. Charles Werner, La Philosophie Moderne (PM), Payot Paris 1954, tr. 301<br />
36. Sđd (GNP), tr.661<br />
37. Alfred North White Head, “Bước đường phiêu lưu của những dòng tư tưởng” (BĐPLTT), Dịch giải: Nam Chi và Từ Huệ, Văn Đàn 1969, tr.140.<br />
38. Sđd (O.L), tr. 128 - 129<br />
39. Nhà văn Hoàng Tiến, Hiến chương liên hiệp quốc về nhân quyền tuyên bố phổ cập về quyền con người. Bản dịch: 25 - 4- 1957, chương I<br />
<br />
Nguồn:  Chungta.com</div>

 ]]></content:encoded>
			<category domain="http://www.x-cafevn.org/forum/forumdisplay.php?f=12"><![CDATA[Triết học & Tư tưởng]]></category>
			<dc:creator>bums</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=4759</guid>
		</item>
		<item>
			<title>THƯỢNG ĐẾ và VŨ TRỤ</title>
			<link>http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=4748&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Fri, 03 Sep 2010 03:26:02 GMT</pubDate>
			<description>Theo *LUẬT NHÂN QUẢ* của ĐẠO PHẬT: *CÁC PHÁP DO DUYÊN SINH*, mọi sự, mọi vật, sẽ sinh ra khi các điều kiện để sinh ra nó được hội đủ.   Cho nên không...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>Theo <b>LUẬT NHÂN QUẢ</b> của ĐẠO PHẬT: <b>CÁC PHÁP DO DUYÊN SINH</b>, mọi sự, mọi vật, sẽ sinh ra khi các điều kiện để sinh ra nó được hội đủ.   Cho nên không có cái gì do GOD sinh ra cả.  Tuy nhiên rất nhiều nhà bác học Tây Phương trước đây, ví dụ NEWTON lại tin rằng vũ trụ do THƯỢNG ĐẾ hình thành.  Nhưng gần đây thì các nhà vật lý nổi tiếng, ví dụ EINSTEIN tuy chưa có thái độ dứt khoát rõ ràng về THƯỢNG ĐẾ lại có những lời tuyên bố nghiêng về ĐẠO PHẬT về những vấn đề liên quan đến vũ trụ.<br />
<br />
BBC và VOA tuần này lại vừa thông báo: STEPHEN HAWKING, cha đẻ của BIGBANG, đã tuyên bố rằng Thượng Đế (Chúa Trời) không có chỗ đứng trong các học thuyết về sự hình thành Vũ trụ.  Vấn đề này sẽ được đưa ra trong cuốn sách &quot;<b>THE GRAND DESIGN</b>&quot; được viết cùng nhà vật lý học Hoa Kỳ, Leonard Mlodinow và sẽ ra mắt bạn đọc ngày 9/9 sắp đến.<br />
<br />
<img src="http://i53.tinypic.com/dfeely.jpg" border="0" alt="" /><br />
<br />
<a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/09/100902_godless_creation_hawking.shtml" target="_blank">http://www.bbc.co.uk/vietnamese/worl..._hawking.shtml</a><br />
<br />
<a href="http://www.voanews.com/vietnamese/news/britain-hawking-creation-9-2-10-102113589.html" target="_blank">http://www.voanews.com/vietnamese/ne...102113589.html</a><br />
<br />
Các bác có ý kiến thế nào về tư tưởng của ông HAWKING?</div>

 ]]></content:encoded>
			<category domain="http://www.x-cafevn.org/forum/forumdisplay.php?f=12"><![CDATA[Triết học & Tư tưởng]]></category>
			<dc:creator>AU LAC</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=4748</guid>
		</item>
		<item>
			<title>CON ĐƯỜNG VIỆT NAM - NHÓM TRẦN ĐÔNG CHẤN</title>
			<link>http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=4649&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Mon, 30 Aug 2010 07:50:24 GMT</pubDate>
			<description>*Chương mở đầu* 
 
 
Trước khi đặt bút, xin tự trong tâm khảm chân thật với chính mình, một lòng vì đất nước này, muốn chấn hưng đất Việt. Nguyện Tổ...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><b>Chương mở đầu</b><br />
<br />
<br />
Trước khi đặt bút, xin tự trong tâm khảm chân thật với chính mình, một lòng vì đất nước này, muốn chấn hưng đất Việt. Nguyện Tổ Tiên thấu được tâm can, thương con cháu Việt dùng những người viết làm một chiếc cầu đặt dưới chân cho muôn vàn người dân Việt được bước qua những gian nan trong hiện tại và trong tương lai sau này. <br />
<br />
 <br />
<br />
Trước khi đọc, xin người đọc thử tự hỏi mình, muốn gì cho đất nước này? Đã có nghe chăng những tiếng oán than trước quá nhiều điều vô lý và bất công giữa xã hội của chúng ta? Những khi như thế, chúng ta có nghe chăng hồn non nước đang gióng lên từng hồi trống đồng với những lời sông núi thúc giục một cuộc đổi thay cấp bách vì đất nước này không thể cứ tiếp tục suy vi như thế. Có lẽ chúng ta đều biết, trên chiếc trống đồng của chúng ta có chạm hình người chèo thuyền. Đó chính là Tổ Tiên muốn nhắc nhở chúng ta phải lèo lái con thuyền vận mệnh đất nước vững mạnh trong tiếng trống đồng oai hùng. Cái tinh thần đó nó nằm trong ngôn ngữ của chúng ta, trong di sản của Tổ Tiên để lại đã trở thành biểu tượng của dân tộc. Đó là di chúc từ ngàn năm trước để lại, và ngàn năm sau cũng sẽ như thế. Cái tinh thần mạnh mẽ oai hùng đó, chúng ta không thể nào quên mà phải giữ gìn để truyền lại cho con cháu chúng ta!    <br />
<br />
Là người dân Việt, chúng ta muốn gì cho đất nước Việt trong hiện tại và ở tương lai? Đứng trước thời đại mới toàn cầu hóa, chúng ta cần thành thật thừa nhận rằng đất nước Việt Nam đang ở trong tình trạng khó khăn và hỗn tạp mà đâu đó có con hổ đói lúc nào cũng rình rập. Nếu không muốn là miếng mồi ngon cho ác, chúng ta nên có chọn lựa nào để có thể phát triển dân tộc và đất nước, để xã hội đang trong cơn rối ren không bị sụp đổ làm cơ hội cho những toan tính muốn xâm chiếm khiến chúng ta mất chủ quyền đối với đất nước là vấn đề lớn của dân tộc cần phải giải quyết. <br />
<br />
 <br />
<br />
Nói đến việc phát triển đất nước và dân tộc, trước tiên phải trả lời cho mình được câu hỏi: Xuất phát điểm là đâu? Nếu không biết đặt viên đá đầu tiên ở đâu thì chẳng thể xây xong một căn nhà nhỏ huống gì là một thành lũy kiên cố để bảo vệ quốc gia và từ đó làm cho phát triển. Chữ phát triển tự nó đã mang ý nghĩa thay đổi. Nếu duy trì mãi những cái cũ thì không hề có thể gọi là có phát triển. Những gì không còn phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại mà cứ cố giữ mãi chẳng khác chi chiếc áo đã chật vẫn mang ra mặc thì khó tránh chuyện bị bung rách, thủng chỗ này chỗ kia vá víu mãi cũng chẳng xong vì cơ thể cứ lớn dần khiến bản thân người mặc chẳng thấy thoải mái lại làm trò cười cho thiên hạ.<br />
<br />
 <br />
<br />
Để tìm con đường mới, trước khi bắt đầu chúng ta cần phải chuẩn bị một tư tưởng cởi mở để tìm hiểu điều gì là hợp lý và cần thiết cho con đường phát triển dân tộc và đất nước.<br />
<br />
 <br />
<br />
Nhìn lại lịch sử hơn 4000 năm, người Việt Nam mãi chỉ là một dân tộc nô lệ dù đã có thể vùng vẫy bứt phá gông cùm trong một lúc nào đó nhưng rồi đâu cũng lại vào đấy; vẫn phải khuất phục và chịu lép vế trước ngoại bang. Chúng ta đã bao lần mạnh mẽ, oai hùng và hiên ngang dành lại quyền làm chủ đất nước – điều mà người Việt Nam vẫn thường tự hào, nhưng đó không thể nào giúp chúng ta vĩnh viễn thoát khỏi gông cùm nô lệ vì chúng ta không thật sự có bản lĩnh và có những yếu tố cần thiết để duy trì độc lập và giữ được chủ quyền toàn vẹn. Từ Bắc thuộc thứ nhất (111 trước dương lịch – 39 dương lịch) đến thứ hai (43-544) rồi thứ ba (602- 939), tiếp theo là chịu sự cai trị của người Pháp (1858-1945) Từ sau nội chiến kết thúc năm 1975, thời gian 35 năm qua đất nước vẫn chưa thực sự được độc lập và tự chủ để giờ đây chúng ta lại đang đối diện với một nguy cơ mới; ngoài khơi có hải đảo Trường Sa Hoàng Sa Trung Quốc chiếm giữ, trên núi có yếu địa Tây Nguyên Trung Quốc đang tự do tung hoành một cách hợp pháp không có sự đồng ý của người dân. Ngay trong lòng xã hội, ý thức hệ của dân tộc đang bị chia rẽ sâu sắc trong nhiều vấn đề cùng với nền kinh tế chưa được vận hành một cách có hiệu quả và tồn đọng quá nhiều những rủi ro bất cập. Trước mắt nền kinh tế của chúng ta đang bị chi phối bởi những nhà đầu tư nước ngoài mà người làm công lại chính là những người dân chúng ta. Đó có phải chăng là một hình thức nô lệ mới? Kỳ dư, chúng ta vẫn hàng ngày đối diện với quá nhiều bất công xã hội, phải chịu đựng những sự đàn áp vô lý và thiếu sự tự do thực sự của một người công dân. Nếu chúng ta chấp nhận như thế, điều gì sẽ xảy ra cho đất nước này? Sự im lặng của chúng ta có thật sự để cho chúng ta yên thân hay không? Chúng ta có sợ chăng bị mất chủ quyền và trở thành là khách trên chính quê hương của mình? Điều đó sẽ xảy ra với những nguy hiểm từ ngoài khơi đến trong đất liền ở các vùng biên giới. Nếu chúng ta có thể ngăn cản và giành lại hoàn toàn sự kiểm soát và chủ quyền cho dân tộc đối với lãnh thổ, lãnh hải mà không có một chính sách để ngăn ngừa nguy cơ ngoại xâm thì tương lai thế hệ sau của chúng ta lại sẽ phải đối diện. Thiết nghĩ thay vì cứ phải chống ngoại xâm tốt hơn hết là khiến ngoại bang không có ý đồ xâm chiếm chúng ta. Muốn như vậy, chúng ta cần phát triển đất nước và dân tộc cho được mạnh mẽ thật sự. <br />
<br />
 <br />
<br />
Tình trạng hiện tại đất nước của chúng ta là chưa theo kịp đà phát triển của thế giới. Nhân lực của chúng ta, những người có kiến thức về lãnh vực chuyên môn trong những công trình lớn hầu như đều vay mượn từ nước ngoài, chúng ta tìm cách tận hưởng những giá trị khoa học nhưng không có khả năng đào tạo nhân tài am tường khoa học kỹ thuật và gần như không có một phát minh nào đủ lớn tương ứng với tầm vóc của một dân tộc đông thứ 13 trên thế giới trong sự phát triển chung của nhân loại. Về tư tưởng chúng ta đứng giữa những giá trị cũ và mới,  có khi chẳng biết đối xử làm sao với những mâu thuẫn từ hai nền văn hóa Tây Đông. Bỏ cái cũ thì cảm thấy như bị cắt thịt da, tiếp nhận cái mới thì bị tự ái dân tộc cản trở. Thật sự nếu tiếp thu thì cũng phải chọn lọc cái nào thích hợp và không xâm hại hay làm đảo lộn xã hội. Chúng ta không thể nào là cái thùng rác thu gom tất cả, nhưng lại chẳng thể lưỡng lự mãi dậm chân tại chỗ để bị tụt hậu mà phải biết chọn lựa những cái hay mà phát triển cho dân tộc mình.<br />
<br />
 <br />
<br />
Song phát triển đất nước và dân tộc là mục tiêu không thể nào đạt được trong thời gian ngắn hạn. Chúng ta cần sự ổn định về chủ quyền quốc gia, những chính sách sáng suốt về kinh tế, chính trị, giáo dục v.v… song điểm xuất phát nó không nằm ở những điều này mà chính là từ “Tư Tưởng” trong  mỗi cá nhân người dân Việt. Để chuẩn bị cho tư tưởng cần nên có cho một đất nước phát triển và văn minh đúng nghĩa trước tiên chúng ta nên tìm hiểu và nhìn lại những tư tưởng mà xưa nay chúng ta vẫn cho là truyền thống của dân tộc.<br />
<br />
 <br />
<br />
Xã hội Việt Nam từ gia đình, học đường lên đến chính phủ; từ dưới lên trên hay từ trên xuống dưới là tràn ngập sự độc tài và áp đặt. Mỗi một cá nhân đều không có quyền tự chủ. Từ nhỏ đến khi lớn lên mọi việc đa số được cha mẹ xếp đặt, từ việc học cho đến lấy vợ lấy chồng; tư tưởng người Việt Nam còn suy nghĩ là cha mẹ có quyền đặt để. Hoặc nếu cha mẹ nào dễ dàng hơn thì có khi chính người con lại vì đã hấp thụ sự giáo dục là phải hiếu thảo và nghe lời nên muốn làm vui lòng cha mẹ. Thêm vào dư luận và sự lên án của xã hội đã làm cho chúng ta gần như không thể tự chủ. Trong gia đình thì như thế, ngoài xã hội cũng chẳng khác chi, lên đến phương diện quốc gia, chúng ta đa số cũng ngoan ngoãn chấp hành luật lệ được ban ra dù đôi lúc có thể hiện phần nào bất mãn mà những luật lệ đó chúng ta chẳng được dự phần ý kiến. Có lẽ nào chúng ta cứ chấp nhận bị làm chủ như thế cho đến hàng ngàn năm sau nữa???   <br />
<br />
 <br />
<br />
Mỗi cá nhân người dân Việt đã không có quyền làm chủ cho chính số phận và cuộc đời của mình và không có quyền ý kiến với những chính sách quốc gia thì làm sao có thể mạnh mẽ giữ được chủ quyền đối với đất nước? Làm sao có thể đưa dân tộc đến những thăng hoa của sự văn minh và phát triển??  Cái việc hô hào dân chủ hiện tại, nó không hề thực tế đối với chúng ta. Và nó cũng chẳng bao giờ được thực tế hóa nếu chúng ta chưa xóa bỏ những ý nghĩ chấp nhận bị làm chủ đã đè nặng trong tư tưởng của chúng ta từ hàng ngàn năm nay. Có thể làm chủ chính mình mới có thể có tự do, có tự do mới có văn minh. Tự do để sống như một thực thể không bị ràng buộc, không có sợ hãi, tự do để sáng tạo, tự do để đóng góp cho thế giới và loài người.<br />
<br />
 <br />
<br />
Lịch sử của chúng ta ghi rất là nhiều những chiến công của cha ông đánh thắng kẻ ngoại xâm, nhưng đánh thắng xong chúng ta không loại trừ những tư tưởng nô lệ đã xâm nhập vào xã hội chúng ta. Những gì chúng ta cứ ngỡ là truyền thống của mình như là một vài tư tưởng trong Nho Khổng đã dường như ăn sâu vào trong chúng ta. Xin thưa là không phải hoàn toàn như vậy. Trước khi người Hán xâm chiếm chúng ta và đem văn hóa Trung Quốc vào Việt Nam, người Việt không có truyền thống đó. Những tư tưởng muốn kiềm chế như là thần thì phải trung với quân vô điều kiện, con thì phải hiếu với cha mẹ bất chấp hậu quả như thế chúng ta không nên giữ nữa mà cần gạn lọc lại. Con tất nhiên là phải hiếu với cha mẹ vì mang nặng thâm ân sinh dưỡng, nhưng không có nghĩa là việc gì cũng do cha mẹ làm chủ và thậm chí có những cha mẹ đem tư tưởng này đè nặng lên người con không quan tâm đến cảm giác của người con mà người con lại phải cắn răng chịu đựng để được mang tiếng là hiếu trong thời gian trước đây. Như chúng ta đều biết đó chỉ tạo ra thêm bi kịch trong xã hội. Tư tưởng độc tài trong phạm vi gia đình này dẫu rằng đã không còn những biểu hiện rõ ràng trong đời sống hiện tại thì nó vẫn là tư tưởng người ta coi là truyền thống, nó cần bị chính thức loại bỏ.<br />
<br />
 <br />
<br />
Làm cha mẹ, chỉ cần con mình không làm ác, không phạm pháp giết người cướp của, trộm cắp v.v…thì đều nên ủng hộ những sở thích và chọn lựa của con mình. Bổn phận của cha mẹ là hướng dẫn, và ý kiến, phân giải để cho con cái suy nghĩ nhưng quyền quyết định cuối cùng cũng phải nên để cho con cái được quyết định và quyết định đó cần phải được tôn trọng. Sự nghe lời cha mẹ nằm trong phạm vi “Hiếu” cần giới hạn từ tuổi nào đến tuổi nào. Cái tư tưởng về hiếu cực đoan này nó chỉ khiến thân thuộc làm khổ nhau, dằng vặc nhau mà thôi!<br />
<br />
 <br />
<br />
Khi nói dân thì phải trung với vua vì vua là con trời (thiên tử), Đó là lý luận được đặt ra để lừa gạt người dân trung thành. Tư tưởng đó đã lỗi thời song di tật trong chúng ta dường như vẫn còn. Chúng ta vẫn nghĩ phải trung thành với những người cai trị đất nước dù cho họ có nhiều sai lầm. Chúng ta hay đưa ra những lý do như là họ đã có công với đất nước trước đây mà không nghĩ là có công không có nghĩa là họ có thể cai trị dân tộc từ thế hệ này qua thế hệ khác.  Chúng ta phải biết đặt điều kiện cho sự hiếu thảo và trung thành của chúng ta chứ không thể nào cực đoan và mù quáng.  <br />
<br />
Chính vì tư tưởng này bị đưa vào trong nền giáo dục khi xưa ấy đã ảnh hưởng đến sự phát triển của dân tộc và đất nước chúng ta. Hãy đem cái tư tưởng nô lệ căn tính đó trả về lại cho người Hán chỉ gạn lọc giữ lại những gì còn phù hợp với chúng ta. Nếu như sự tự chủ của chúng ta không làm tổn hại đến lợi ích của ai hay vi phạm pháp luật cũng như là đi ngược với tính thiện căn bản của con người thì nên được quyền tự chủ và khuyến khích tự chủ.    <br />
<br />
  <br />
<br />
Mỗi người dân có thể làm chủ mình, được làm chủ chung đối với đường lối cai trị đất nước thì đất nước sẽ có dân chủ đúng nghĩa. Quốc gia sẽ có chủ quyền lâu dài. Vì căn bản cho sự vững mạnh, độc lập đã ở nơi mỗi người dân thì vận mệnh đất nước do những người có tự chủ, mạnh mẽ tất nhiên sẽ được hùng mạnh lâu dài.<br />
<br />
 <br />
<br />
Dù rằng kinh tế và chính trị là hai lãnh vực trước mắt rất cấp bách cần có nhiều đường lối mới để giải quyết, nhưng căn bản cho một nền kinh tế chính trị vững mạnh chính là ở nơi tư tưởng của người dân và quyền tự do của người dân mà trong đó có cái tự do mà không cần lòn cúi. Những phương pháp giải quyết các vấn đề quốc gia chúng ta không có quyền can thiệp và ý kiến của chúng ta bị coi như tiếng khóc trẻ thơ chỉ cần bị doạ dùng bạo lực là nín thin thít hoặc cho vài viên kẹo thì không những ngậm miệng lại mà còn cười thoả mãn. Chúng ta im lặng là tự coi thường mình và để bị coi thường một cách quá đáng. Và như vậy có nghĩa là chúng ta có cái đầu nhưng không thể sử dụng và bỏ quên giá trị của nó. Vì thế đất nước của chúng ta không được phát triển để dù là một dân tộc với mấy ngàn năm lịch sử vẫn đi sau rất nhiều quốc gia trên thế giới chỉ vì thiếu tự do.     <br />
<br />
 <br />
<br />
Nói về vị thế của Việt Nam, trên thế giới chúng ta là điểm giao thoa giữa Đông và Tây trước thời đại toàn cầu hóa. Vị thế ấy ngầm nói cho chúng ta biết nếu khôn ngoan thì đất nước có thể phát triển trở thành một vườn hoa muôn màu muôn sắc kết hợp các nền văn hóa văn minh mà vẫn giữ không để mất bản sắc dân tộc với điều kiện là chúng ta phải hoàn toàn làm chủ được đất nước của mình xây dựng từ sự làm chủ bản thân.  <br />
<br />
 <br />
<br />
Con Đường của Việt Nam nên đi để giữ gìn và phát triển đất nước là phải làm chủ lấy tất cả. Xác định lại tư tưởng và trách nhiệm với tổ quốc, gạn lọc và bỏ đi những gì không còn phù hợp, đặt lại nền tảng xã hội từ những tinh hoa bản sắc dân tộc đồng thời thuận với đạo đức và bản tính thiện của con người.<br />
<br />
 <br />
<br />
Cũng như người xếp gọn lại tủ quần áo, liệng bỏ những thứ không cần tới thì mới có thể bỏ ngăn nắp những chiếc áo mới vào, nếu không sắp xếp gọn gàng, chiếc áo mới cũng sẽ bị quăng vào nằm ngổn ngang với mớ quần áo cũ. Muốn tiếp nhận giá trị mới và có thể sử dụng hay tận dụng lợi ích giá trị của nó cần phải thu dọn và gạn lọc những giá trị cũ mà xã hội chúng ta đang rối bời giữa các những giá trị mới cũ. Dù muộn, chúng ta cũng không thể chần chừ được nữa…<br />
<br />
 <br />
<br />
Đứng trên phương diện thế giới, khi cùng chung sống trên một quả địa cầu, chúng ta cũng có trách nhiệm đóng góp vào việc duy trì nền hòa bình và ổn định của thế giới. Về chính trị chúng ta nên chủ trương sống ôn hòa với những láng giềng tốt, tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của nhau, đối với những láng giềng xấu chúng ta phải biết tự vệ một cách hữu hiệu và đem điều tốt ảnh hưởng họ. Tham lam và muốn tranh dành chủ quyền đối với những gì vốn chẳng thuộc về mình là một trong những nguyên nhân gây ra thù hận làm nên chiến tranh hay tranh chấp giữa các nước, đối với láng giềng như thế chúng ta phải biết tỏ thái độ rõ ràng. Và quan trọng nữa là chính chúng ta phải bỏ đi lòng căm thù đối với tất cả quốc gia. Đối xử công bằng và không thành kiến. Sống hiền thiện với trí sáng suốt. Không cứ gần thì chúng ta phải thân và sợ hay thân vì sợ. Chúng ta cần phải xây dựng đất nước mạnh mẽ để không phải sợ ai, tất cả là vì lợi ích chung của dân tộc mà không có hại cho thế giới. Chúng ta hãy như là những con voi trong rừng già, cô đơn vẫn mạnh mẽ, mà hòa hợp vẫn mạnh mẽ.  <br />
<br />
 <br />
<br />
Cuốn sách này sẽ bắt đầu bằng sự trở về cội nguồn tìm lại tinh hoa cũ và xác định bản sắc dân tộc là bước đầu tiên chúng ta cần phải làm. Những giá trị nào làm nên bản sắc dân tộc, những giá trị nào góp phần làm xấu hình ảnh dân tộc, sẽ giừ gìn và bỏ đi những gì sẽ được trình bày ở chương một.Thứ đến là chương về giáo dục. Vì giáo dục là nền tảng xã hội, muốn đất nước hồi sinh không thể không chỉnh đốn lại nền giáo dục. Và tuần tự là những chương về chính trị kinh tế, tôn giáo và phần phụ lục gồm những bài viết của anh Trần Huỳnh Duy Thức.<br />
<br />
 <br />
<br />
Tất cả các lãnh vực, tất nhiên không thể nói hết trong một cuốn sách vài trăm trang. Con Đường Việt Nam là xác định lại vị thế của đất nước mình. Để phát triển dân tộc và đất nước đúng theo vị thế đó chúng ta cần có những tư duy như thế nào và biện pháp ra sao ở mức độ căn bản đặt trên mục tiêu phát triển đất nước và dân tộc.  <br />
<br />
   <br />
<br />
Xin nhắc nhở nơi đây, Con Đường Việt Nam, bất cứ là người dân Việt nào nếu thấy đây đúng là con đường Việt Nam cần phải đi, dù là ai, theo chủ nghĩa nào cũng không phân biệt. Con Đường Việt Nam là con đường hòa giải và hoà hợp dân tộc, chứ không phải con đường đào cái hố ngăn cách thêm sâu. Tất cả ý thức hệ đã làm chia rẽ người Việt Nam đều cần xóa bỏ. Điều duy nhất cần ý thức chính là dân tộc phải đoàn kết, cùng chọn ra một hướng đi cho đất nước trên tinh thần của kẻ muốn điều hay, điều chân thật, điều thiện và mạnh mẽ.   <br />
<br />
 <br />
<br />
Trước khi cùng nhau bước trên con đường này, chúng ta cần trở lại cội nguồn tìm lại tinh hoa cũ, lấy đó làm nền tảng và hành trang cho cuộc hành trình của mình. Cũng như là thưa lên với  Tổ Tiên, xin với hồn thiêng sông núi lúc nào cũng ở bên ủng hộ con cháu Lạc Hồng. Chiếc trống đồng biểu tượng của dân tộc chúng ta, từ mấy ngàn năm vẫn còn tìm lại được, chúng ta đừng nên để trống còn mà dân tộc mất. Đứng ở vị trí hiện tại chúng ta hãy thử tự hỏi mình, dân tộc Việt lại quá đỗi tầm thường đến thế sao? Hãy tự hỏi mình muốn gì ở tương lai? Xin vì chính mình, vì giòng dõi Lạc Hồng, vì sông núi này hãy thoát khỏi tư tưởng nô lệ, gầm rống những tiếng mạnh mẽ để biết rằng dòng máu biết liêm sỉ trong dân tộc Việt vẫn còn đó chưa hề phai, và dân tộc Việt có đủ tài hay dù không đủ tài cũng phải cố gắng để chấn hưng lại sự nghiệp của cha ông. Hãy là đại bàng muốn vươn đến trời xanh, đừng làm loài se sẻ chỉ muốn bay đến ngọn trúc. Hãy trở về với cái thật sự là dân tộc Việt, trả những tư tưởng ẩn chứa bên trong điều bất thiện muốn thôn tính lân bang. Hãy cùng nhau bứt phá xiềng xích, hãy cùng nhau vẫy vùng cho thỏa chí Việt đã phải đè nén bao lăm, cho Tổ Tiên mỉm cười hài lòng, cho đất nước này có ngày mai! Nên lắm chứ! Từng hồi trống đồng đang thúc giục chúng ta…<br />
<br />
 <br />
<br />
Bản PDF Chương Mở Đầu tại đây:<br />
<a href="http://rapidshare.com/files/409387469/CDVN.pdf" target="_blank">http://rapidshare.com/files/409387469/CDVN.pdf</a><br />
<br />
hoặc :<br />
<br />
<a href="http://www.mediafire.com/?wkikuyb2a5zg0g5" target="_blank">http://www.mediafire.com/?wkikuyb2a5zg0g5</a></div>

 ]]></content:encoded>
			<category domain="http://www.x-cafevn.org/forum/forumdisplay.php?f=12"><![CDATA[Triết học & Tư tưởng]]></category>
			<dc:creator>anhlong_daica</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=4649</guid>
		</item>
	</channel>
</rss>
