Archive - 2005
Tôi làm cách mạng trên 56 năm, gia đình tôi có 2 liệt sĩ: Nguyễn Văn Đảo (anh ruột) - Đại tá quân đội nhân dân Việt Nam - hy sinh ngày 09/01/66 trong trận ném bom tấn công đầu tiên của quân xâm lược Mỹ vào Việt Nam (vào Cũ Chi); Trần Thị Thiệt (vợ tôi) - cán bộ phụ nữ Sài Gòn - bị bắt và bị đánh chết tại Tổng Nha Cảnh Sát hồi tết Mậu Thân (1968), nhưng phải thú nhận rằng, chúng tôi đã chọn sai lý tưởng: cộng sản chủ nghĩa. Bởi vì suốt hơn 60 năm trên con đường cách mạng cộng sản ấy, nhân dân Việt Nam đã chịu sự hy sinh quá lớn lao, nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn, lạc hậu, nhân dân không có ấm no hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Đó là điều sỉ nhục.
Thời thơ ấu của mình có lẽ là thiên đường tuổi trẻ vì ông già là sĩ quan cao cấp đi du học ở nước ngoài như đi chợ. Các chú đều là lính và là sĩ quan của chế độ VNCH. Còn me thì làm tiểu thương buôn bán cho nên từ tỉnh lẻ lên nhà ngỏ hẻm trong thành phố, từ nhà trong hẻm, lên nhà lầu, và từ nhà lầu lên nhà mặt tiền lầu 3 tầng. Kỷ niệm ấu thơ thì chẳng có gì đặc biệt vì mình học cũng tàn tàn không có gì xuất sắc. Có thi vào các trường tư nhưng bị rớt đều đều cuối cùng thì học ở 1 trường nam ngay cạnh chợ Tân Định bây giờ là Nguyễn Thái Sơn thì phải. Mình vẫn còn nhớ lớp 1 bị ông thầy đập cho mấy roi vào lưng và lớp 2 thì bị cô giáo bắt quỳ gối vì không thuộc cửu chương 2... cho mãi tới lớp 3 tự nhiên học vượt lên đứng nhất lớp. Cuộc sống lúc đó thoải mái lắm... vì lâu lâu thì ông già dùng xe jeep quân đội chở đi Vũng Tàu nghỉ mát hay đi về quê thăm bà con. Có lần ông ấy hăng lên chở mình ra ngay sông Đồng Nai, cầm tay mình trong tay ông ấy, nhấn cò và khẩu súng nhả đạn đùng đùng xuống sông cho lên tinh thần đàn ông 1 chút chắc có lẽ hồi nhỏ mình hay mít ướt giống con gái... Mình nhớ nhất hồi đó mình thích nhất là đọc truyền tranh Xì-trum, Tintin, Phan tân, Sĩ phú và Lucky-lucke.
Tôi sinh ra trong một gia đình cũng không khá giả gì, nếu phải nói là nghèo, một hoàn cảnh rất thường thấy vào năm 1984, dù là mới bắt đầu đổi mới. Tuổi thơ tôi thì cũng y như những đứa trẻ khác thời đó, có rất ít sự can thiệp của bố mẹ, chẳng hạn như bố mẹ tôi chẳng bao giờ lo lắng tự hỏi xem tôi đang ở đâu, hay thắc mắc xem nó đang học như thế nào cả. Chổ này đừng hiểu nhầm, họ vẩn thương, nhưng có lẻ cuộc sống lo toan nhiều thứ quá nên đôi khi cũng lơ là con mình.
Đường phố, các con hẻm, những khu phố, những buổi đá banh chảy máu chân, đánh nhau, rồi đi khắp nơi phá phách... Hồi nhỏ tôi y như vậy đấy, chẳng phải là 1 cậu ấm cô chiêu nào cả.
Trong một hội trường chật chội và oi bức, cái "Lễ trao giải học sinh giỏi QG" diễn ra tẻ nhạt. Ngoài trời mưa rả rích cũng không xoa dịu được cái nóng hầm hập bên trong hội trường đầy mùi mồ hôi xen lẫn mùi nước hoa sực nức của ai đó - mà chả ai thèm quan tâm ai đó là ai đâu.
Có vài vị lãnh đạo lên phát biểu. Cũng những câu cũ rích "Các cháu cố gắng học để sánh vai các nước trong khu vực". Đã nửa thế kỷ qua, những lời thuyết giáo đó vẫn vậy. Có khác chăng là thay "cường quốc thế giới" bằng "các nước trong khu vực". Các bác ấy bớt mơ mộng hão huyền rồi a.
Tôi là một người nước Việt Nam, lẽ nào lòng tôi lại không rung động theo với dịp rung động của những người ái quốc trong nước? Nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, lòng người ly tán, nhiều người lại muốn lợi dụng cái tiếng ái quốc để làm cái mối tư lợi cho mình, vì vậy mà tôi chán nản không dự vào đảng phái nào cả, mà cũng không hành động về phương diện chính trị. Ngoài những lúc làm những công việc hàng ngày phải làm, khi rỗi rãi gặp những bạn thân, nói đến chuyện thiên hạ sự và việc nước nhà, thì tôi cũng nói chuyện phiếm và mong cho nước nhà chóng được giải phóng.
Thường tôi gặp người Pháp, tôi cũng nói thẳng rằng: nếu trong cái hoàn cảnh này, người Pháp hiểu rõ tình thế mà buông tha chúng tôi ra thì không những là nước Pháp không thiệt thòi gì mấy về đường kinh tế, mà về đường văn hóa và thực tế lại có phần lợi vì đã làm một cái ơn lớn cho cả một dân tộc. Mà thực tế nếu được như vậy thì dân Việt Nam không bao giờ quên được cái ơn ấy, mà vui lòng hợp tác với nước Pháp. Song đó là một cái mộng tưởng không thê có ở trong đời này, là đời đầy những sự tham, sân, si, cho nên nhân loại đã phải chịu bao nhiêu nỗi đau buồn khổ não. Mà còn phải chịu không biết đến bao giờ mới thôi!
Hiểu một cách nôm na thông thường thì quyền lập hiến là quyền làm hiến pháp, như đã được ngụ ý trong từ hán việt “lập hiến”. Nhưng nội dung của thành ngữ làm hiến pháp bao gồm nhiều thành tố cần được lý giải thì mới hiểu đuợc thế nào là làm hiến pháp. Về điểm này, ta phải gõ cửa môn học luật hiến pháp. Giáo sư Georges Vedel, trong giáo trình về luật hiến pháp ông giảng dạy trong những năm 40 của thế kỷ trước đã nói rằng quyền lập hiến là một “thẩm quyền đặc biệt” (une compétence spéciale) để làm và sửa đổi hiến pháp. Khi nó được thi triển để làm hiến pháp, quyền này là một biểu hiện của chủ quyền quốc gia, cho nên nó là một quyền “nguyên thủy” (originaire). Vì là nguyên thủy nên về mặt pháp lý, nó không thể bị hạn chế trong hành động bởi bất cứ quyền nào khác. Tuy nhiên, không phải vì thế mà những người lập hiến muốn làm gì thì làm. Vì nước nào cũng có một vài nguyên tắc, hoặc có tính tục lệ hoặc là siêu-hiến-pháp (supra- constitutionnel) mà quyền lập hiến phải tôn trọng. Nhưng ràng buộc này không có tính quy phạm pháp lý, mà là truyền thống văn hóa thuộc di sản tinh thần của một tập thể. Hiện tượng nói trên cho thấy rằng quyền lập hiến còn là môt quyền chính trị nữa. Cho nên luật hiến pháp của những năm 2000 không còn coi quyền lập hiến là một thẩm quyền như nửa thế kỷ trước đây, mà là một “quyền lực” hay “quyền uy” (une autorité). Thuật ngữ luật học tiếng Việt, khi dich chữ “autorité” như vậy, khó phát hiện đủ sự khác biệt giữa chữ này với chữ “compétence” (thẩm quyền). Phải quy chiếu vào hai chữ la tinh auctoritas và potestas , mới rõ được những nghĩa riêng của mỗi chữ. Thẩm quyền (compétence) là tất cả những quyền và nghĩa vụ được giao phó và bắt buộc phải tuân theo - trong khuôn khổ một chức vụ - cho một cá nhân hay cơ quan, để làm một hay nhỉều công việc nhất định. Thẩm quyền như vậy là một chức quyền (potestas) nghĩa là một quyền vì chức vụ mà có. Còn autorité (auctoritas), dịch một cách mơ hồ là quyền lực, quyền uy, thì cao và rộng hơn compétence (thẩm quyền) vì ngoài thành tố “chức vụ” nó còn có thêm những thành tố “tín nhiệm, kính phục” nữa. Gọi quyền lập hiến là một quyền lực, quyền uy hàm ý nhấn mạnh trên mặt chính trị của nó vì làm hiến pháp là gì nếu không phải là xây dựng một hệ thống chính trị và thiết lập một chính quyền để cai trị? Nói cách khác, biểu văn mới của luật hiến pháp đã bổ sung cho biểu văn cũ để định nghĩa quyền lập hiến là một quyền có bản chất vừa pháp lý vừa chính trị. Do đó, nó đích thực là một quyền nguyên thủy.
Quyền lập hiến (pouvoir constituant, constituent power) đã đột xuất ở phương Tây cách đây hơn hai thế kỷ, vào thời điểm hai cuộc cách mạng nhân quyền, dân quyền nổ ra tại Mỹ và Pháp. Nhưng đối với người Việt Nam, suốt cả phần sau thế kỷ vừa qua, thì nó không hề được bàn tới. Người Việt Nam chỉ chú trọng tới hiến pháp và coi quyền lập hiến như một chi tiết nhỏ của hiến pháp. Ðiều đã không được tìm hiểu để được nêu lên và bàn luận là chính vì sụ thiếu hụt này mà dân chủ cho đến nay vẫn còn vắng thiếu ở Việt Nam. Làm sao có được dân chủ khi mà quyền lập hiến bị lạm dụng, thậm chí trắng trợn sang đoạt?
Theo dõi Singapore kỷ niệm 40 năm lập quốc, không nghe thấy ai nhắc tới hai tiếng anh hùng. Thủ tướng Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long, con Lý Quang Diệu), trong cuộc
nói chuyện lâu hai tiếng rưỡi,
[1] không có lần nào ông trực tiếp hay gián tiếp nhắc tới công nghiệp của bố Lý, cũng không hề đả động gần xa tới Đảng Nhân dân Hành động, là đảng cầm quyền từ năm 1959. Trong khi ấy, Chủ tịch Trần Đức Lương của Việt Nam, trong bài
diễn văn quốc khánh, đã hãnh diện: “Tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, tư tưởng và cuộc đời vẹn toàn của người mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, là kho tàng vô giá của dân tộc ta cho hôm nay và cho cả mai sau. Sự cộng hưởng vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh, sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng Sản Việt Nam...”
Giao thông ngày nay đã trở nên thuận tiện đến mức, một khi làn gió văn minh phương Tây thổi sang phương Đông, mọi cành cây ngọn cỏ ở phương Đông đều phải ngả theo. Người phương Tây từ thời cổ kim tới nay đều cùng dòng giống và họ chẳng khác nhau mấy. Chỉ có điều người phương Tây ngày xưa di chuyển chậm chạp, còn những người phương Tây đương thời di chuyển hoạt bát và nhanh chóng hơn nhiều. Đó là vì người phương Tây ngày nay biết cách tận dụng thế mạnh của các phương tiện giao thông sẵn có. Đối với chúng ta, những người sống ở phương Đông, trừ phi chúng ta muốn ngăn cản xu thế văn minh phương Tây với quyết tâm không thay đổi, cách tốt nhất là chúng ta hãy làm như họ. Nếu quan sát kỹ lưỡng tình hình thế giới hiện nay, chúng ta sẽ nhận thấy được rằng không ai có thể chống lại sự tấn công dữ dội của văn minh phương Tây. Vậy tại sao chúng ta không cùng họ nổi trên biển văn minh ấy, cùng cưỡi ngọn sóng văn minh và cùng tận hưởng thành quả của nền văn minh?